Khu di tích lịch sử văn hóa Đền Sái, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
- Miễn phí
Giới thiệu
Độc nhất vô nhị ở Hà Nội: Lễ hội rước "Vua giả" có một không hai tại Đền SáiI. TÊN
GỌI
Cụm di tích đền Sái gồm: Đền Sái, đền Thượng,
chùa Sái là tên thường gọi của cụm di tích theo địa danh núi Sái, thuộc thôn
Thụy Lôi, xã Thư Lâm. Tên chữ là "Huyền Thiên đại quán", hay
"Chân linh quán". Một số tên gọi khác ở địa phương theo địa danh thôn
là đền Thụy Lôi, tên Nôm là làng Nhội, chùa Sái có tên chữ là "Sái Sơn
tự".
II.
ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ - ĐƯỜNG ĐI ĐẾN DI TÍCH
1. Địa điểm phân bố
a. Trước đây
Trước đây tên địa danh thôn
là Ma Lôi, sau đổi thành Xuân Lôi, sau đó lại đổi là Thụy Lôi. Theo sách Tên
làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, xã Xuân Lôi thuộc tổng Phương La, huyện Yên
Phong, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đầu thế kỷ 20, Xuân Lôi thuộc tổng Thư Lâm,
huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, sau đổi thành huyện Đông Anh, tỉnh
Phúc Yên. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Thụy Lâm là một xã thuộc tổng
Xuân Nộn, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. Sau năm 1945 đặt làm xã mới gọi là xã
Đức Hợp, năm 1949 đổi gọi là xã Tiến Bộ, thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên
(năm 1950 là Vĩnh Phúc). Năm 1950 tỉnh Phúc Yên đổi là Vĩnh Phúc. Năm 1961,
huyện Đông Anh chuyển về Hà Nội; địa danh xã Thụy Lâm được sử dụng trong giai
đoạn sau đó cho đến khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính. Hiện nay, địa bàn
di tích thuộc xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội. Đền Sái hiện nay thuộc thôn Thụy
Lôi, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội.
2. Đường đi đến di tích
Đền Sái ở phía bắc của Thủ
đô Hà Nội, muốn tới thăm di tích khách tham quan có thể đi bằng nhiều phương
tiện và theo nhiều ngả đường khác nhau nhưng tuyến đường dễ đi hơn cả là trục
đường: Từ trung tâm Hà Nội hồ Hoàn Kiếm theo đường Trần Nguyên Hãn, Trần Quang
Khải, qua cầu Chương Dương theo Quốc lộ 1A qua cầu Đuống đi theo đường Quốc lộ
3 đến ngã tư biến thế Đông Anh rẽ vào đường liên xã đi khoảng 5 km qua UBND xã
Thư Lâm là đến thôn Nhội (Thụy Lôi). Cụm di tích tọa lạc trên núi Sái ở phía
bắc thôn.
III.
SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ
Thụy Lôi - làng Nhội hay
còn gọi là kẻ Nhội, với các tên khác là Ma Lôi, Xuân Lôi là một quần cư đông
dân đã được định hình và phát triển từ rất lâu đời. Mảnh đất Thụy Lôi đã từng
in đậm nhiều chứng tích lịch sử và có nhiều huyền thoại. Người dân Thụy Lôi
trải bao đời duy trì định cư ở mảnh đất này, các dòng họ lớn của làng còn lưu giữ
gia phả minh chứng lịch sử hình thành và phát triển của họ đã có hàng trăm năm.
Với vị trí phía bắc của kinh đô Cổ Loa và kinh đô Thăng Long, mảnh đất Thụy Lôi
có vị trí khá đặc biệt. Thụy Lôi - núi Sái (Thất Diệu sơn) - đền Sái ghi đậm
dấu tích những trận chiến ác liệt và chiến công oai hùng của danh tướng Lý
Thường Kiệt, vị tướng tài danh đã chỉ huy quân dân Đại Việt đánh tan đội quân
xâm lược nhà Tống trên chiến tuyến sông Cầu ở thế kỷ XI, kìm hãm vó ngựa quân
Nguyên Mông ở thế kỷ XIII. Đền Sái ở vị trí rất gần với kinh đô Cổ Loa, tính
theo đường chim bay chỉ khoảng 5 km. Kinh đô Cổ Loa là trung tâm nước ta thời
Âu Lạc ở thế kỷ III trước Công nguyên. Căn cứ nguồn tư liệu thành văn hiện còn
lưu giữ tại di tích, sử sách và truyền thuyết dân gian cho biết đền Sái thờ
thần Huyền Thiên Trấn Vũ, một vị thần được nhiều địa phương trong cả nước phụng
thờ. Thời Lý thần được phong là vị thần trấn giữ phía bắc kinh thành Thăng
Long, một trong Thăng Long tứ trấn: phía bắc có Huyền Thiên Trấn Vũ; phía đông
là thần Bạch Mã; tây là Linh Lang đại vương; nam là Cao Sơn đại vương. Đền Sái
còn lưu lại truyền tích: Việc định đô xây thành Cổ Loa thời An Dương Vương để
kháng chiến chống ngoại bang. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" Tập 1 -
NXB Khoa học xã hội - Hà Nội trang 121 - 122 có đoạn viết "Bấy giờ Thục
Vương đắp thành ở Việt Thường rộng ngàn trượng cuốn tròn hình ốc nên gọi là Loa
thành. Thành xây cứ đắp xong lại sụp, vua lấy làm lo, mới lập đàn trai giới để
cầu khấn trời đất và thần kỳ núi sông rồi khởi công đắp lại... Vua cầu mộng gặp
rùa vàng (thần Kim Quy) hỏi về nguyên do thành sụp được thần đáp: ấy là do tinh
khí núi sông vùng này bị con vua trước phụ vào để báo thù trước nấp ở Thất Diệu
núi có con quỷ chúng có thể gọi nhau họp đàn lũ làm cho sụp thành... Vua An Dương
Vương đích thân đến núi Thất Diệu để trừ yêu quái. Từ đấy đắp thành không quá
nửa tháng thì xong...". Trong các sách như "Lĩnh Nam trích
quái", "Lịch triều hiến chương loại chí", "Đại Nam nhất
thống chí" đều có ghi nhận sự việc An Dương Vương xây dựng thành Cổ Loa và
việc vua đến núi Thất Diệu cùng thần trừ tinh gà trắng phá thành. Như vậy, nếu
lược bỏ các yếu tố thần thoại, huyền bí thì một sự thực lịch sử có thể khẳng
định là việc xây thành của vua Thục có liên quan mật thiết đến núi Sái (Thất
Diệu sơn). Lịch sử có sự gán đặt hình tượng cụ thể cho nhân vật lịch sử như
truyền tích ở đền Sái là điều hiển nhiên và dễ hiểu. Để ghi nhận công tích của
mình, An Dương Vương đã ghi nhận bằng sự ra đời của huyền tích núi Sái để ghi
nhận chiến công của mình bằng một vị thần cụ thể: Sự trợ giúp của thần Huyền
Thiên Trấn Vũ trừ Bạch Kê Tinh giúp nước là cụ thể cũng như sự thần thoại hóa
sự thật lịch sử. Tinh gà trắng, hồn con vua trước có thể hiểu là các thể lực
chống đối triều Thục tụ tập, quấy nhiễu việc xây thành, định đô dựa vào núi
rừng và các yếu tố thiên nhiên vùng này. Khảo cứu các ghi chép về nhân vật lịch
sử Huyền Thiên Trấn Vũ có khá nhiều, đặc biệt là khảo cứu của tác giả Quỳnh Chi
trong sách "Danh nhân Hà Nội" đã ghi điển tích về nhân vật lịch sử
này. Thần nhiều lần hiển linh giúp nước.
Cùng với các nguồn tư liệu
nêu trên, truyền tích dân gian lưu truyền xoay quanh câu chuyện thành Huyền
Thiên giúp nước ở quanh núi Sái, sự tích các bến Đò Lo, cầu Tía, cầu Hồng, chợ
Chờ, Thu Thuỷ... là các địa danh đều phản ánh sự tích liên quan đến Đền Sái.
Đặc biệt là việc ghi nhận qua lễ hội thôn Nhội - Thụy Lôi rước vua tế lễ đền
vào tháng giêng là việc lưu giữ và phản ánh cụ thể về lịch sử của đền Sái. Lễ
hội rước vua diễn tả việc vua An Dương Vương giao cho dân Nhội thay mình làm
lễ, tế bái yết thần Huyền Thiên Trấn Vũ.
Sách "Hà Nội từ
điển" có đoạn ghi "Thần Trấn Vũ là hiện tượng kết hợp nhân vật thần
thoại Việt Nam (ông thánh đã giúp vua An Dương Vương trừ ác quái phá việc xây
thành Cổ Loa) và nhân vật thần thoại Trung Quốc (ông thánh coi giữ phương
bắc)".
Khảo cứu thêm về truyền
tích ở Thụy Lôi - đền Sái có tích nói rằng: Khi Huyền Thiên giáng trần, ngài đã
tu ở núi Thất Diệu. Trên núi có am tu của thần nên có thêm tên là Sãi (chỉ việc
Sãi tu) rồi sau này được đọc chệch thành Sái. Qua nội dung một số thư tịch và
văn bia hiện còn lưu lại di tích cũng cho biết về các tên gọi của di tích như
"Huyền Thiên đại quán", "Bia chân linh quán" dựng thời Mạc
Hưng Trị thứ 3 (1590) có nội dung ghi đền Sái là một Đạo quán - Đạo Lão tu
tiên. Sự hòa nhập tín ngưỡng tôn giáo dân gian với đạo Lão được phản ánh qua
nội dung thờ tự ở di tích khá rõ nét, cũng giống như đền An Dương Vương ở khu
di tích Cổ Loa có cùng một tên gọi là "Tiên từ đệ nhất". Dù có sự hòa
nhập, đan xen trong việc thờ cúng nhưng sự tôn vinh vị thần có công giúp nước
vẫn được duy trì và tôn vinh bảo lưu trường tồn với thời gian. Thông qua nội
dung các câu đối ở đền cho thấy rõ điều đó, cụ thể như sau:
***Loa thành bán nguyệt
thành Thục sử chí kim truyền hiển tích***
***Quy lĩnh thiên thu trĩ,
Xuân Lôi tự cổ nghiễm linh từ***
Nghĩa là:
***Thành ốc nửa tháng xây
xong, dấu lạ còn ngời trang sử Thục***
***Núi Rùa muôn thuở vững,
đền thiêng mãi rạng đất Xuân Lôi***
(Tiến sỹ Hoa Đường)
Hoặc câu:
***Quy lĩnh hiển linh,
dương quy tướng trang nghiêm trừ kê sùng, Nam bang bình yên vạn cổ***
***Loa thành hòan trúc, trứ
hòang bao chỉnh tuchs đáp thần công, Thục triều vọng bái trường xuân***
Nghĩa là:
***Rùa vàng hiển linh, quân
tướng trang nghiêm trừ kê tinh, đất Nam được bình yên muôn thuở***
***Loa thành xây đắp, nhà
vua nghiêm túc đáp công thần, triều Thục vọng bái muôn đời.***
Xét về thế quân sự với
khoảng cách không xa lại có các gò nên đền Sái như một ụ luỹ phòng vệ từ xa cho
thành Cổ Loa về phía bắc. Vị thế đó đã có ý nghĩa lớn với việc bố phòng quân
sự, tạo nên sự lợi hại ưu thế cho thành Cổ Loa khi quân dân Âu Lạc kháng chiến
chống lại quân xâm lược Triệu Đà. Đền Sái còn có các dấu tích và các sự kiện
lịch sử ở các giai đoạn lịch sử khác nhau. Năm 1010, vua Lý Công Uẩn dời đô từ
Hoa Lư về Đại La xây dựng kinh thành Thăng Long, năm 1011 (niên hiệu Thuận
Thiên thứ 2) vua Lý đã đến đền Sái và sau đó cho rước duệ hiệu đức Huyền Thiên
từ đền Sái về xây đền ở cạnh hồ Tây phía bắc thành Thăng Long (Tức đền Quan
Thánh - Trấn Vũ) tôn vinh là vị thần trấn giữ phía bắc cho kinh thành Thăng
Long. Năm 1049 vua Lý Thánh Tông đã có lần đến thăm đền, năm 1076 - 1077 Lý
Thường Kiệt cho lập chiến tuyến Như Nguyệt - sông Cầu, núi Sái là một vị trí
đống giữ rất sung yếu của quân ta trong phòng tuyến chặn giặc. Có các trận
chiến đấu ác liệt đã xảy ra quanh núi Sái, điều đó đã được phản ánh trong ca
dao ở địa phương như:
***"Bên kia giáo trước
giáo sau***
***Bên này giáo lửa đánh
nhau tơi bời"***
Hay:
***"Đánh giặc thì đánh
qua sông***
***Đừng đánh qua đồng, nát
lúa người ta***
***Đánh giặc thì đánh qua
Xà***
***Đừng đánh qua Nhội, nát
nhà kẻ Dâm"***
(chữ Xà, Nhội, Kẻ Dâm là
các địa danh ở Thụy Lâm)
Như vậy trong thời kỳ kháng
chiến chống Tống của nhà Lý, chống Nguyên của nhà Trần, đền Sái - Thụy Lôi -
Thụy Lâm là mảnh đất đã chứng kiến nhiều trận chiến ác liệt của quân dân ta.
Khu di tích đền Sái có đền Thượng năm ở bên ngoài đền thờ Huyền Thiên. Đền
Thượng thờ Cao Sơn thời Hùng Vương dựng nước, thần Cao Sơn cũng là một vị thần
trong Thăng Long tứ trấn. Đền Thượng là một bộ phận kiến trúc không tách rời
trong tổng thể kiến trúc đền Sái. Đây là quán Ngộ Không, nơi vua An Dương Vương
và Thanh Giang sứ Kim Quy đã chém đầu Bạch Kê Tinh theo truyền tích. Hiện nay ở
phía sau đền Thượng còn phiến đá kê ướm gươm tượng trưng cho việc chém đầu tinh
gà trắng phá thành được diễn tả lại trong lễ hội rước vua ở Thụy Lôi hàng năm.
Cùng với đền Thượng có gò Mô Vọng tương truyền là vua Thục bái vọng lên đức
thánh Huyền Thiên.
Sau đền thờ Huyền Thiên là
chùa thờ Phật có tên là "Sái Sơn tự", với bố cục như trên tổng thể
các công trình kiến trúc của đền được cấu trúc kiểu tiền Thần hậu Phật. Chùa
Sái Sơn thờ phật theo giáo phái Đại thừa, cũng như các chùa làng ở các nơi
trong vùng đồng bằng Bắc bộ, bên cạnh chùa có điện thờ mẫu theo tín ngưỡng dân
gian.
Trong kháng chiến chống
thực dân Pháp và tay sai đền Sái được lực lượng du kích địa phương bố trí trận
địa đặt súng máy để hỗ trợ bộ đội tiểu đoàn Thiên Đức (bộ đội địa phương của
tỉnh Bắc Ninh) đánh giặc trên sông Cà Lồ.
Năm 1949, giặc Pháp bị thua
đau cay cú đã càn quét vào Thụy Lôi đốt phá đền Sái, các công trình kiến trúc
bị hỏng nặng, đồ thờ, di vật bị phá huỷ, duy chỉ còn lại toà hậu cung, tượng
Thánh và một số đồ thờ được nhân dân sơ tán, lưu giữ lại. Sau ngày hòa bình
1954, nhân dân địa phương đã quyên góp tiền tu bổ lại đền và tiếp tục duy trì
việc thờ cúng.
Trong những năm chiến tranh
chống Mỹ, khu vực đền Sái được sử dụng làm trận địa pháo cao xạ để bảo vệ bầu
trời phía bắc Thủ đô. Nơi đây là bãi tập bắn, huấn luyện bộ đội, du kích của
huyện Đông Anh trong nhiều năm.
Năm 1986, cụm di tích được
Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa và được trùng tu, sửa chữa các
hạng mục kiến trúc, sưu tầm, bổ sung nhiều đồ thờ.
IV.
LOẠI HÌNH DI TÍCH - NIÊN ĐẠI XÂY DỰNG
1. Loại hình di tích
Cụm di tích đền Sái là một
công trình kiến trúc tín ngưỡng dân gian dạng đền được xây dựng ít nhất cũng
khoảng từ thời Lê để phụng thờ vị thần là Huyền Thiên Trấn Vũ có công giúp vua
Thục An Dương Vương trừ ác quỷ để xây thành Cổ Loa. Căn cứ giá trị nổi trội của
di tích, chúng ta có thể xếp cụm di tích đền Sái là di tích lịch sử, kiến trúc
nghệ thuật và danh lam thắng cảnh.
2. Niên đại xây dựng và những lần trùng tu
sửa chữa:
Cụm di tích đền Sái có lịch
sử xây dựng từ lâu đời. Căn cứ bài văn khắc trên tấm bia Mạc Hưng Trị thứ 3
(1590) và bản sắc phong niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 2 (1572) chúng ta có thể đoán
định niên đại xây dựng đền ít nhất vào thời Lê thế kỷ 16 và tồn tại đến ngày
nay di tích đã trải qua nhiều lần trùng tu sửa chữa vào thời Nguyễn và những
năm gần đây.
Trải qua thời gian dài tồn
tại ngôi đền cũng có nhiều biến động đổi thay, qua nhiều lần trùng tu sửa chữa.
Sau năm 1954, ngôi đền được tu sửa phần mái, tường bao. Năm 2004 - 2005 nhân
dân Thụy Lôi đã quyên góp tiền của trùng tu lại toà tiền tế, phục dựng toà hậu
cung, lát lại sân, trùng tu cổng nghi môn.
*Năm 2011, Thành phố đầu tư
tu bổ tiền đường Đền Sái khang trang.*
*Năm 2016 bằng nguồn vốn xã
hội hóa đã tu bổ Đền Thượng khang trang, nâng nền Đền Thượng, mở rộng gian Tiền
đường, xây thêm cuốn thư chắn phía trước Đền Thượng, xây thêm cổng nghi môn tứ
trụ đền Thượng, sửa sang lát lại toàn bộ sân đền.*
V.
KHẢO TẢ DI TÍCH
* Đền Sái:
Đền Sái tọa lạc trên một
ngọn núi có tên là Thất Diệu, rộng, thóang đãng, giữa cánh đồng lúa. Đền quay
hướng nam. Các bộ phận cấu thành di tích bao gồm: một khu rừng cây bao bọc,
phía trước có hồ nước, xung quanh di tích có nhiều cây cổ thụ như đa, gạo và
phía trước là cánh đồng lang, các công trình của đền gồm: sân và khu kiến trúc
có các nếp nhà ngang dọc tạo thành. Các công trình kiến trúc được bố cục liền
kề nhau liên tiếp từ chân núi đến đỉnh núi. Theo thuyết phong thuỷ thế đất được
chọn để xây dựng đền là thế "quy xà hợp hình" rất đắc địa núi Thất
Diệu có thế hình "rùa" và hình "xà" (rắn) được hình thành
bởi con lạch chạy bao quanh chân núi và quy tụ thuỷ ở trước cửa đền. Từ chân
núi có các bậc thềm dẫn lên cổng nghi môn ngũ quan, hai bên lối đi có hai giếng
nước hình tròn, dân làng gọi là "mắt rùa". Hai bên bậc thềm có hàng
cây cổ thụ quanh năm toả bóng mát.
Cổng nghi môn kiểu ngũ quan
được xây dựng vào thời Nguyễn bằng cách kiểu hai tầng, mở 5 cửa ra vào kiểu vòm
cuốn, ba cửa chính giữa rộng và cao. hai cửa bên nhỏ hẹp hơn. Tầng trên mở ba
cửa kiểu vòm cuốn, có mái chồng diêm lợp giả ngói âm dương, các trụ đỡ mái xây
hình vuông. Chính giữa cổng ngũ quan mặt ngoài đề bốn chữ Hán "Chu khai,
xương hạp", mặt trong cũng đề bốn chữ "Huyền Thiên đại quán".
Hai cửa bên của cửa chính, một bên cửa đề chữ "hữu thiên môn", bên
kia đề "tả thiên môn". Hai cửa phụ đề chữ Thịnh hỷ và Nghi hỷ. Du
khách từ xa có thể nhìn thấy cổng tam quan hiện rõ dưới những rừng cây, đồng
lúa. Các nhà sử học, khảo cổ học, kiến trúc sư đã xác định cổng ngũ quan đền
Sái là một trong những công trình kiến trúc đẹp, cổ kính và hiếm hoi ở miền Bắc
còn lại được sau mấy trăm năm chiến tranh liên miên, đặc biệt là sau những đợt
tiêu thổ kháng chiến. Năm 1942 cổng nghi môn được tu sửa lại theo lối cổ được
miêu tả lại trong nội dung văn bia hiện gắn trên tường cổng nghi môn. Năm 2001
- 2002 cổng lại được tu sửa phần mái và chữ Hán.
Cổng xây kiểu cổng nghi môn
tứ trụ hai trụ lớn tạo một lối đi rộng dẫn vào đường chính đạo đi thẳng vào
gian giữa đại bái. Đỉnh hai trụ lớn đắp hình 4 chim phượng đầu quay bốn hướng
đuôi chụm vào nhau tạo thành hình trái dành cách điệu dưới là hình mui luyện và
phần lồng đèn có các ô trang trí hình tứ linh (long, ly, quy, phượng) phần thân
trụ tạo vuông mặt trụ đắp nổi câu đối chữ Hán. Từ cột trụ lớn xây bức tường nối
sang cột trụ nhỏ khoảng giữa hai cột xây cửa kiểu vòm cuốn, trên diềm tường
trang trí hoa văn chữ triện, mặt tường hai bên cửa đi ở mặt ngoài trang trí tứ
quý (tùng, trúc, cúc, mai) và hình võ tướng đắp dạng phù điêu. Mặt trong cũng
trang trí hình tứ quý. Hai trụ nhỏ kiểu lồng đèn đỉnh trụ đắp tượng lân chầu.
Qua cổng thẳng đường trục
thần đạo là nhà Kính thiên, một công trình kiến trúc độc đáo đã bị phá hỏng
trong chiến tranh, đến năm 1983 nhà Kính thiên được dựng lại trên nền cũ, với
kiến trúc nhà hai gian xây bằng gạch, có sáu đầu đao cong vút mềm mại. Phía sau
nhà Kính thiên là đền chính gồm: Tiền tế, trung đường và hậu cung.
Nhà tiền tế trước đây có
quy mô lớn 7 gian, nay thu hẹp còn năm gian hai chái xây kiểu nhà có mái hạ
đạo. Mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, hai đốc mái đắp hình rồng đuôi
xoắn miệng ngậm bờ nóc tạo cảm giác thanh thóat nhẹ nhàng cho công trình kiến
trúc. Nhà tiền tế xây trên nền cao hơn mặt sân 50 cm xung quanh bó vỉa gạch,
phía trước xây ba bậc (tam cấp) lên nền nhà. Nội thất bốn hàng chân cột gỗ đỡ
mái kiểu "thượng thu - hạ thách", các cột gỗ đặt trên chân tảng đá
hình vuông, nền nhà lát gạch vuông. Kết cấu vì làm theo kiểu "chồng
rường". Nhà Trung đường 5 gian, hai chái có đao cong mái lợp tế sơn son
thiếp vàng mang phong các nghệ thuật thế kỷ XIX. Cửa cung cấm làm bốn cánh ở
gian giữa, cửa lửng kiểu "thượng song - hạ bản", đặc biệt được chạm
khắc trang trí khá công phu hình tứ linh, tứ quý dạng phù điêu mang phong cách
nghệ thuật thế kỷ XIX.
Toà hậu cung một gian hai
chái xây chạy dọc về phía sau một đầu ăn mộng với gian giữa nhà trung tế tạo
thành hình chữ đinh. Nhà xây kiểu mái đao, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ
đinh, có hai bộ vì kèo gỗ đỡ mái đặt trên 4 cột gỗ và tường xây bổ trụ, các vì
kèo làm kiểu "chồng rường". Giữa hậu cung bài trí ban thờ thành hòang
làng, bằng sàn gỗ. nền nhà lát gạch cổ, các nhà khảo cổ học đã nghiên cứu giám
định gạch có niên đại thời Lê.
Trang trí trên kiến trúc
tập trung vào các con rường, đấu kê, chủ đề trang trí thể hiện phong phú, ngoài
việc làm tăng giá trị thẩm mỹ cho công trình kiến trúc còn tạo ra cảm giác
thanh thóat cho khối kiến trúc gỗ của đền.
* Chùa Sái:
Toạ lạc ở vị trí sau đền có
kết cấu chữ đinh gồm tiền đường và thượng điện. Nhà tiền đường 7 gian, mặt bằng
sáu hàng chân, các vì kèo đỡ mái làm kiểu vì "giá chiêng, kể chuyền trung
xà nách, đỡ kẻ chuyền hạ bẩy".
Chùa nền nhà lát gạch
vuông. Thượng điện hai gian một dĩ, xây kiểu tường hồi bít đốc mái lợp ngói ta,
bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, các bộ vì kèo đỡ mái làm kiểu "giá chiêng kẻ
chuyền". Trang trí trên kiến trúc tập trung vào những con rường, đầu dư,
đầu bẩy chạm nổi hình rồng mây, rồng lá, các vân mây cuộn, sóng nước thể hiện
chau chuốt... chủ đề trang trí thể hiện phong phú ngoài việc làm tăng giá trị
thẩm mỹ cho công trình kiến trúc còn tạo ra cảm giác thanh thóat cho khối kiến
trúc gỗ của di tích.
Bài trí tượng thờ trong
chùa về cơ bản vẫn tuân thủ cách bài trí tượng phật truyền thống của phái Đại
thừa. Trên phật điện nơi cao nhất là ba pho Tam Thế thường trụ diệu pháp thân,
lớp thứ hai là bộ tượng Di Đà tam tôn, lớp thứ ba là tượng Quan Âm Chuẩn Đề,
lớp thứ tư là tượng Ngọc Hoàng, lớp thứ năm là toà Cửu Long và phật Thích Ca sơ
sinh. Toà tiền đường có tượng Hộ Pháp, Đức Ông, Thánh Tăng, bát vị Kim Cương.
Điện mẫu ba gian kết cấu
chữ đinh, tiên tế ba gian, hậu cung hai gian, xây kiểu tường hồi bít đốc tay
ngai, mái lợp ngói ta.
*** Đền Thượng**: Nằm ở
dưới chân núi Sái làm kiểu tiền chữ nhất hậu chữ công. Hai nếp nhà làm song
song.
Nhà tiền tế và trung đường
xây kiểu tường hồi bít đốc, mỗi toà năm gian kết cấu bốn hàng chân, các vì kèo
đỡ mái kết cấu đơn giản.
Toà hậu cung hình chữ đinh
chia ba gian tiền tế, hai gian cung cấm, khung gỗ, mái lớp ngói ta.
*Năm 2016, Đền Thượng được
tu bổ lại khang trang với 5 gian tiền đường, 5 gian nhà trung đường và 3 gian
hậu cung chạy dọc nối với trung đường thành kiến trúc tiền chữ nhất, hậu chữ
đinh. Tu bổ lại cổng nghi môn, cuốn thư phía trước Đền Thượng. Tất cả công
trình được làm bằng gỗ tứ thiết chạm trổ công phu với hoa văn lá lật, rồng hóa,
mây hóa...*
VI. DI
VẬT CÓ TRONG DI TÍCH
Trải qua một thời gian dài
tồn tại, qua nhiều biến động thăng trầm của lịch sử dân tộc, tồn tại đến ngày
nay cụm di tích đền Sái còn lưu giữ bộ sưu tập di vật văn hóa nhiều về số lượng
và đa dạng về chủng loại, gồm:
1. Đồ đồng:
- Một chiêng đồng thế kỷ XIX
- Một bát hương đồng thế kỷ
XIX
- Bộ ngũ sự gồm: Đỉnh, hai
hạc, hai cây nến nghệ thuật thế kỷ XX
- Ba đài nước nghệ thuật
thế kỷ XX
- Hai quả chuông đồng
2. Đồ gỗ:
- Một bức đại tự thiếp vàng
- Ba bức cửa võng thiều
châu trang trí hình rồng chầu mặt trời
- Một cỗ ngai nghệ thuật
thế kỷ XIX
- Một bộ bát bửu 10 chiếc
sơn son thếp vàng nghệ thuật thế kỷ XIX
- Một hòm sắc sơn son thiếp
thuộc nghệ thuật thế kỷ XIX
- Một hương án gỗ nghệ
thuật thế kỷ XIX
- Một giắc văn sơn son
thiếp vàng nghệ thuật thế kỷ XIX
- Ba mâm ỷ để ngai bài vị
sơn son thếp vàng nghệ thuật thế kỷ XIX
- Bốn pho tượng tròn nghệ
thuật thế kỷ XVIII - XIX
- Ba cỗ long ngai chạm rồng
nghệ thuật thế kỷ XIX
- Một tấm bài vị trang trí
hình rồng thiếp vàng nghệ thuật thế kỷ XIX
- Một đôi chân đèn gỗ nghệ
thuật thế kỷ XIX
- Một đôi lọ hoa gỗ nghệ
thuật thế kỷ XIX
- Một ỷ thờ chạm rồng nghệ
thuật thế kỷ XIX
- Hai đôi câu đối sơn son
thiếp vàng nghệ thuật thế kỷ XIX
3. Đồ sứ
- Ba hai bát hương sứ men
trắng vẽ lam nghệ thuật thế kỷ XX
- Một lọ lộc bình sứ men
lam nghệ thuật thế kỷ XX
4. Đồ đá
-
Bốn tấm bia đá, trong đó có
một tấm bia niên hiệu thời Mạc, một bia niên hiệu Chính Hoà 22 (1701)
* Chùa Sái:
**-** Một tấm bia hậu thời
Nguyễn
- Một quả chuông đồng
- 43 pho tượng tròn mang
phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX - XX
- Một sập thờ nghệ thuật
thế kỷ XX
- Một bức cửa võng, hai bức hòanh phi sơn son. Ngoài ra, chùa còn lưu rất nhiều các đồ thờ tế tự khác như: cây đèn, cây nến, lọ hoa và bát hương với số lượng nhiều, trống đại, cờ thần...
* Đền Thượng:
VII. LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ TRONG DI TÍCH**Theo tập tục ở địa phương, trong một năm đền tổ chức các lễ chính là: Lễ hội trước vua vào ngày 11 tháng Giêng, lễ chính ngày mùng 2 tháng 3 và lễ thánh hóa vào ngày mùng 9 tháng 9 Âm lịch.Lễ rước vua (còn gọi là lễ rước vua giả) chính hội là ngày 9 tháng Giêng nhưng trước đó đã có những việc chuẩn bị như: Bầu chọn người đóng vai vua, chúa, các quan. Theo lệ làng về tuổi, thứ bậc chọn gia đình còn đủ cả ông bà song toàn, con cháu đông đủ. Từ ngày mùng 5 ở đền đã nhộn nhịp các nghi lễ: sửa đường, cắm dinh, ngày mùng 6 - 7 có cỗ thượng thính, lễ sỉnh sinh ngày mùng 10, lễ hội diễn tả vua Thục An Dương Vương lên đền lễ tại bái yết công tích của đức thánh Huyền Thiên. Việc căm sdinh, đóng dinh diễn ra ở đình Thụy Lôi, ngày 11 rước lễ lên đền Sái. Từ sớm ngày 11 đoàn rước vua, chúa, quan Thư Vệ, Đề Lĩnh, Tán Lý, bốn vị ty quan tòng thị vệ, bốn vị xá nhân lập thành đoàn rước từ đình lên đền. Trong lễ hội cổ lệ có việc diễn tả điểm binh giao quan trấn thủ giữ thành, đọc tích ca... đoàn rước lên đền có đầy đủ cờ trống, chiêng cùng các binh khí, kiệu võng uy nghi, chỉnh tề. Khi đoàn rước đến trước đền, vua xuống gò Mô Vọng bái vọng về đền tạ ơn trợ giúp của đức thánh Huyền Thiên giúp nước. Kiệu chúa tiếp tục làm lễ ở đền Thượng (quán Minh Không) diễn tả tích chém đầu Bạch Kê Tinh tại hòn đá sau đền, tiết mục này có việc đổ tiết gà hoặc phẩm đỏ tượng trưng. Lễ hội ngày 11 tháng Giêng ở đền Sái là một lễ hội thu hút đông khách thập phương và nhân dân nhất trong năm. Đây là lễ hội rất đặc biệt có một nghi lễ hiếm thấy diễn tả việc vua Thục giao cho nhân dân Thụy Lôi được thay mặt mình làm các nghi lễ tế bái yết công tích của đức thánh Huyền Thiên Trấn Vũ. Ngoài nghi lễ trang trọng trong những ngày hội còn tổ chức các trò chơi dân gian như đánh đu, vật, chọi gà, văn nghệ... Theo tục lệ đoàn rước có mời quan viên xã Cổ Loa tham dự. Lễ hội này còn được duy trì nhờ sự phân công của phe giáp của làng về chế độ ruộng công phục vụ lễ hội. Những năm sau này lễ hội đã có sự giản lược rút gọn ngày và các nghi lễ. Tích ca của lễ hội có một số đoạn cần được lưu lại như:
***"Tích này từ triều
Thục ghi để***
***Quân sĩ về sợ dân hao
phí***
***Phó cho dân đại hội quần
thần***
***Cứ minh niên xuân thu
một lần***
***Giả vương, tướng, quan,
quân nghi vệ..."***
Lễ đản sinh đức thánh ngày
mùng 2/3 ngay sau một khoảng thời gian của lễ hội rước vua nên ngày đản sinh
đức thánh được tổ chức nghi thức ngắn gọn chỉ có lễ vật trình thánh, không có
các trò chơi. Lễ hóa của thánh ngày mùng 9/9.
Cũng như nhiều làng quê
khách quanh vùng làng Thụy Lôi mở hội có nghi lễ cúng tế uy nghi truyền rằng
đây là nghi lễ tưởng niệm nhớ ơn công đức của thần đối với dân làng. Lễ vật
cúng thánh là các sản vật nông nghiệp do người dân địa phương tự làm ra như xôi
nén, thủ lợn, gà trống, đặc biệt phải có vật lễ là đầu gà bằng tre, thanh bông
hoa quả bốn mùa. Phần hội có tổ chức các trò chơi dân gian. Hiện nay ngày hội
làng còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa thể thao.
XIII.
GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HOÁ - KHOA HỌC - NGHỆ THUẬT
* Về giá trị lịch sử:
Đền Sái là một công trình
kiến trúc tín ngưỡng có lịch sử tạo dựng rất sớm. Tồn tại cho đến ngày nay, nó
đã mang trên mình một bề dầy lịch sử hàng nghìn năm.
Đền Sái thờ Huyền Thiên
Trấn Vũ một vị thiên thần quan trọng trong các các vị thiên thần của thần điện
Việt Nam. Thần Trấn Vũ từ lâu đã đi vào tâm thức của người dân Việt nam. Sự
tích Huyền Thiên núi Sái có liên quan mật thiết đến việc định đô, xây thành và
kháng chiến chống quân xâm lược của triều đại An Dương Vương vị vương quân đứng
đầu quốc gia Âu Lạc thế kỷ thứ III trước Công nguyên. Có thể nói lịch sử hình
thành tồn tại của di tích núi Sái gắn bó mật thiết đến khu di tích kinh đô một
thời của nước ta đó là Cổ Loa. Lịch sử của đền Sái ngoài sự liên quan đến di
tích Cổ Loa về các giai đoạn sau của lịch sử có liên quan đến các triều đại đặc
biệt là triều Lý với việc rước duệ hiệu của thánh Huyền Thiên về trấn ở phía
bắc thành Thăng Long, việc cầu tự sinh thái tử và đặc biệt nơi đây là một trong
những địa điểm có liên quan đến chiến tuyến sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt
kháng chiến chống quân Tống.
Đền Sái là một địa điểm
đánh dấu sự hoạt động của bộ đội và du kích trong kháng chiến chiến chín năm
chống Pháp và là một trận địa có nhiều đóng góp trong việc bảo vệ bầu trời Thủ
đô trong chiến tranh chống Mỹ.
* Về giá trị kiến trúc nghệ thuật
Đền Sái có quy mô kiến trúc
rộng lớn, cảnh quan đẹp, những giá trị khoa học, lịch sử, kiến trúc nghệ thuật
hiện có đã đưa di tích vượt ra khỏi không gian hạn hẹp của một làng quê truyền
thống để hòa nhập vào kho tàng di sản văn hóa dân tộc.
Đền Sái là một công trình
kiến trúc cổ được ra đời với hai chức năng: Nơi phụng thờ và tưởng niệm vị phúc
thần có công với dân, với nước theo tín ngưỡng dân gian, nơi tổ chức những sinh
hoạt văn hóa của một cộng đồng dân cư.
Các công trình kiến trúc
được bố cục hài hòa trong một không gian rộng thóang, các nếp nhà cổ ẩn mình
dưới những tán cây cổ thụ quanh năm xanh tốt, sau đền là một rừng cây tạo cho
di tích một vẻ đẹp thâm nghiêm huyền bí.
Khối kiến trúc vật chất của
đền còn bảo lưu những nét đẹp độc đáo riêng so với các kiến trúc tôn giáo đồng
loại hiện còn. Những nét đẹp cổ kính này được khẳng định qua sự tồn tại của các
mảng chạm khắc trên cốn nách, đầu dư, rường cốn, bẩy hiên mang phong cách nghệ
thuật thế kỷ XIX, XX, nhà tiền tế, hậu cung được trang trí các hình tứ linh, tứ
quý mang đậm phong cách kiến trúc đền thờ thần của người Việt thời hậu Lê.
Đó là những tư liệu rất giá
trị trong việc tìm hiểu về thời điểm ra đời, về quá trình phát triển kiến trúc
đền ở Việt nam qua các thời kỳ lịch sử. Các công trình kiến trúc được bố cục có
sự hòa nhập giữa kiến trúc với môi trường tự nhiên xung quanh. Bên trong nhà,
lối kết cấu truyền thống vẫn được duy trì, những mảnh chạm phong phú về nội dung,
gắn trên các bộ phận kiến trúc đã làm tăng thêm giá trị thẩm mỹ cho ngôi đền,
qua đó phản ánh tài năng sáng tạo nghệ thuật của người nghệ nhân đương thời.
* Về giá trị nghệ thuật:
Bộ sưu tập hiện vật trong
di tích hiện còn rất phong phú đa dạng. Ngoài giá trị lịch sử, các di vật còn
được chạm khắc tinh xảo, mang giá trị thẩm mỹ cao, các đề tài quen thuộc như
"tứ linh", "phượng vũ", hổ phù, rồng mây, qua đó người nghệ
nhân đã gửi gắm những ước mong, nguyện vọng của người dân làm nghề nông cầu mưa
thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân khang vật thịnh. Đặc biệt là tấm bia đá có
niên hiệu thời Mạc và bia niên hiệu triều Lê là nguồn sử liệu quý giá góp phần
nghiên cứu, tìm hiểu về địa danh lịch sử, phong tục tập quán của nhân dân địa
phương đồng thời cho thấy vai trò to lớn của vị thần hòang làng đối với đời
sống tâm linh của nhân dân thôn Thụy Lôi. Tại di tích còn có các viên gạch thời
Lê (lát nền hậu cung), tượng thánh Huyền Thiên là những tác phẩm nghệ thuật độc
đáo có giá trị.
* Giá trị danh thắng, du lịch
Đền Sái, núi Sái bao gồm
một quần thể di tích có nhiều các công trình kiến trúc cổ kính, độc đáo lại ngự
trên một quả núi cao nổi giữa cánh đồng có ao, ngòi, sông lạch kế tiếp tạo nên
một khung cảnh hiếm có mà các di tích trong vùng không thể có được nét dị biệt
này tạo cho cụm di tích một giá trị độc đáo. Du khách đến tham quan di tích
không chỉ thoả mãn nhu cầu sinh hoạt tâm linh mà còn được thụ hưởng một không
khí tươi mát với một cảnh đẹp sơn thuỷ hữu tình. Đặc biệt là được nghỉ ngơi thư
giãn trong một khung cảnh thiên nhiên như một bảo tàng sinh thái.
Đền Sái cùng với đình Nhội
là trung tâm sinh hoạt văn hóa tâm linh của một cộng đồng dân cư, là nơi dân
làng tổ chức lễ hội truyền thống hàng năm để tưởng nhớ công lao của thần. Hội
làng là nơi hội tụ của mọi người dân trong cộng đồng để giao lưu văn hóa, nơi
bảo lưu những giá trị văn hóa phi vật thể quý báu của cha ông từ ngàn đời lưu
lại cho hậu thế.
Di tích đã và vẫn là vốn cổ
quý giá trong việc giáo dục phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và
cần được trân trọng, giữ gìn, bảo quản.
IX.
HIỆN TRẠNG BẢO QUẢN DI TÍCH
Đền Sái hiện nay được bảo
quản khá tốt, các bộ phận kiến trúc còn tương đối nguyên vẹn, cảnh quan thiên
nhiên được bảo tồn, di tích có rừng cây xanh bao quanh. Có được điều đó là do
sự quan tâm của chính quyền và nhân dân địa phương trong việc giữ gìn và bảo vệ
di tích truyền thống. Đền Sái có Ban bảo vệ gồm đại diện các ban ngành, đoàn
thể trong thôn được dân cử để trông nom bảo vệ di tích, có cụ thủ từ hàng ngày
hương đăng thờ cúng. Tuy nhiên vẫn còn một số công trình có tác cấu kiện gỗ
trong các bộ phận kiến trúc đang bị mối mọt xâm hại làm mục rỗng, xuống cấp cần
được kịp thời tu bổ tôn tạo cấp thiết. Các di vật đồ thờ cần được bảo dưỡng
thường xuyên.
X. CÁC
PHƯƠNG ÁN BẢO VỆ VÀ SỬ DỤNG DI TÍCH
Để có cơ sở pháp lý cho
việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích, chính quyền địa phương phối hợp
với cơ quan chuyên môn các cấp đang tiến hành lập hồ sơ khoa học, hồ sơ pháp lý
đề nghị UBND thành phố Hà Nội ký duyệt tạo cơ sở pháp lý và khoa học giúp cho
việc bảo vệ di tích đúng Luật Di sản văn hóa. Ban quản lý di tích của địa
phương cần lập kế hoạch tu bổ cấp thiết các hạng mục kiến trúc đang bị hư hỏng,
tổ chức quản lý, có phương án bảo quản các di vật, cổ vật. Phối hợp với chính quyền
địa phương và cơ quan văn hóa các cấp để phát huy giá trị của di tích, tiến
hành kiểm kê, giám định cổ vật của di tích. Tổ chức tuyên truyền giới thiệu giá
trị nội dung của di tích tới đông đảo nhân dân bằng các phương tiện thông tin
đại chúng, loa đài truyền thanh để nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân
đối với việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc; vận động nhân dân đóng góp kinh
phí tu bổ, bảo dưỡng các công trình kiến trúc và di vật của di tích đang bị
xuống cấp. Sưu tầm bổ sung các tư liệu có liên quan đến di tích như các tư liệu
lịch sử, hòanh phi, câu đối bị hỏng, thất lạc nội dung, các di vật đồ thờ.
Thông tin thú vị hoặc ghi chú đặc biệt cho du khách khi ghé thăm.