Chùa Cầu Đông
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
- Miễn phí
Giới thiệu
Di tích chùa Cầu Đông hiện nay ở số 38B phố Hàng Đường, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Xưa, phố Hàng Đường thuộc địa phận của hai thôn Vĩnh Thái (đoạn đầu phố) và Đông Hoa Nội Tự (đoạn cuối phố), tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương. Đến giữa thể ký XIX, thôn Vĩnh Thái đổi tên thành Vĩnh Hanh, còn thôn Đông Hoa Nội Tự hợp nhất với thôn Đông Hoa Môn và Hậu Đông Hoa thành thôn Đức Môn, tổng Đồng Xuân, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức. Dấu vết của các thôn xóm cũ này là các ngôi đình, chùa còn sót lại đến nay như đình Vĩnh Hạnh, chùa Cầu Đông và đình Đức Môn.
Theo nguồn thư tịch cổ thì, xưa kia phố Hàng Đường là nơi chuyên buôn bán các mặt hàng đường, mứt, kẹo vì thế phố mới có tên là Hàng Đường. Sự hình thành tên đường phố như vậy không chỉ diễn ra ở phố Hàng Đường mà còn diễn ra ở hầu hết các phường phố cổ ở Hà Nội.
Trong tiềm thức người Hà Nội, phố Hàng Đường còn được gắn với chùa Cầu Đông bởi câu ca dao
"Cầu Đông vẳng tiếng chuông chùa
Trăng soi giá nến, gió lùa khói hương
Mặt ngoài có phố Hàng Đường... "
Chùa Cầu Đông còn gọi là chùa Đông Môn, tên gọi này đường như được xuất phát từ hai dấu vết địa danh cổ mà sử sách còn ghi chép lại cho đến ngày nay, đó là "Cầu Đông"- chiếc cầu đá bắc qua sông Tô Lịch và "Cửa Đông" - cửa mở ra tường thành, mặt đông của hoàng thành Thăng Long. Có lẽ, người xưa đặt tên cho chùa như vậy là để dễ dàng nhận biết, phân biệt được chùa Câu Đông với những ngôi chùa cổ đã liệt vào hàng danh lam cổ tích nằm trên mảnh đất Thăng Long đô hội này.
Về chiếc cầu đá này, sách "Đường phố Hà Nội" đã viết: “…Để đi qua khúc sông Tô, ở chỗ Hàng Đường này có một cái cầu đá, gọi là Cầu Đông (câu của thôn Đông Hoa Môn). Tương truyền ở đầu cầu có một tượng Phật đặt trên bệ lộ thiên. Tượng bằng đá, ngồi xếp băng tròn, miệng tủm tỉm cười nên có tên là Tiếu Phật, tức là Phật Cười. Nhà thơ Ngô Ngọc Du sống thời Tây Sơn có bài Tiếu Phật hành, trong đó có câu:
Ôi lỗi trường trung bách thái sinh
Ngã phật từ bi diệc phát tiếu.
Nghĩa là:
Trò đời giở hết trăm màu vẻ
Đức Phật từ bi cũng bật cười.
Sau khi sông Tô bị lấp, tượng cũng bị thất lạc. Bên cạnh Cầu Đông là chợ Cầu Đông nổi tiếng một thời. Chợ này đã từng đi vào ca dao: "Bà già đi chợ Cầu Đông..."
Còn sách "Tìm lại dấu vết thành Thăng Long" thì cho biết thêm: ". ... Chợ Đông có từ thời Lý. Chợ họp bên cầu Đông nên gọi là chợ Cầu Đông. Cầu bên chợ, nên cũng gọi là Cầu Chợ Đông... Cầu Chợ Đông (Cầu Đông) ở vào ngã tư phố Hàng Đường với phố Ngõ Gạch và phố Hàng Cá, xưa bắc qua sông Tô Lịch. Chứng tích của chiếc cầu này nay còn trên thực địa là chùa Cầu Đông ở phía trong số nhà 38B Hàng Đường".
Đồng thời, tấm bia đá có tiêu đề "Đông Môn tự ký" (Bài ký vẻ chùa Đồng Môn), được tạo tác vào năm Vĩnh Tộ 6 (1624) cũng viết. "Chùa Đông Môn là nơi danh lam cổ tích, cảnh dẹp rõ rằng. Song Nhị Hà chầu phía trước, muộn ngàn dòng nhánh cổ àng mênh mông, thành Thăng Long nằm phục phía sau ... Tấm bia còn ghi rõ vị trí thửa ruộng mà vị sư trụ trì ngôi chùa lúc đó là Đạo Án dùng vào việc mở mang ngôi chùa như sau: "Bốn phía thửa ruộng ấy: trên giáp cầu đá, dưới giáp phường Diên Hưng, phía trước giáp đường cái, phía sau giáp Đông Ngục".
Nhân đấy, sách "Tìm lại dấu vết Thăng Long" đã nhận định: "Đoạn văn bia trên cho biết, thành Thăng Long nằm phía sau chùa và địa điểm chùa hiện nay chính là thửa ruộng chép trong bia mà phía trên là "cầu đá" tức cầu Đông, phía trước là đường cái nay là phố Hàng Đường, phía trước giáp phường Diên Hưng tức phố Hàng Ngang, phía sau là "Đông Ngục" nay có thể là khu nhà dân sau chùa trông ra phố Chả Cá. Nếu ngục này nằm sát tường thành (phía bên trái) thì bức tường thành phía đông còn lùi về sau phố Chả Cá"
Cùng với tư liệu văn bia trên, quả chuông đồng của chùa được đúc năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800) cũng ghi rõ: "Duy có chùa cổ, cầu đá phía đông, sông Tô chảy bên trái, cửa Hoa bên phải..." . Theo tư liệu này thì cửa Hoa (tức cửa Đông thành) nằm ở bên phải của chùa. Như vậy, chùa Cầu Đông đã trở thành một dấu tích lịch sử quan trọng, thành nguồn sử liệu vô cùng quý giá cho biết địa thế nơi chùa tọa lạc, giúp cho các nhà nghiên cứu Thăng Long, xác định phần nào diện mạo miền đất phía đông của kinh thành.
Chùa Cầu Đông khởi dựng từ khi nào, đến nay chưa được rõ. Tuy nhiên, việc trùng tu và sửa chữa của ngôi chùa, kể từ triều đại nhà Lê đến nhà Nguyễn, đều được tư liệu của chùa ghi lại cụ thể, rõ ràng. Khảo cứu các tấm bia đá cổ hiện để tại chùa, chúng ta được biết: chùa Cầu Đông được sửa chữa nhiều lần, song lớn nhất và có mở rộng thêm, là vào năm Vĩnh Tộ 6 (1624), năm Dương Hòa thứ 5 (1639), năm Vĩnh Thịnh 8 (1712), năm Gia Long thứ 16 (1817). Từ lần sửa chữa này, quy mô kiến trúc chính của ngôi chùa gần như được giữ lại nguyên vẹn đến ngày nay.
Chùa Cầu Đông có bố cục mặt bằng hình chữ "Công", gồm 5 gian tiền đường và 3 gian ống muống nối liền với 3 gian nhà phía trong để hình thành nên không gian nhà tam bảo. Xung quanh còn có các công trình kiến trúc phụ cận như: phía trước chùa chính là tam quan nằm sát với hè phố Hàng Đường, phía sau là một sân nhỏ dần tới nhà Mẫu, nhà Tổ. Bên phải là nhà ngang, bên trái là đình Đức Môn.
Trang trí trong kiến trúc được tập trung chủ yếu trên hai chiếc đầu dư, hai bức cốn mê của bộ vì kèo tiếp giáp gian giữa tòa tiền đường và tòa ống muống với các chủ đề truyền thống quen thuộc: hình đầu rồng, mặt hổ phù, chủ đề tứ linh (long, lý, quy, phượng) được đan xen trên hình vân mây, cỏ cây, sóng nước. Điều đáng nói ở đây là người nghệ nhân xưa đã kết hợp phương pháp chạm nối, chạm bong, chạm lộng (lối chạm xuyên qua gỗ) để tạo nên một khối ken dày những họa tiết trang trí. Nhìn chung, đây là những mảng chạm đẹp, công phu, cầu kỳ, nét chạm thuần hòa, tinh xảo, phảng phất sự kế thừa dòng nghệ thuật chạm khắc của thế kỷ XVII - XVIII.
Chùa Cầu Đông thờ Phật theo dòng Tào Động, là một trong năm thiền phái của Phật giáo Việt Nam. So với các ngôi chùa trên địa bàn Hà Nội, tượng của chùa Cầu Đông tương đối nhiều, gần 60 pho tượng tròn. Cổ vật quan trọng nhất của chùa là ba pho tượng Tam Thế, thể hiện ở ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Cả ba pho đều được tạo tác vào nửa đầu thế kỷ XVIII, hình thức gần giống nhau.Đay là 3 pho tượng đẹp, quý hiếm, đạt giá trị nghệ thuật cao, được thể hiện các nết trang trí như vòng đeo cổ (anh lạc) khuôn mặt nữ, mang đầy đủ quy chuẩn của tượng phật thế kỷ XVII-XVIII ở nước ta.
Trong thập điện còn có pho tượng Tuyết Sơn, nết điêu khác đẹp, tinh tế, gán gũi với tượng Tuyết Sơn của chùa Tây Phương (Thạch Thất - Hà Tây), chùa Bà Nành (Gia Lâm - Hà Nội). Đây là loại tượng quý hiếm trong nghệ thuật tạo tác của người Việt.
Nhiều pho tượng khác như: tượng Di Lặc, Quan âm Thiên thủ Thiên nhỡn, các pho tượng Mẫu... cũng được sự quan tâm của nhiều khách tham quan. Điều bất ngờ là tại nơi thờ Phật ở chùa Cầu Đông, chúng ta còn bắt gặp một ban thờ có tượng Thái sư Trần Thủ Độ và vợ là Trần Thị Dung - những người có công lớn ở đầu triều Trần.
Với nhiều giá trị lịch sử và kiến trúc nghệ thuật, chùa Cầu Đông đã được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định xếp hạng số 1570/ QĐ -VH ngày 5/9/1989. Đây chắc chắn sẽ là điểm du lịch hấp dẫn, neo chân nhiều khách tham quan khi đến với phố cổ Hà Nội.