
Chùa Đinh Xuyên
GIỚI THIỆU DI TÍCH CHÙA ĐINH XUYÊN Thôn Đinh Xuyên được hình thành từ 2 làng Nam Dương và Đinh Xuyên của xã Hòa Nam cũ.
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 08/10/2026

GIỚI THIỆU DI TÍCH CHÙA ĐINH XUYÊN Thôn Đinh Xuyên được hình thành từ 2 làng Nam Dương và Đinh Xuyên của xã Hòa Nam cũ.
Nguồn: Google
Cập nhật: 08/10/2026
Thôn Đinh Xuyên được hình thành từ 2 làng Nam Dương và Đinh Xuyên của xã Hòa Nam cũ.
Làng Đinh Xuyên là nơi lưu giữ quần thể di tích lịch sử - văn hoá phong phú bao gồm đình và quán Đinh Xuyên, chùa Hưng Phúc cùng nhà thờ họ Nguyễn Thế là những công trình không chỉ mang giá trị kiến trúc nghệ thuật đặc sắc mà còn là nơi thờ phụng các vị Thành hoàng và danh nhân có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Các di tích Đình - Quán - Chùa thôn Đinh Xuyên đều là các di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia được xếp hạng theo Quyết định số 1057 ngày 14/6/1991 của Bộ Văn hoá.

Chùa Đinh Xuyên có tên chữ là Hưng Phúc tự. Chùa Hưng Phúc thuộc làng Đinh Xuyên có lịch sử xây dựng lâu đời. Trong di tích tại Toà Tam Bảo còn bảo tồn một số tác phẩm nghệ thuật thời Lê hiến quý. Tại chùa có một số pho tượng nghệ thuật khá đẹp, cùng với ngôi Đình nằm trên một vùng đất cổ làng Đinh Xuyên
Chùa Đinh Xuyên ở phía bắc của làng, nằm trên vùng đất có khu di tích Đình, Quán thôn Đinh Xuyên.

Chùa Đinh Xuyên có các hạng mục công trình, công trình: Tam quan, toà Tam Bảo, nhà Tổ kiêm nhà Khách. Đặc biệt khu chùa có cây Duối cổ thụ, tương truyền có độ tuổi bốn trăm năm tuổi trở lên.
Cổng chùa dựng sát đường Quốc lộ 21B. Đây là công trình văn hoá có kiến trúc nghệ thuật Nguyễn sớm. Hiện nay cổng Tam quan đến một cổng chính. Hạng mục kiến trúc làm theo kiểu Ngọ Môn Huế, quy mô to lớn, đồ sộ, vững chãi. Công xây tường dày 60cm, bố trí 2 tầng 8 mái che, đắp ngói dui. Những họa tiết trang trí theo thời gian đã hư hỏng, còn trần trụi một toà kiến trúc Tam quan khoẻ khoắn, đơn phương giữa trời nhưng rất đẹp.

Có diện tích xây dựng là 42m2. Kiến trúc kiểu chữ Đinh (J), tòa Đại bái có 5 gian, trong là Hậu cung chia 5 gian nhỏ. Đây là công trình kiến trúc chính của chùa, nửa theo hướng Tây. Đại bái có 4 vì kèo liên kết với nhau bởi 4 hàng cột, mỗi hàng có 4 cột gỗ loại nhỏ, mỗi cột đều có bệ đá kê hình vuông hoặc khối lồi tròn.

Vì kèo của Đại bái làm theo kiểu Thượng chồng rường hạ bẩy, giữa các khúc gỗ rường có kê đấu vuông. Không phát hiện bức cốn ở toà Đại bái. Hệ thống vì kèo phần lớn là bảo trơn đóng bén. Hệ thống cột xẻ đầu để ráp câu đầu, rường kèo và xà ngang dọc. Trên một số khác rường vuông vức soi chỉ ngoài còn có khúc chạm nổi văn hoa lá, mai cúc, chữ thọ... Lá hoa có đường nét hơi cứng, gân lá có chỉ vạch chìm, hàng chấm dài...


Hậu cung là hình chuôi vồ có 5 gian nhỏ chia 3 vì kèo và hai hàng cột chính, hai hàng cột phụ nâng vì ẩn vào đốc tường. Cấu trúc vì ở Hậu cung tương đối hỗn hợp: vì chồng rường, vì kẻ suốt, vì kẻ chuyền, vì chồng rường có cốn. Đây cũng là chứng cứ của quá trình tu sửa. Trong hệ thống kiến trúc, có hai bức cốn nghệ thuật chạm khắc đẹp.
- Bức cốn thứ nhất mô tả “Long Vân”: độc Long bay trong mây, thân rồng ẩn hiện qua các cụm mây xoắn. Lẫn với đuôi rồng xoáy cánh quạt, bộ móng chân rồng sắc, đầu bờm vươn dài mang uy lực của quyền thần.
Bức cốn thứ hại đối điện khắc chạm nổi tác phẩm “Rồng cuốn thuỷ”: Đây là đề tài thấy nhiều ở các di tích vùng đồng chiên trũng. Tác phẩm cho ta một tư duy của người làm nghề nông, mong muốn mưa thuận gió hoà của cây cối xanh tươi mang lại cuộc đời ấm no cho họ.

Ở Hậu cung: còn thấy một số đấu chạm khắc hoa sen, trụ vuông chữ triện, đầu rường khắc chìm văn lá, cánh sen và soi chỉ…. ở gian giữa câu đầu có ghi niên hiệu tu sửa chùa:
Trên bức tường xây của hậu Đình còn lưu được loại gạch của thế kỷ 18.
Nhà tổ kiêm nhà Khách kiến trúc quá giang kẻ suốt nghệ thuật bào trơn đóng bén, chất liệu gỗ thường.

Trước năm 1945 Hưng phúc tự là ngôi chùa cổ có hệ thống tượng phật thời Lê khá hoàn mỹ. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bọn xâm lược đã huỷ hoại ngôi chùa và hàng loạt những tác phẩm văn học nghệ thuật quý đã bị mất mát theo. Rất may mắn còn lưu tồn được 3 pho tượng Adiđà, tượng Tuyết sương và một pho Tam Thế, một quả chuông, 3 bia hậu phật bi ký.
- Pho tượng A di đà: là một tác phẩm nghệ thuật đẹp, lại có bề thế chạm khắc lớn đặt giữa Tam bảo. Tác phẩm chia hai phần: Tượng và Bệ tượng.
Pho tượng ở tư thế ngồi khoanh chân hình tròn hai tay khép trong lòng. Chỉ số đo chiều cao 1m57, chiều ngang giáp bệ đường kính chỗ rộng nhất 80cm, chu vi lồng ngực 2,10m, bệ cao 35cm, đường kính bệ 1,10m trang trí 3 lớp cánh sen, cảnh rộng 22m, cao 20m.
Quan sát: trên chỏm đầu tượng thể hiện một u tron đó là "Vô kiến đỉnh" (một biểu hiện lâu tâm thông của đức phật, đó là tiếng nói trí tuệ to lớn có thể thấy trước, thấy sau, thấy cả vũ trụ, cả thứ vĩ mô nhỏ bé nhất, chỉ có mắt trí tuệ của thần linh mới thấy được. Bao quanh đầu tượng quý là cụm tóc xen nhau theo kiểu xoắn ốc, thể hiện chữ "Phạn" nhà phật, là hào quang toả muôn cõi trần gian. Mặt tượng trái xoan, tất cả các chi tiết mắt to hiền, mũi thẳng, nhìn đôn hậu gần gũi với bộ mặt bình thường nên tượng ít nhiều có tính chất chân dung Tai phật khác thường to và dài, cổ cao 3 ngấn, thân mặc Tà áo dài áo chảy dài, tạo nhiều lớp lượn cong như đường biên của lá sen giữa ngực có nút hình chữ “Phạm” và các dải lụa óng ả. Nhìn chung lại các chi tiết nghệ thuật ở đầu, mũ, ngực tượng nở, khuôn mặt rất dân gian.
Pho tượng A di đà trong tư thế ngồi thiền định, còn mang nhiều chất của tâm hồn Việt Nam. Đường nét mềm mại, uyển chuyển, mặc áo cà sa, kéo dài, vẫn xoắn búi tóc biểu hiện cho âm dương sự tồn tại vĩnh hằng của phật pháp. Tượng làm bằng gỗ và chạm khắc cực chuẩn của tượng phật thời hậu Lê (thế kỷ 18).
- Tượng Tam thế: là pho tượng nhỏ vừa phải ở tư trở ngồi trên toà sen, trên đỉnh có vô kiến đỉnh và cụm tóc xoắn ốc biểu thị sự hào quang của nhà Phật như pho A di đà đã miêu tả phần trên. Khác ở chỗ tượng ngồi ở tư thế một tay chỉ lên trời, một tay đặt vào lòng, mắt phật hơi khép hờ nhìn xuống dịu dàng soi rọi xuống lương tâm. Miệng tượng đối ngạn vẫn phảng phất nụ cười mang tính cứu độ.
Nhìn chung đây là một pho tượng đạt giá trị nghệ thuật, đứng trước phật, từ nghệ thuật và pháp phật người đời thường yêu nghệ thuật càng phát hiện ra những ý nghĩa thâm sâu mà người xưa muốn gửi đến cho đời sau.
Pho Tam thế còn sót lại ngồi trên tòa sen, ở quy mô nhỏ, toà sen cũng có 3 lớp, cánh đậm, hai tầng cách hướng lên, tầng dưới cụp xuống như đài sen của pho A di đà. Bởi cùng hệ thống tượng, chế tác cùng hiệp nghệ nhân nên phong độ ăn nhập hài hoà nhau.
- Pho tượng Tuyết sương: được đục chạm rất công phu, ở tư thể ngồi khoanh hai tay chắp đầu gối, một chân chống, một chân khoanh tròn. Tượng được mô tả thực, người gây guộc, mắt nhìn sâu suy nghĩ vào cuộc sống chúng sinh, muốn như răn bảo những điều thiện.
Chỉ số đo tường cao 78cm, lồng ngực 59cm, chân chống cao 35cm, ngang bệ 47cm. Thân tượng chạn rõ từng dẻ xương sườn, gầy khô, trên mình đóng khố, những dải khố mềm vắt từ vai qua thân lượn vào cánh tay. Hai tay khoanh vào đầu gối hợp với cấu tạo thế ngồi khóa. Khuôn mặt nom khắc khổ, dái tai dài, sắc cạnh. Đây là pho tượng có dáng thấp như Tuyết sương ở Chùa Tây Phương.
Tóm lại: Ba pho tượng còn sót lại qua bao cuộc chiến tranh. Đây là tác phẩm nghệ thuật, là kết quả lao động cần cù và trí thông minh sáng tạo của tổ tiên ta còn để lại.
Tiếng nói của nghệ thuật sẽ đưa chúng ta hiểu được truyền thống văn hoá, xã hội và kinh tế thời đó. Giữ gìn tác phẩm nghệ thuật phải coi là vật báu, là tư liệu nghiên cứu lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hoá của một thời. Đồng thời cũng là chứng liệu nói về truyền thống lịch sử quê nhà qua từng thế kỷ.
Ngoài ra, ở chùa còn một chuông đồng đúc vào năm Hoàng triều Minh Mệnh Lục niên (1825) Chuông đồng là một tác phần của kỹ thuật đúc đồng, là một thanh nhạc và trên đó có nghệ thuật trang trí khuôn đúc rất công phu: hoa chanh, trám, chấm tròn, cánh sen, chữ triện...
* Niên đại ngôi chùa
Ngôi chùa hiện tại đã được làm lại vào thời Nguyễn. Theo tương truyền của nhân dân: việc làm Đình năm Quý Hợi (1863), thì trước đó đã làm lại chùa. Lại xem bia hậu bi ký vào Hoàng triều Tự Đức nhị thập niên (1859) nhiều người hương thôn cung tiến làm lại chùa. Như vậy từ năm 1859 nhân dân Hưng Công một năm sau 1860 (Thái tuế Canh Thân niên) hoàn thành tu bổ lại chùa to như hiện nay.
Tuy nhiên đây là lần sửa rất lớn, ngược lại chùa Đinh Xuyên có niên đại sớm hơn nữa dựa vào:
1 - Hậu phật bi ký năm Hoàng Triều Gia Long thập thất nguyệt sơ nhị nhật (1818).
2 - Các pho tượng quý ở thế kỷ 18.
Qua đây nhận định rằng: năm Gia Long 17 (1818) đây đã có chùa, nên dân hưng công tu sửa đã ghi vào bia hậu, Chùa phải có trước thời Nguyễn. Do có tư liệu lô gích, lại có tượng phật của chùa thế kỷ 18. Đây là chứng cứ khoa học, cho ta những nhận xét bước đầu bàn thêm về niên đại khởi nguyên của Chùa Hưng Phúc có thể vào thời hậu Lê (thế kỷ 18).
- Những hiện vật để kiểm kê đưa vào danh mục.
- Bia hậu: 3 chiếc làm vào triều Gia Long thất thập nguyệt 17 (1818). Tự Đức 12 (1859) và Minh Mệnh 6 ( …..)
- Bình hương sứ sành: 8 chiếc
- Cây đèn gỗ: 9 chiếc
- Ống hương gỗ: 10 chiếc
- Lộc bình sứ: 8 chiếc
- Mâm bồng gỗ: 7 chiếc
- Đài lễ gỗ: 9 chiếc
- Hạc đồng thờ: 4 con
- Chuông Minh Mệnh lục niên (1825): 1 quả
- Tượng gỗ: 18 pho
- Ngai thờ: 6 chiếc
- Án gian: 1 chiếc
- Hòm đựng sách kinh phật: 1 chiếc.
Chùa Đinh Xuyên là một công trình kiến trúc nghệ thuật đã trải qua nhiều đời, có một số tác phẩm nghệ thuật quý thời Hậu Lê. Công trình văn hoá có nhân dân quan tâm, nhiều lần được tu sửa nên tương đối vững chãi, thoáng đãng.
Chùa Đinh Xuyên là nơi thờ Phật. Đây là công trình văn hoá có kiến trúc cổ. Chùa còn bảo tồn được nhiều tác phẩm nghệ thuật quý, kết tinh được thành quả lao động cần cù và trí thông minh sáng tạo của nhân dân xã nhà.





Nguồn: Google
Cập nhật: 08/10/2026