Nghè Thuận Quang, xã Gia Lâm
Lưu ý trước khi đi
- Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
- Miễn phí
Giới thiệu
Chú thích hình ảnh đại diện
Giới thiệu tổng quan về điểm du lịch nổi bật của Thủ đô Hà Nội...
Nội dung chi tiết về lịch sử, văn hoá, và những nét đặc sắc thu hút du khách...
ThôĐền (nghè) Thuận Quang, thuộc thôn Thuận Quang, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm. Đây là nơi thờ vị tướng tài nổi danh thời Đinh, đã có công giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân ở vùng Tế Giang, bảo vệ cuộc sống yên bình cho nhân dân.
Đền (nghè) Thuận Quang nằm ngay rìa làng Thuận Quang, trên bờ sông Thiên Đức, cách trung tâm Thủ đô khoảng 20km về phía Đông.
Top of Form
Bottom of Form
Theo các nguồn tư liệu thành văn hiện còn và truyền thuyết dân gian địa phương thì nghè Thuận Quang thờ ông Phùng Tùng có công dẹp giặc 12 sứ quân ở thời nhà Đinh. Căn cứ vào bản sao thần tích còn lưu tại di tích, cho biết về nhân vật được thờ tại đền (nghè) Thuận Quang như sau:
Xưa vào triều Đinh có người làng thuộc Lam Sơn, nơi đó đất đai bằng phẳng, nước đẹp kỳ lạ, trong làng có một nhà họ Phùng, vợ là Nguyễn Thị Tố. Bình sinh chuyên tu nhân tích đức, ba đời hương hoả, một mực phong lưu, hình dáng yểu điệu có thừa. Vào ngày mồng 2 tháng 12 năm Giáp Tí, Nguyễn Thị mơ thấy hào quang đầy nhà, trong chốc lát có rắn hoa trắng biến thành hai bông hoa sen, kết thành quả con, Nguyễn Thị với được một quả, từ đó có mang. Mang thai được một năm, đến ngày mồng 2 tháng 12 năm Bính Dần, thai nhi bắt đầu chuyển dạ, đến ngày 13 thì sinh. Khi sinh, hương thơm ngào ngạt, người người vui mừng. Đứa bé mới sinh ra hình dung đẹp lạ, nhan sắc phi thường. Khi lớn lên, hàng ngày cậu bé ở yên trong nhà học chữ, thuộc hết sách vở, không nghe người nào chuyện phiếm, biết được bí quyết dùng cung, thành thạo âm luật thơ nhạc. Đến khi trưởng thành, văn võ đều tài giỏi, tư cách hơn người, bản tính trời ban kỳ lạ.
Đứa bé lúc thiếu thời đã có hình dáng như rồng, bước đi như hổ, ai ai cũng sợ.
Khi Đinh Tiên Hoàng khởi binh đánh giặc, dẹp loạn 12 sứ quân, thu phục anh tài. Ngài cùng binh lính dốc lòng phò tá, nhiều lần lập chiến công nên Tiên Hoàng phong làm tướng thân cận, sau đó Đinh Tiên Hoàng sai Ngài đi đánh Tá Công ở sông Tế Giang. Ngài cùng với các tướng lĩnh, các đạo quân men theo bờ sông, đến Tế Giang chém được đầu Lữ Tá Công tại địa hạt sông Tế. Sau khi bình xong đất Tế Giang, Ngài cứ thủ vùng đất này.
Được khoảng ba năm, tìm đựơc một chỗ đất hợp phong thuỷ, núi bằng nước phẳng, dáng rồng sải bước, lập tức Ngài cho triệu các bậc phụ lão ở trang Dương Nguyễn đến hầu. Ngài ban tiền, nhân dân phụng mệnh nhận để xây dựng hành cung, lấy đó làm nơi hàng ngày đèn nhang thờ cúng đến trăm vạn năm.
Ngài trở lại nơi đóng quân, Tiên Hoàng phong Ngài làm Kinh lược sư. Được năm năm, một đêm Ngài mơ gặp một cụ già mình khoác áo xanh, tay cầm cờ vàng, đai lưng bằng đồng, chân xỏ giầy sắt, mắt như nước mùa thu nổi sóng, miệng cười, hào quang sáng rực như lửa cháy. Cụ già nói với Ngài rằng: Thượng đế ban sắc vời ngài vào triều không được dùng dằng. Vào ngày mồng 10 tháng 8, Ngài chợt thấy toàn thân mệt mỏi, rồi mây kéo đến che kín bầu trời, sông nước sôi lên sùng sục như sấm sét, thuồng luồng, rồng, cá, ba ba từ hàng vạn nhánh sông nối đuôi nhau theo từng đợt sóng kéo đến. Cá Côn, Mè hoa, Kình, Nghê, lớp lớp tầng tầng bao quanh; chim núi, thú rừng hợp cùng gió mưa triệu kiến Ngài. Mắt Ngài loà dần rồi không nhìn thấy, Ngài không bệnh mà mất.
Nghe tin đó, Tiên Hoàng trong lòng thương xót, bèn họp triều thần, lại phong tặng thêm cho Ngài làm Dực bảo trung hưng tôn thần, ban đất hương hoả làm nhu phí tế thần. Có đến trên 100 đền vâng mệnh thờ cúng.
Đến triều vua Thái Tông, họp triều đình, nâng bậc bách thần, giao cho quan bộ Lễ viết sắc, phong cho thần. Đi qua huyện Gia Lâm, quận Thuận An, trấn Vũ Ninh, ra lệnh mọi người ở trang Dương Nguyễn im lặng chỉnh tề, đến nhận một đạo sắc phong, cho phép vẫn được thờ thần như cũ.
Phụ lão trang Dương Nguyễn vâng mệnh đón danh sư, tìm được chỗ đất có phong thuỷ rồng chầu hổ phục, là nơi đất quý để xây dựng từ đường. Xây một ngôi miếu ở đó. Miếu toạ quẻ Càn hướng Tốn (tức hướng Tây Bắc - Đông Nam). Trước cửa miếu làm hương án, hai bên có dòng nước ôm lấy như chiếc khăn, phía sau có rồng ôm ấp như gối, khi thuỷ triều lên, thế đất như rùa rắn uống nước. Vùng đất phát đinh, giàu có, nhiều bậc văn nhân, anh hoa phát tiết. Giao ngôi miếu ấy cho Dương Nguyễn thờ tế, ngàn vạn năm dù có xa xôi cách trở, muôn đời truyền nối càng thêm kính trọng hơn trước, đời nối đời truyền tụng, này hương này khói, này thọ này khang. Đời trước lập võ công, đời sau con cháu được hưởng anh linh.
Dù Ngài hoá đã lâu, trang Dương Nguyễn vẫn thờ cúng cung kính như trong điển chế. Vì vậy, hiện nay ở đền (nghè) Thuận Quang còn đề đôi câu đối:
Miếu vũ thiên thu tồn hiển tích
Giang thành nhất đối tấm linh uy
Nghĩa là: Ngàn năm miếu võ còn lưu dấu hiển hách
Một dải sông dài thấm đượm uy linh.
Từ những cứ liệu thành văn, mà trước nhất là căn cứ vào thông tin của thần tích cho phép đoán định niên đại khởi dựng sớm nhất của di tích đền (nghè) Thuận Quang là vào thời Đinh Tiên Hoàng (971), khi ông ban sắc cho dân làng Dương Nguyễn được thờ thần như cũ, và dân làng cùng từ đó nhờ thầy phong thủy tìm đất dựng miếu. Lại căn cứ vào một tài liệu thành văn nữa, đó chính là tấm bia niên hiệu Dương Hoà thứ 8 (1642). Theo nội dung của tấm bia trên thì đó là tấm bia ghi về công đức của bà Nguyễn Thị Ngọc Thắng, người đã quyên tiền xây tháp, dựng đình, sửa miếu vào năm Đinh Sửu (1637). Như vậy, có thể đoán định niên đại khởi dựng di tích muộn nhất là năm 1637, vì năm đó là năm bà Ngọc Thắng xuất tiền vàng lợp ngói và ghép đá tường của miếu như ngày nay. Những cứ liệu ghi chép về niên đại khởi dựng của đền (nghè) Thuận Quang cho thấy đây là một di tích có niên đại khởi dựng từ sớm, điều đó càng chứng minh cho giá trị lâu đời của di tích trên mảnh đất cổ Dương Xá.
Đền (nghè) Thuận Quang quay hướng Nam, trên một thửa đất cao rộng, thoáng mát, phía trước có dòng sông uốn lượn, phía sau thế đất cao ráo. Tương truyền thế đất xưa của di tích là thế voi phục (voi quỳ) và di tích được xây dựng trên lưng voi. Đền (nghè) Thuận Quang được xây kiểu chữ đinh bao gồm các hạng mục chính đại bái, tiền tế và hậu cung, tả vu, sân. Trước đây di tích có cả hữu vu, nhưng do thời gian, chiến tranh và thiên nhiên, hữu vu đã bị phá huỷ hoàn toàn.
Từ ngoài đường làng vào di tích, có thể thấy, di tích không có nghi môn (cổng) như những di tích khác mà chỉ là một chiếc cổng như những cổng vào nhà dân bình thường khác.
Đi từ ngoài vào là sân được lát gạch Bát Tràng (30cmx30cm). Phía trước sân là một hồ bán nguyệt được xây kè xung quanh. Nối với phía sau hồ là bình phong tạo cho hồ thành hình bán nguyệt, trước hồ là vườn trồng hoa màu cũng là đất của di tích.
Tiếp sau hồ bán nguyệt là bức bình phong có sáu cột trụ. Hai trụ chính ở giữa xây kiểu trụ biểu, đỉnh trụ đắp hình chim phượng quay về bốn hướng, phần ô lồng đèn đắp nổi hình tứ linh, thân trụ bổ khung ghi đôi câu đối. Nối hai trụ biểu chính là hình cuốn thư, bên trên là hình lưỡng long chầu mặt trời lửa; bên dưới cuốn thư tạo một khuông hình chữ nhật, trong đó là hình rồng uốn khúc trong đường vòng tròn với các hình đao lửa, hoa văn hình học, xung quanh diềm khuông chữ nhật ngoài là hoa văn hình lá lật và hoa văn hình học. Hai cột trụ phụ giáp hai trụ chính có đắp đỉnh trụ là hình nghê, phần ô lồng đèn để trống, thân trụ ghi đôi câu đối. Hai trụ phụ ngoài cùng không trang trí đặc biệt. Giữa các trụ được nối với nhau bằng các khuông hình vuông, mỗi ô trang trí một cây trong bộ tứ quý. Mặt trước bình phong để bể hòn non bộ cùng một số cây cảnh để làm tăng giá trị thẩm mỹ cho di tích.
Đại bái gồm năm gian, xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, chính giữa bờ nóc đắp một khuông hình chữ nhật, bên trong đắp nổi hai chữ Hán “Linh từ” (nghĩa là: đền thiêng), ở giữa hai chữ Hán là hình hoa sen, hai đầu hình chữ nhật đắp kiểu hoa văn kỷ hà. Hai đầu kìm của bờ nóc đắp kiểu hình đao xoắn, bờ dải đắp kiểu bờ đinh, mái lợp ngói di. Hai tường hồi hai bên xây dật cấp nối liền với hai cột trụ biểu. Đỉnh trụ đắp hình hai con nghê quay mặt vào nhau, phần ô lồng đèn đắp nổi đề tài tứ linh, thân trụ bổ khung ghi câu đối. Bậc thềm vào trong xây tam cấp.
Phía trước gian đại bái mở ba cửa gỗ làm kiểu ván bưng, hai bên là hai cửa sổ. Nền nhà lát gạch Bát Tràng, nền nhà gian giữa thấp hơn, hai bên thuận tiện cho việc tế lễ. Bộ khung đỡ mái với sáu bộ vì làm kiểu “vì kèo quá giang” bằng sắt. .
Năm 1995, do nhà đại bái bị mối mọt phá hoại, có nguy cơ bị sập, toàn dân lại đóng góp, làm lại nhà đại bái trên nền cũ. Trên thượng lương nhà đại bái vẫn còn dòng chữ Tuế thứ Ất Hợi niên Canh Thìn nguyệt Bính Tuất nhật thụ trụ thượng lương đại cát.
Đi qua đại bái là bước vào gian tiền tế. Tiền tế nối từ gian giữa của đại bái chạy về phía sau, nối với hậu cung tạo thành hình chữ đinh. Tiền tế là hai gian dọc với các bộ vì làm kiểu “vì chồng rường" với hai cột trụ chính và hai đầu vì hai bên gác trực tiếp lên tường có bổ trụ, các cột trụ đặt trên chân tảng đá trên tròn dưới vuông, xung quanh xây tường gạch. Dưới phần giá chiêng, nối giữa hai cột trụ chính là một bức cửa võng được sơn thếp lộng lẫy. Bên trong cửa võng bổ ba ô vuông đề ba chữ Hán “Linh Hương từ” (có nghĩa là: Đền Linh Hương). Phần chồng rường nối từ cột trụ chính sang hai bên được thể hiện bằng các thanh xà chồng lên nhau; các thanh xà đều bắt từ cột trụ chính liền sang bên hồi nhưng riêng thanh xà thứ hai từ dưới lên được chia làm hai phần, một phần từ cột trụ chính đến giữa thanh xà thứ nhất mở một khuông hình chữ nhật, bên trong khắc hình rồng uốn lượn và sơn thếp màu vàng, một phần bắt nối từ khuông chữ nhật sang phía đầu hồi của các thanh xà. Các thanh xà ở bộ vì này đều được chạm lộng, chạm nổi hình mây uốn lượn tạo dáng đầu rồng, nếu nhìn không kỹ sẽ bị lẫn với các đầu dư.
Nền nhà cao hơn nền đại bái khoảng 30cm, lát gạch Bát (30cmx30cm). Gian phía trước nối với đại bái tạo thành một gian nhỏ, để trống. Gian phía sau nối với hậu cung, tạo thành một gian rộng hơn, ở giữa xây cao hơn nền khoảng 30cm; trên đó đắp một bệ xi măng, ốp gạch men màu nâu đỏ, bên trên để một giá để đồ tế khí.
Hậu cung được nối thẳng từ tiền tế vào trong, hồi phía trước để cửa ra vào, hồi phía sau xây kiểu đầu hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta, nền nhà lát gạch Bát, xung quanh xây bó vỉa. Bên trong hậu cung xây bệ gạch cao làm nơi thờ Thành hoàng làng và bày các đồ thờ tự. Bộ khung đỡ mái làm kiểu chồng rường, với bốn hàng chân cột đỡ mái theo kiểu "thượng thu hạ thách".
Ngăn cách giữa cung cấm và bên ngoài là ba bộ cửa bức bàn, cánh cửa và diềm cửa giữa trang trí tứ linh (long, ly, quy, phượng), tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai). Phía trên giáp mái treo một bức hoành phi ghi bốn chữ đại tự “Thánh cung vạn tuế”, hai diềm bên trang trí mai lão, cúc lão.
Gian tả vu được xây liền với đầu hồi phía trái của đại bái, sử dụng trụ biểu phía trước đại bái làm trụ biểu cho phía phải của tả vu. Tả vu xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai. Mái lợp ngói ta.
Mặt trước tả vu mở ba cửa bằng nhau, cửa làm kiểu bức bàn. Giữa tường nối từ hai cửa nách với cửa giữa được bổ khung hình chữ nhật, không trang trí. Từ sân vào nhà tả vu được xây bậc tam cấp.
Tả vu được chia làm ba gian, bộ khung đỡ mái làm bằng gỗ được bào trơn đóng bén, với bốn bộ vì làm kiểu "vì kèo quá giang cột chốn", hai đầu vì gác trực tiếp lên tường, nền nhà lát gạch chỉ.
Di tích đền (nghè) Thuận Quang tuy có lịch sử xây dựng từ lâu, nhưng những di vật còn lại ở đây không còn nhiều.
Từ sân đi vào trong đền chính sẽ thấy ngay một hương án đặt ở giữa gian đại bái, trên mặt của hương án có đặt một số đồ thờ tự như bát hương, lọ hoa, chân nến, ống cắm hương. Hai bên cạnh hương án có một đôi hạc thờ đứng trên lưng rùa.
Phía sau hương án là cửa võng, trên cửa võng là một bức hoành phi với bốn chữ “Cổ dương vượng khí” (nghĩa là: Dương cao vượng khí thời xưa)
Hai bên của hoành phi xuôi về hai bên tường được treo sáu bản sắc phong là những sắc phong phục chế lại sắc phong gốc. Các sắc phong để trong khung kính, treo trang trọng trên tường. Để đảm bảo giữ gìn sắc phong của đình nên sắc phong gốc được Tiểu ban quản lý di tích cất giữ trong hòm sắc cẩn thận.
Qua quá trình tồn tại, sự biến động của lịch sử và thời gian đã làm cho cảnh quan và kiến trúc bề thế của ngôi đền không còn bảo lưu được nữa. Tuy nhiên, nhìn tổng quan di tích có thể thấy đó là một ngôi đền có quy mô bề thế, diện tích rộng, phía trước có dòng sông quanh co uốn lượn, phía sau có khoảng đất cao thoáng, hợp với quan niệm phong thuỷ “nhìn sông dựa núi” mà ông cha ta từng lựa chọn khi xây thành Thăng Long. Ngôi đền nằm trong một vùng đất có truyền thống văn hiến liên quan mật thiết đến các thời kỳ lịch sử chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước. Đã từ lâu, ngôi đền trở nên thân thuộc, gắn bó với đời sống tinh thần của nhân dân địa phương.
Chiến tranh đã đi qua từ lâu, thiên tai địch hoạ cũng phá huỷ nhiều vết tích cổ, con người có sinh lại có tử, chỉ có các di tích lịch sử văn hoá - những chứng nhân lịch sử từng gắn bó với đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của con người trước đây là tồn tại tương đối đầy đủ. Hệ thống di tích này chính là nguồn sử liệu quan trọng để tìm hiểu một số vấn đề về lịch sử - văn hoá của mỗi vùng. Sự hiện tồn của đền (nghè) Thuận Quang cũng như các di tích tôn giáo tín ngưỡng khác trong vùng là những hạt nhân quan trọng tạo nên giá trị mảnh đất Thuận Quang ngày hôm nay.
Nghè (Đền) Thuận Quang được UBND thành phố Hà Nội ra quyết định xếp hạng di tích Lịch sử Văn hóa năm 2010.
ng tin thú vị hoặc ghi chú đặc biệt cho du khách khi ghé thăm.