- Các cụ tham gia thực hành nghi lễ phải là những người đức độ, hiểu biết, không có tang trở. Không được ăn tanh hôi, không được ngủ cùng vợ trước và trong ngày thực hành nghi lễ. Đặc biệt trong nghi lễ dịch phục trong các kỳ lễ hội và lễ rước Mộc Dục ( 24/12) chỉ có vị có chức sắc trong làng, người đứng đầu của làng mới được thực hành nghi lễ dịch phục. Gia đình người thực hiện nghi lễ Mộc Dục phải không có tang trở và chỉ đàn ông mới được thực hành nghi lễ.
- Gia đình được chọn làm nơi chứa lễ cho các kỳ lễ hội phải là gia đình phong quy nề nếp, con cái đề huề.
b. Miêu tả hình thức biểu hiện, quy trình thực hành, các sản phẩm vật chất, tinh thần được tạo ra trong quá trình thực hành di sản văn hóa phi vật thể, không gian văn hóa liên quan ….
* Đại lễ khao quân tế cờ khởi nghĩa mùng 4 tháng Chín.
Ngày mùng 4 tháng Chín âm lịch là ngày Hai Bà Trưng lập đàn thề, tế trời đất, có giết trâu, bò, dê lợn cho quân sỹ ăn uống trước khi ra trận.
Theo tục lệ cứ đến tháng chín âm lịch dân làng tổ chức tế lễ trong ba ngày
Ngày mùng 3 tháng chín: Ngày tế yết
Ngày mùng 4 tháng chín: Ngày tế chính tiệc
Ngày mùng 5 tháng chín: Ngày tế tạ
Ngày chính tiệc (mùng 4 tháng chín): lễ là một con lợn đực thiến và 20 đấu gạo nếp đóng xôi khuôn, 20 đấu gạo nếp giã bột làm bánh trôi. Theo truyền thuyết: Trước khi Hai Bà Trưng xuất quân ra trận đánh Tô Định, Hai Bà Trưng cho mổ bò, lợn, dê để tế lễ trời đất và khao binh sỹ vào ngày mùng 4 tháng Chín âm lịch. Vì vậy làng Hát Môn có tục lễ tế tam sinh (bò, lợn, dê). Việc tế tam sinh không phải năm nào cũng thực hiện, chỉ những năm dân làng được mùa, đời sống dân làng sung túc, các cụ kỳ hào, chức sắc trong làng bàn bạc quyết định tế tam sinh.
Nghi lễ tế tam sinh: Làng mua một con bò hoặc một con trâu đực thiến (bò vàng, trâu đen), một con dê đực, một con lợn đực thiến. Ba con vật này mua ở các gia đình khang thái, song toàn, không có cớ. Đêm ngày mùng 3 tháng Chín được đưa lên cổng đền tắm rửa sạch sẽ,mổ làm thịt luộc chín đưa vào đền cúng tế, lăm lợn, thủ lợn dâng lên ban thượng, thịt lợn vào các ban. Riêng trâu, bò, dê thì được để vào mâm quả dâng vào hai sập ở trong Đại bái để khao thưởng binh sỹ. Năm 1943 là năm cuối cùng tế tam sinh trong thời Pháp thuộc và tạm chiến.
* Đại lễ ngày mùng 6 tháng Ba
Ngày mùng 6 tháng Ba âm lịch là ngày Hai Bà Trưng tuẫn tiết hay còn gọi là ngày hóa của Hai Bà, dân làng tổ chức tế lễ long trọng và dài ngày nhất trong năm và năm nào cũng mở hội với nhiều trò chơi dân gian phong phú thu hút được hàng ngàn khách thập phương về lễ bái:
Ngày mùng 4 tháng Ba: lễ trình mở cửa;
Ngày mùng 5 tháng Ba: lễ và tế yết;
Ngày mùng 6 tháng Ba: tế về lễ chính tiệc, dâng lễ bánh trôi;
Đêm mùng 6 tháng Ba: lễ tuyên sắc hát nhà trò;
Ngày mùng 7 tháng Ba: tế và hát ca trù;
Ngày mùng 8 tháng Ba: tế tạ;
Ngày mùng 9 tháng Ba: tế kỳ yên;
Lễ vật:
Ngày mùng 4 tháng Ba: lễ hoa quả;
Ngày mùng 5 tháng Ba: lễ oản quả;
Ngày mùng 6 tháng Ba: ngày chính tiệc lễ một con lợn, xôi khuôn và bánh trôi;
Ngày mùng 7 tháng Ba: lễ oản quả;
Ngày mùng 8 tháng Ba: lễ hai sống gà và xôi khuân;
Ngày mùng 9 tháng Ba: lễ oản quả.
Ngày mùng 9 tháng Ba, ngoài việc tế lễ trong đền làng có lễ vàng hương, oản quả, lễ đình. Những năm làng mổ lợn làng sắm thêm vàng mã, ngựa voi, thuyền, quần áo mã đưa ra đình để lễ kỳ yên, lễ xong vàng mã được đưa ra gò Rùa giáp Thượng Cốc để hóa. Lệ tục này được thực hiện từ năm 1954 về trước.
Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII trong làng có Phong Quận công Nguyễn Ngọc Trì, Tổng Thái giám trưởng thời nhà Lê Trung Hưng (Lê Duy Tân và Lê Duy Kỳ) đứng ra cùng các kỳ hào, chức sắc trong làng xây dựng đền bằng gạch ngói thay cho tranh, tre nứa lá và các nghi lễ cúng tế theo nghi thức cung đình đến bây giờ vẫn thực hiện. Để nhớ ơn công lao to lớn của Quận công, chiều ngày mùng 5 tháng ba làng rước lư nhang của Quận công về đền thờ bên hữu nhà Đại bái để xem xét dân làng tế lễ và tối ngày mùng 6 tháng ba thưởng thức hát nhà trò (hát chầu văn và múa sinh tiền) lệ này được thực hiện đến năm 1954.
* Đại lễ 24 tháng 12 âm lịch (rước Mộc dục và dịch phục)
Rước Mộc dục là rước bài vị của Hai Bà Trưng đến nhà ngự dội để tắm gội thay mũ áo (theo truyền thuyết sau khi thắng trận Hai Bà Trưng tắm gội sửa mũ áo, làm lễ đăng quang lên làm vua và đóng đô ở Mê Linh)
Dịch phục là thay mũ áo tại vị
Một năm có một kỳ rước Mộc dục vào đêm 23 và sáng ngày 24 tháng chạp (tháng 12 âm lịch)
Một năm có hai kỳ dịch phục: Kỳ thứ nhất vào quá 12 giờ đêm ngày mùng 5 tháng ba thay áo giấy mặc áo gấm, đến quá 12 giờ đêm ngày mùng 7 tháng ba thay áo gấm mặc áo giấy; Dịch phục kỳ thứ hai vào gần sáng ngày 24 tháng chạp thay áo giấy mặc áo gấm, đến quá 12 giờ đêm ngày mùng 3 tháng giêng thay áo gấm mặc áo giấy. Những năm không rước mộc dục thì thay áo mũ vào lúc quá 12 giờ đêm (thay áo giấy mặc áo gấm tại vị).
Làng quy định có bốn ông được vào làm mộc dục và dịch phục đó là: Lý trưởng hoặc phó lý; Cụ Từ; Tiên chỉ;Thứ chỉ. Trong đó Lý trưởng lúc nào cũng ở bên tả (Bà chị), Tiên chỉ lúc nào cũng ở bên hữu (Bà em). Hai vị còn lại (Cụ Từ và Thứ chỉ) mỗi người một bên.
Trước khi dịch phục, áo mũ bằng vải hay bằng giấy đều phải xông trên lồng mũ áo, trong lồng có đốt hương liệu ( trầm hương, quế chi, thảo quả, đò ho). Những người được mộc dục và dịch phục đều phải tắm gội sạch sẽ, ngoài ra phải kiêng kỵ ăn uống sinh hoạt, đi lại trước đó 7 ngày là ít nhất.
Đúng 12 giờ đêm tiến hành lễ trình dịch phục, đến 1 giờ sáng thì tiến hành dịch phục tại vị, riêng đêm ngày 23 và sáng ngày 24 tháng chạp tiến hành như sau: 12 giờ đêm ngày 23 làm lễ trình để mộc dục, đến 1 giờ sáng ngày 24 tháng chạp phụng nghinh bài vị xuống hai sập ngoài nhà tiền tế (nhà thiêu hương) có phương du bao phủ (phương du là khung vuông bằng gỗ xung quanh căng vải lụa) tiến hành mộc dục, khi xong lại phụng nghinh lên tại vị, ngày hôm sau tổ chức tế tạ đôi gà trống, thịt lợn, xôi khuôn.
Hàng năm cứ đến ngày 22 tháng 12 âm lịch làng giao cho các ông Thôn tổ chức đi rước nước, thành phần gồm có: ông Thứ chỉ, hai ông Thôn, 9 phù giá vác hai ngọn cờ thần, hai cây giáo, một chiếc lọng và bốn người khiêng Chóe để đựng nước. Đoàn rước nước ra ngoài đình Vạn Hát tại đoạn sông cuối xã Vân Nam. Vạn Hát là một số hộ dân làm nghề chài lưới trên sông Hồng đoạn đầu sông Đáy, từ xa xưa họ xin làng Hát Môn cấp cho một số đất để chôn cất hài cốt khi qua đời. Vì vậy họ chịu phụng sự dân làng lấy nước Mộc dục, các khoản chi phí và đón tiếp họ chịu hoàn toàn. Ngày 22 đoàn rước nước ra nghỉ ở Hàng Vạn đến 12 giờ đêm thuyền ra chỗ nước hai (giữa dòng sông) làm lễ Long vương, bản thổ rồi múc nước vào Chóe, gáo múc nước bằng đồng, một đầu dây buộc vào cán gáo, một đầu dây cuốn vào tay người múc nước đề phòng tuột tay gáo rơi xuống sông. Sau đó rước luôn nước về nhà Ngự dội, tại đây nước được lọc hai lần vào hai Chóe con để sáng sớm ngày 24 làm lễ Mộc dục. Năm nào không rước Mộc dục thì chiều 23 tổ chức rước nước từ nhà Mộc dục về đền.
Năm nào làng định rước Mộc dục thì ngay từ mùng 1 tháng chạp, Lý trưởng và Phó lý họp làng phân bổ phù giá cho các giáp, số phù giáp ít nhất là 200 người bao gồm con trai, con gái từ 16 tuổi trở lên, không mắc tang, cớ. Tất cả những người tham gia rước lễ và phục vụ rước lễ ( kể cả lý trưởng và phù giá đều phải tắm rửa sạch sẽ và kiêng khem trước 7 ngày từ ăn uống đến sinh hoạt, làm việc. Khi đi rước lễ mỗi phù giá phải làm và mang theo một chiếc đèn tròn như quả bóng, phù giá được phân vào rước kiệu và rước giá văn phải đến đền tập luyện trước 5 ngày để đi đứng cho đều và đúng nghi lễ.
Đêm 23 tháng chạp, đúng 10 giờ, làng kiểm danh và đôn đốc, 1 giờ sáng ngày 24 lễ dàn đồ chấp kích, 2 giờ sáng làm lễ phụng nghing. Kiệu tiến rước ra sân rồng để bên tả sau đó phụng nghinh bài vị Bà chị vào kiệu tiến và rước đến cổng đồng trụ thì dừng lại. Tiếp tục rước kiệu Bà em để ở bên phải sân rồng, sau đó phụng nghinh rước kiệu Bà em ra kiệu và tiếp tục rước về nhà mộc dục. Đến 5 giờ sáng thì đến nơi và tiến hành nghi lễ mộc dục, khi xong tiếp tục rước về. Khi rước về kiệu Bà em đi trước, kiệu Bà chị đi sau, hai kiệu đi sát nhau, các đồ chấp kích từng khối cùng đi sát nhau và đi nhanh hơn (chấp kích của Bà em đi trước, Bà chị đi sau). Việc khi đi Bà Chị đi trước nhưng khi về Bà Em đi trước được các cụ cao niên giải thích rằng: Đi thì Chị đi trước, nhưng về Em phải về trước để xem xét nhà cửa đón Chị về.
Khi về đến sân rồng thì dừng lại để rước kiệu Bà chị vào trước phụng nghinh bài vị vào nội cung bên tả, sau đó tiếp tục phụng nghinh bài vị Bà em vào nội cung bên hữu. Các đồ chấp kích được xếp vào đúng nơi quy định, rước xong làm tế yên vị. Năm 1942 là năm rước Mộc dục cuối cùng dưới chế độ phong kiến. Năm 1956 là năm đầu tiên sau hòa bình lập lại làng rước mộc dục. Năm 1959 rước lần thứ hai và các năm tiếp theo 1989,1992,1993,1995,1999.
Hiện tại, hàng năm tại đền Hát Môn diễn ra ba kỳ lễ lớn: Lễ giỗ Hai Bà Trưng ngày 6-3 âm lịch – ngày Hai Bà tuẫn tiết trên sông Hát (hội mùa xuân); Lễ tế cờ khởi nghĩa ngày 4-9 âm lịch – ngày Hai Bà dựng đàn phất cờ khởi nghĩa (hội mùa thu); Lễ rước Mộc dục ngày 24-12 âm lịch.
* Các hoạt động văn hóa văn nghệ và thể dục thể thao trong lễ hội chính ngày 6/3 âm lịch:
- Thi Hát dân ca và nhạc cổ truyền
- Vẽ tranh, thi Thư pháp
- Thi làm Bánh trôi
- Tổ chức các môn TDTT: Võ thuật, kéo co, đẩy gậy…