Chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự)
Chùa Cấn Hạ xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội Ngoài tên gọi di tích theo tên địa danh…
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 09/10/2026
Chùa Cấn Hạ xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội Ngoài tên gọi di tích theo tên địa danh…
Nguồn: Google
Cập nhật: 09/10/2026
Chùa Cấn Hạ xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội
Ngoài tên gọi di tích theo tên địa danh nêu trên, chùa Cấn Hạ còn có tên chữ là Ngọc Bào tự (玉包寺). Đây là một danh xưng khá hiếm gặp trong hệ thống chùa Việt, và mỗi chữ trong đó đều mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc.
Chữ Ngọc (玉) mang nghĩa là ngọc quý, tượng trưng cho sự thanh khiết, cao quý, trong sáng và hoàn thiện. Trong Phật giáo, “ngọc” thường được dùng để ví với Phật tính – tức là bản tâm trong sáng, quý báu sẵn có trong mỗi người (Phật tính như minh châu, tỏa sáng giữa vô minh). Vì vậy, chữ Ngọc trong tên chùa thường mang ý nghĩa tâm trong sáng như ngọc, đạo lý quý báu như ngọc.
Chữ Bào (包) mang nghĩa gốc là: bao bọc, chứa đựng, ôm trọn, dung nạp. Trong nghĩa biểu trưng là: bao dung, rộng lượng, che chở, chứa đựng muôn pháp trong một tâm. Đối với triết học Phật giáo, “Bào” còn gợi ý đến tấm lòng bao la, dung chứa tất cả chúng sinh, không phân biệt thiện – ác.
Vì thế, “Bào” mang ý nghĩa từ bi bao dung, dung nhiếp vạn pháp, cũng như “Phật tâm vô biên, bao la như hư không”.
Kết hợp lại, Ngọc Bào tự là một cái tên đặc sắc nhiều lớp nghĩa hàm súc:
Nghĩa gốc là: “Ngôi chùa bao bọc ngọc quý.” Tức là nơi chứa đựng, che chở điều quý báu – ở đây “ngọc” tượng trưng cho tâm Phật, chân lý, đạo pháp, hay đức hạnh con người.
Nghĩa biểu trưng – triết lý: “Tâm bao dung ôm trọn ngọc sáng” – chỉ đạo lý lấy lòng từ bi bao dung mà giữ gìn sự trong sáng, thiện lành. Hay nói cách khác: “Nơi tôn thờ Phật đạo, dung chứa ánh sáng trí tuệ và phúc lành.”
1. Giới thiệu khái quát về phạm vi, quy mô, bố cục mặt bằng tổng thể của di tích, cảnh quan môi trường khu vực di tích; đánh giá khái quát hiện trạng kỹ thuật của di tích, nêu rõ mức độ hư hại, xuống cấp của di tích, tình trạng vi phạm di tích (nếu có)
Chùa Cấn Hạ thuộc thôn Cấn Hạ, xã Kiều Phú, thành phố Hà Nội. Theo lời hồi cố của các cụ cao niên trong làng và tư liệu từ cuốn “Lịch sử chùa Ngọc Bào” Thành Hội Phật giáo Hà Nội – Ban đại diện hội Phật giáo huyện Quốc Oai thì Chùa làng Cấn Hạ có tên chữ là Ngọc Bào Tự.
Ngôi chùa nguyên thủy được xây dựng công phu vào thời Lê, thế kỷ 16. Trải qua thời gian, chùa bị hư hại, sau đó phải dựng lại với quy mô nhỏ hơn. Niên đại xây dựng được xác định vào thế kỷ 19. Chùa tọa lạc trên một gò đất cao ở ngoại đê gọi là gò Chợ, gần sông Tích Giang, quãng bến Vôi, quy mô chùa khá lớn với chùa chính, nhà tổ, nhà Mẫu. Chùa đã qua nhiều lần trùng tu. Lần trùng tu gần đây vào năm 1940 (Bảo Đại Thập Tứ Niên Canh Thìn). Tháng 4 năm 1968 một quả bom của máy bay Mỹ rơi nổ cạnh chùa làm hỏng phần mái nhưng không ảnh hưởng đến chùa, nhân dân thôn đã tiến hành sửa chữa lại. Năm 2003 chùa được dựng lại thay bằng bê tông cốt thép nhưng vẫn giữ nguyên mặt bằng, kết cấu hoa văn như cũ. Có thay đổi hệ thống cửa bức bàn ra trước cửa để diện tích trong chùa rộng rãi hơn. Chùa trùng tu năm 1940 vẫn sử dụng lại một số cấu kiện của ngôi chùa cổ, bởi thế mà cột chùa cao thấp không đều, phải chắp nối kẻ đệm, nhiều lỗ đục nên phải chắp vá cho liền.
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 Ngọc Bảo Tự có sư Cụ và sư Bác trụ trì. Sau cách mạng có sư Ông Ngô Quang Huấn trụ trì. Sau hòa bình 1954 việc đến nhang thờ phụng thần Phật bị trễ nải. Năm 1956 sư Ông phá giới, đình làng không có thầy tử, chùa không có sư. Chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ, năm 1965 ngôi chùa trở thành kho chứa vũ khí, quân dụng bí mật của đơn vị bộ đội. Trải bao biến động thăng trầm, làng Cấn Hạ vẫn tồn tại một ngôi chùa cổ mà không có tượng phật. Năm 1990 dựng lại ba tòa Tam Thế, tượng Đức Chúa và Đức Thánh Hiền. Thượng tọa Thích Viên Thành cùng nhân dân, con em xa quê tích cực ủng hộ. Những năm sau đó luôn được công sức, đồ thờ tự và tượng Phật; nhân dân ủng hộ, hàng tâm cúng tiến tiền của, tượng.
Năm 1992 xây nhà đại bái trước cửa chùa, rồi nhà tổ, nhà Mẫu kết cấu đơn giản. Ngày 25 tháng 1 Kỷ Mão – 1999 Đảng chính quyền Mặt trận cùng toàn dân tổ chức đón sư nhập tự. Từ khi có sư trụ trì, chùa làng được ổn định. Đặc biệt là từ khi sư thầy Thích Đàm Luyện trụ trì thì nhu cầu lễ bái, tu tạo ngày càng nhanh hơn.
Năm 2001 xây dựng lại nhà Tổ 5 gian như hiện nay.
Năm 2003 xây dựng lại ngôi chùa cổ bằng bê tông theo nguyên bản.
Năm 2005 xây dựng lại nhà thờ Mẫu.
Năm 2010 xây dựng lại nhà đại bái.
Năm 2011 xây dựng lầu tượng Phật Bà Quan Âm, tu tạo cảnh quan Giếng Ngọc và các công trình khác như tường bao cổng chùa…v.v.
Năm 2012 – 2013 xây kè đá ao quán.
Chùa Cấn Hạ nằm gần đình làng, cùng với quán Cấn Hạ hợp thành quần thể kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của người dân trong thôn. Chùa xây dựng theo hướng nam, nhìn ra cánh đồng làng. Các hạng mục chính bao gồm tiền đường, ống muống, thượng điện; tạo thành lối kiến trúc hình chữ Công. Sau tam bảo là nhà Tổ và nhà Mẫu. Sân đình lát gạch Bát để phục vụ cho các sinh hoạt tín ngưỡng của người dân trong ngày lễ hội.
Qua khoảng sân và bậc tam cấp dẫn đến tòa Tiền đường. Hạng mục này gồm 5 gian, kiểu tường hồi bít đốc, 2 mái chảy, chính giữa bờ nóc tạo hình 1 cuốn thư trong đề ba chữ Hán “玉包寺 – Ngọc Bảo tự”, 2 đầu bờ nóc là đấu đinh, cuối bờ dải dật tam cấp. Bờ nóc và bờ dải đểu có hàng hoa tranh hộp rồng hình hoa thị chạy dọc nhằm tăng tính thẩm mỹ cho phần mái. Mái lợp ngói mũi hài.
Tương ứng với các gian, phía trước là bộ cửa bức bàn để trơn, phần hiên có hàng cột đá nâng đỡ bẩy hiên. Các cột làm bằng đá xanh, tiết diện vuông, đế thắt cổ bồng, phần đỉnh hình thang, trang trí cánh hoa, thân chia ô, trên dưới là các ô vuông trang trí hoa sen và hoa thị, phần giữa khắc các câu đối bằng chữ Hán. Phần cấu kiện hiên chia làm 2 loại, hai bên hồi theo hình thức ván mê, trang trí đề tài trúc và tùng lộc, các gian chính dùng kẻ - đầu kẻ chạm long mã. Bước vào trong là các bộ vì liên kết đứng trên các hàng chân cột, liên kết theo các kiểu thức vì kèo cơ bản. Các cấu kiện gỗ như con chồng, xà, kẻ, bảy được bào trơn đóng bén, không trang trí hoa văn, giữa các con chồng có đấu kê hình vuông thót đáy. Phần thượng lương có chữ Hán và chữ quốc ngữ cho biết thời điểm xây dựng tiền đường là năm Canh Dần 2010. Sàn nhà lát gạch bát. Phần sau làm ba cửa theo dạng cửa tò vò, không để cửa nối sang ống muống.
Tiền đường đặt ban thờ Địa tạng vương bồ tát ở gian ngoài cùng bên phải, phía trên ban thờ treo bộ hoành phi câu đối, chính giữa tiền đường treo bức hoành “Ngọc Bào tự” và đôi câu đối.
b. Ống muống
Đây là phần nối giữa tiền đường và thượng điện, khá nhỏ, xây theo kiểu nhà ngang. Không dùng các bộ vì hay lợp mái mà đổ bê tông, xây theo kiểu nhà trần, dùng hệ thống cột giống như cột hiên của tiền đường để chịu lực. Trong ống muống đặt một ban thờ Quan Âm thiên thủ thiên nhãn tại chính giữa, ban thờ thổ địa ở phía ngoài cùng bên trái. Đây là vị thần cai quản trông coi đất đai. Ống muống cũng là nơi sư thầy ngồi tụng kinh.
c. Thượng điện
Nối phía sau ống muống là 3 gian thượng điện. Thượng điện là gian nhà dọc, kiến thiết kiểu 1 tầng 4 mái có đao uốn cong, bờ nóc để trống, hai bên đắp kìm xoắn, đầu đao tạo tác đầu rồng, phía sau bưng tường tạo thành không gian kín đáo, thiêng liêng bài trí các pho tượng, hiện thân của các nhân vật lịch sử Phật giáo.
Bộ vì mái Thượng điện làm bằng bê tông, được đứng trên các hàng chân cột cái và gối tường bao, liên kết theo kiểu thức “thượng chồng rường con nhị, hạ kẻ chuyền”. So với sự đơn giản mộc mạc của các cấu kiện tòa Tiền đường thì tòa Thượng điện lại được chạm khắc hoa văn trang trí, cụ thể: các con rường và kẻ chạm hoa văn vân xoắn, lá lật hay chữ triện, phần đỡ thượng lương được chạm hổ phù.
Thượng điện là nơi thiêng liêng nhất của di tích, được lát gạch bát, dọc theo lòng nhà thượng điện xây bệ giật cấp theo hướng cao dần để bài trí hệ thống tượng Phật, gồm các lớp tiêu biểu như sau: Trên cùng lớp thứ nhất là ba pho Tam Thế ngồi thiền kiết già trên đài sen, tiếp đến lớp thứ hai là pho Adiđà được tạc trong tư thế ngồi trên đài sen, hai bên là tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí bồ tát tạc trong tư thế đứng trên đài sen; lớp thứ ba là Thích Ca Nhiêm Hoa với tượng Thích Ca ngồi trên đài sen tay cầm 1 bông hoa sen, hai bên là A Nan và Ca Diếp. Lớp thứ tư là tượng Quan âm thiên thủ thiên nhãn ngồi trên đài sen. Lớp cuối cùng đặt tòa cửu long và tượng Thích Ca sơ sinh, hai bên có Đế Thích và Phạm Thiên trong tư thế ngồi trên bệ.
Ban bên tả hữu thượng điện còn có sự hiện diện của ban thờ Đức Thánh Hiền đặt tại gian bên phải và ban thờ Đức Ông đặt tại bên trái.
Thêm phần giá trị nghệ thuật cho chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) còn phải kể đến hệ thống các đồ thờ khác như: các bộ hoành phi câu đối ca ngợi đạo Phật hay các đồ thờ tự… Đặc biệt là chiếc chuông cổ có niên đại Chính Hoà năm thứ 19 – Mậu Dần (1698) cùng với đó là 2 bức hoành phi “Từ Bi” và “Hách Trạc” có niên đại Khải Định 4 (1919). Đây là những di vật vừa mang giá trị biểu đạt thông tin, vừa là các tác phẩm nghệ thuật mà các nghệ nhân đã khéo léo, tài tình tạo lên với cái tâm thiện tín.
d. Nhà Tổ nhà Mẫu
Nằm phía sau thượng điện là nhà Tổ và Nhà Mẫu, được xây theo dạng nhà ngang làm kiểu chữ “nhất”, với lối kiến trúc tường hồi bít đốc, hai mái chảy, lợp ngói ta, hai đầu đốc là hai đấu đinh. Tương ứng với các gian là hệ thống cửa gỗ bản lề là vào bên trong. Các bộ vì gian chính được làm theo kiểu “Thượng giá chiêng kẻ ngồi nách, hạ kẻ chuyền”; bộ vì lửng làm theo kiểu thượng chồng rường cốn mê, hạ kẻ chuyền”, chất liệu bằng gỗ xoan. Khác với sự đơn giản tại chùa chính, các cấu kiện gỗ ở nhà tổ và nhà mẫu được trang trí khá đa dạng và đặc sắc, đặc biệt là các bộ vì lửng với nhiều đề tài trang trí. Tại phần nhà tổ, ở bộ vì lửng, phần đỡ thượng lương trang trí hổ phù, các phần đỡ hoành đều chạm thủng hoa mai tinh tế, phần cốn mê nổi bật với các trang sắc màu cùng ba chữ Hán “giới định tuệ” – “Khai ân tu”. Còn ở nhà Mẫu cũng tương tự, chỉ khác phần cốn mê là trang phượng hàm thư.
Phần nhà Tổ và Nhà Mẫu được phân chia bời một cửa tò vò.
*Nhà Tổ: kiêm vai trò là nhà khách, với ba gian, gian giữa đặt ban thờ tổ với tượng Bồ Đề Đạt Ma, gian bên trái là ban thờ các tăng ni gian bên phải dùng để tiếp khách.
*Nhà Mẫu: Tại nhà mẫu có bài trí ba ban thờ: Ban thờ chính giữa là bệ giật cấp theo hướng cao dần để bài trí hệ thống tượng Mẫu, gồm các lớp tiêu biểu như sau: trên cùng là tượng Tam tòa Thánh Mẫu – gồm 3 vị với ba màu áo đặc trưng là Mẫu Thượng Thiên áo đỏ, Mẫu Thoải áo trắng và Mẫu Nhạc tiên áo lam; lớp thứ 2 là tượng 4 vị chầu bà, lớp thứ ba là bộ tượng ngũ vị tôn ông; phía dưới ban thờ đặt ban thờ Ngũ Hổ. Hai ban tả hửu là ban Thánh Trần Triều và ban Mẫu Sơn Trang. Các hiện vật trong nhà Mẫu còn phải kể đến hệ thống các đồ thờ khác như: các bộ hoành phi câu đối ca ngợi Mẫu, đức thánh Trần hay các đồ thờ tự.
Hiện hữu trên mảnh đất có nhiều công trình văn hóa phục vụ nhu cầu tôn giáo và tín ngưỡng cho nhân dân, ngôi đình, chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) cũng mang trên mình những giá trị về lịch sử, văn hóa như sau:
1. Giá trị lịch sử của di tích
Đặt trong không gian địa văn hóa như vậy, sự hiện diện di chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) tại vị trí hiện nay như một chứng tích lịch sử, đánh dấu sự hình thành và phát triển của quê hương giầu truyền thống cách mạng hôm qua, hôm nay và mai sau, góp phần thúc đẩy sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc
Chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) đã xuất hiện trên mảnh đất Cấn Hạ từ thế kỷ XVI. Ngôi chùa đã tồn tại và đồng hành cùng nhân dân qua những thăng trầm của lịch sử. Chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) ra đời để đáp úng nhu cầu thờ Phật, thờ Mẫu và bảo trợ đời sống tinh thần cho Nhân dân. Lịch sử Phật giáo là một bộ phận trong toàn bộ lịch sử nhân loại nói chung và nước ta nói riêng. Từ bi và trí tuệ là hai trụ cột trong giáo lý Phật giáo. Toàn bộ giáo lý Phật giáo nhằm hướng con người đến việc sử dụng trí tuệ của mình nhận thức thế giới đúng như nó thật là để từ đó sống từ bi. Phật giáo nêu lên hình ảnh “nhân nào, quả nấy”, “gieo gió, gặp bão”, “ở hiền gặp lành”. Người Việt Nam thường quan niệm: “Sống gửi, thác về” đã bao gồm một triết lý sâu xa của thế giới quan Phật giáo về quan niệm sống cả một đời người. Đó là việc cho rằng mọi sự vật hiện tượng là sự kết hợp động của những yếu tố động, nên nó không có tự tính, tức không có cái mà nhờ cái đó có thể gọi là nó được. Mọi cái đều vô ngã, “chư Pháp vô ngã”. Ngay cả con người cũng chỉ là sự kết hợp động của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), bởi vậy con người là vô ngã.
Thế giới quan Phật giáo chỉ ra mối quan hệ cơ bản của mọi sự vật hiện tượng là quan hệ nhân quả. Chính từ cách xem xét vạn vật này mà con người theo thế giới quan Phật giáo cũng mang tính chất nhân quả. Ảnh hưởng của quan điểm này lớn đến mức chính nó biến thành quan niệm sống của đại đa số người Việt. Người ta luôn nói với nhau: Gieo nhân nào gặt quả ấy, “Gieo gió gặp bão”, “Ác giả ác báo”. Đối với người thường, quan niệm nhân quả của thế giới quan Phật giáo thật khó để hiểu đến tận ngọn nguồn, đặc biệt là thuyết luân hồi nghiệp báo, nhưng xét ở mặt nào đó, nó có ý nghĩa nhất định đối với quan niệm sống người Việt. Thử hỏi nếu thay thế quan điểm này bằng quan điểm “chết là hết” sẽ để lại hậu quả khôn lường. Khi tính ích kỷ và “cái tôi” lên đến cực điểm, con người sẽ bất chấp công bằng và lẽ phải, luân lý đạo đức, để thỏa món dục vọng cá nhân. Đó là dấu hiệu suy thoái mà chúng ta phải đấu tranh không khoan nhượng. Bên cạnh tuyên truyền pháp luật, mặt khác, chúng ta nên đề cao giáo dục lương tâm, trách nhiệm. Cho nên, quan niệm nhân quả hết sức có giá trị về quan niệm sống đối với người Việt.
Ngày nay, Phật giáo sống chan hòa cùng nhịp sống sôi động của xã hội loài người. Vẫn mong muốn hướng con người đến bến bờ hạnh phúc, để con người tìm thấy được “cực lạc”, được “niết bàn”. Tiếp nối truyền thống của cha ông, dũng cảm trong chiến đấu, cần cù trong lao động sản xuất, qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, quân và dân xã Kiều Phú nói chung, quân và dân thôn Cấn Hạ nói riêng với tinh thần và trách nhiệm đã làm tất cả để góp phần vào thắng lợi chung. Chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) đã biến thành nơi trú ẩn, hoạt động của nhiều tốp bộ đội; ngôi chùa chính là nơi bảo vệ che chắn cho những người chiến sỹ cách mạng ấy an toàn để hoàn thành sứ mệnh cao cả. Ngay cả vị sư trụ trì chùa trong thời gian kháng chiến cũng khoác áo lính, vừa để bảo vệ quê hương đất nước vừa bảo vệ cho Phật giáo.
Do nhiều nguyên nhân khách quan, qua các cuộc kháng chiến của dân tộc và sự biến thiên của lịch sử, di tích chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) không còn giữ được diện mạo các công trình kiến trúc cũ. Kiến trúc di tích hiện tồn là sản phẩm của những lần trùng tu, tôn tạo thế kỷ XX, XXI. Về cơ bản, các hạng mục của chùa và đề tài trang trí đều theo đúng nét nghệ thuật truyền thống. Chùa còn lưu trữ được hệ thống tượng mang PCNT TK XIX và XX, đôi hoành phi niên hiệu Khải Định 1919 và đặc biệt là chiếc chuông mang niên hiệu Chính Hoà 19 cùng với các hiện vật khác là một kho tàng nghệ thuật vô cùng đặc sắc và giá trị. Đây đều là những minh chứng cho một thời kỳ lịch sử gắn với sự tồn tại của ngôi chùa. Những hiện vật này giúp ích cho quá trình tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa, lịch sử địa phương.
Giá trị văn hóa là những giá trị mang tính sáng tạo, biểu hiện những năng lực của con người trong quá trình khai phá và phát triển của tự nhiên, đã được vật thể hóa và khách thể hóa trong hoạt động và trong sản phẩm của hoạt động người. Giá trị văn hóa chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) cũng bao hàm những yếu tố nội tại ấy.
Sự hiện diện của chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) ngày nay là một điểm sáng về tâm linh của cộng đồng trong sự cộng sinh nội tại, để từ đó lan tỏa tới mọi người, mọi nhà được thừa hưởng không gian văn hóa tâm linh đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Ngoài là nơi thờ Phật, chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) còn là trung tâm sinh hoạt của cộng đồng làng xã, nơi hội họp, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của dân làng. Tại đây, hàng năm vào các dịp lễ hội đã diễn ra các hoạt động văn hóa tín ngưỡng lành mạnh. Trải qua những thăng trầm của cuộc sống, các nghi lễ và đặc biệt là tinh thần đoàn kết của nhân dân trong làng vẫn luôn bền chặt, đây cũng là nơi nhân dân thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần đã che chở, âm phù cho nhân dân được yên ấm, dân khang vật thịnh. Đó cũng là cách mà các thế hệ đi trước giáo dục lòng nhân đức, truyền thống uống nước nhớ nguồn cho các thế hệ trẻ. Cùng với cụm di tích Đình Cấn Hạ (đã được xếp hạng) – quán Cấn Hạ và hệ thống di tích trên địa bàn thôn tạo nên bức tranh đầy đủ, đa dạng phản ánh về sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của nhân dân.Chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) cũng như các ngôi chùa khác đều ẩn trong mình tư tưởng chủ đạo của đạo Phật là dạy con người hướng thiện, có tri thức để xây dựng cuộc sống tốt đẹp yên vui trong hiện tại.
Về kiến trúc, chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) là di tích dân gian truyền thống. Có thể nói chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) xây dựng, tu bổ, tôn tạo theo phong cách của ngôi chùa truyền thống Việt nam, biểu hiện tính kế thừa mô típ kiến trúc truyền thống với nguyên vật liệu cổ truyền, vừa vững trãi, vừa mềm mại nhưng luôn giữ được vẻ cổ kính trang nghiêm của ngôi chùa thuần Việt cổ truyền.
Giá trị thẩm mỹ của di tích là giá trị nội tại, bao hàm ở những khía cạnh như giá trị về kỹ mỹ thuật, giá trị về nghệ thuật tạo hình, tư duy về cách bài trí di vật…
Sau khi tu bổ, tôn tạo, chùa Cấn Hạ (Ngọc Bào tự) đã phần nào hội đủ những nét tương đồng như thế. Những bộ vì truyền thống, những vật liệu cổ truyền, cách bài trí di vật, cảnh quan không gian…đã hàm chứa tại di tích này, tạo nên một di tích thuần Việt. Đặc biệt, hệ thống tượng mang PCNT TK XIX và XX, đôi hoành phi niên hiệu Khải Định 1918 và đặc biệt là chiếc chuông mang niên hiệu Chính Hoà 19 cùng với các hiện vật khác là một kho tàng nghệ thuật vô cùng đặc sắc và giá trị mang trong mình những giá trị đặc sắc về mỹ thuật truyền thống trong các giai đoạn lịch sử.
Mẹo từ An: Mẹo từ An-Trợ lý AI: Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Lưu ý trước khi đi
Nguồn: Google
Cập nhật: 09/10/2026