Chùa Liệp Mai
1.Cấp xếp hạng Chùa Liệp Mai xếp hạng tại Quyết định số 47QĐ/UB ngày 10/01/2023 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) nay là UBND thành phố Hà Nội 2.Giới thiệu…
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 20/10/2026
1.Cấp xếp hạng Chùa Liệp Mai xếp hạng tại Quyết định số 47QĐ/UB ngày 10/01/2023 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) nay là UBND thành phố Hà Nội 2.Giới thiệu…
Nguồn: Google
Cập nhật: 20/10/2026
Chùa Liệp Mai xếp hạng tại Quyết định số 47QĐ/UB ngày 10/01/2023 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) nay là UBND thành phố Hà Nội
Chùa Liệp Mai được tồn tại nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của cộng đồng dân làng Liệp Mai. Nơi đây là một kiến trúc Phật giáo thờ Phật theo phái Đại Thừa. Vì vậy, chùa Liệp Mai thuộc di tích kiến trúc nghệ thuật dạng chùa.
Căn cứ vào bốn đá tảng kê chân cột chạm hoa sen thời Lê Sơ (thế kỷ XV) với hai bộ vì gian trong Thượng điện có hàng cột cái khá thấp ta có thể thấy nguyên gốc chùa Liệp Mai là một ngôi chùa cổ có kiểu thức 1 gian chính với 2 dĩ nhỏ - kiểu thức thường gặp ở các ngôi chùa có niên đại thời Mạc về trước như: chùa Nả (Ba Vì), chùa Từ Am (Thanh Oai)... Sau này qua các lần tu sửa ngôi chùa đã được tôn tạo, mở mang cho rộng rãi hơn ở thời Hậu Lê và thời Nguyễn, tuy nhiên kiến trúc vẫn chùa khiêm tốn, bình dị hoà trong cảnh quan tổng thể với các công trình kiến trúc khác của làng.
Hiện tại chùa chính được xây dựng nhìn hướng Nam có bố cục kiểu tiền nhất, hậu đinh với các hạng mục kiến trúc chính là: Tam quan, Tiền đường và Thượng điện. Phía trước Tiền đường chếch về bên hữu là nhà Mẫu làm hướng Đông trông về sân lọng nối giữa Tam quan và Tiền đường.
Trước kia, ngoài Tam quan là một ao chùa khá lớn, con đường vào chùa được làm thẳng với gian giữa Tam quan, đúng nghĩa là con đường "chính đạo" của Phật giáo.
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đến nay, có nhiều biến động về đất đai nên hiện nay lối vào chùa được mở đi vào ở phía sườn bên hữu.
Tam quan chùa được làm ba gian, hồi bít đốc, hai mái chảy lợp ngói, phía trước và phía sau để thông thoáng. Các bộ vì đỡ mái Tam Quan được làm theo hai kiểu thức khác nhau trên mặt bằng 4 hàng chân cột, trong đó hai bộ vì gian giữa được làm kiểu: thượng giá chiêng, hạ kẻ, bẩy hiên quá giang trốn hàng cột cái. Hai bộ vì gian hồi được làm kiểu kèo kẻ cánh ác, xà lòng nối từ cột quân tiền qua thân hai cột cái ra cột quân hậu.
Từ Tam quan, qua một khoảng sân lát gạch bát rộng 2m97 là tới Tiền đường. Toà Tiền đường có chiều dài là 9m98, rộng 8m80 được tu sửa theo kiểu hai mái chảy, hồi bít đốc vào năm triều vua Bảo Đại. Bờ chảy đắp bờ đinh, bên dưới xây giật cấp với các đấu trụ đơn giản.
Vào bên trong, Tiền đường được chia làm 5 gian, tương ứng với các gian là 6 bộ vì đỡ mái. Trước kia ở hàng cột cái tiền có mở hệ thống cửa bức bàn chạy dọc các gian, thời kỳ kháng chiến ngôi chùa bị xuống cấp nên dân làng đã dỡ cửa bức bàn đi và xây tường gạch ra ngoài để đỡ bẩy và lắp cửa panô 2 cánh ở ba gian giữa để thuận tiện cho sử dụng.
Các bộ vì đỡ mái Tiền đường được làm theo hai kiểu. Bốn vì giữa được làm kiểu thượng giá chiêng, hạ kẻ bẩy trên mặt bằng bốn hàng chân cột gỗ. Một câu đầu lớn khoẻ nối hai đầu cột cái theo kiểu mộng xẻ đầu cột. Câu đầu đỡ hai trụ trốn qua hai đấu kê nhỏ, đầu hai trụ trốn đỡ một rường bong lợn đội thượng lương qua một đấu hình thuyền. Hai kẻ ăn mộng từ đầu trụ trốn bên dưới rường bụng lợn ra đầu câu đầu tạo nên vì thượng. Kẻ ăn mộng từ cột cái bên dưới câu đầu ra đầu cột quân để đỡ các hoành mái qua ván dong. Từ đầu cột quân là bẩy hiên (hậu) ăn mộng vào và vươn ra ngoài đỡ hoành hạ và tàu mái. Hai bộ vì gian hồi phần thượng được làm tương tự các bộ vì gian giữa, phần hạ thay cho kết cấu kẻ chuyền xà nách là các rường cụt đặt chồng lên nhau phía trên xà nách, một đầu rường ăn mộng vào thân cột cái, đầu kia đỡ các hoành mái. Các rường được chạm vân xoắn, mây cụm cách điệu nghệ thuật thời Nguyễn.
Thượng điện chùa Liệp Mai là một ngôi nhà dọc ba gian nối liền với gian giữa Tiền đường. Bộ vì nối với Tiền đường được làm theo kiểu thượng ván mê chạm lưỡng long chầu nguyệt, hạ cốn mê chạm triện tàu lá giắt. Các bộ vì còn lại được làm tương tự như bộ vì gian giữa Tiền đường.
Nhìn chung ở chùa Liệp Mai đa phần các hạng mục kiến trúc gỗ được bào trơn đóng bén, thân các kẻ, bẩy bào soi vỏ măng, các rường nách chạm hoa văn mây cụm, vân xoắn, ván mê chạm lưỡng long chầu nguyệt và triện tàu lá giắt... phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Vì vậy nghệ thuật điêu khắc trong chùa còn được thể hiện qua hệ thống tượng Phật và các di vật gỗ, đồng, gốm, đá còn lại ở chùa.
Tượng Phật chùa Liệp Mai tuy không nhiều nhưng tương đối đầy đủ các pho tượng truyền thống. Tượng chủ yếu được bày ở Thượng điện, ngoài ra ở Tiền đường có bày tượng Đức ông, Thánh hiền, Quan Âm tống tử và hai pho Hộ pháp. Ở điện Mẫu có tượng Mẫu và hai pho tượng nhỏ cô cậu.
Trong Thượng điện, ở vị trí cao nhất là ba pho tượng, ở giữa là A di đà, bên tả là một pho trong bộ tượng Tam thế, bên hữu là tượng Thích Ca thành đạo. Tượng Tam thế có chiều cao 65cm, ngang vai 27cm, ngang đùi 43cm, đầu cao 22cm, được tạo tác trong thế ngồi kết già trên toà sen, tay kết định ấn đặt ngửa trên lòng đùi. Sọ tượng nở, tai to chảy dài, huyệt vô kiến đỉnh được làm nổi cao thành một vầng sáng trên đỉnh đầu. Áo tượng hai lớp, lớp trong thắt múi trước bụng, cà sa khoác ngoài xếp nếp mềm mại. Tượng có phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII. Đài sen của lớp tượng này gồm ba lớp cánh đơn ngửa mới được tu tạo lại thời kỳ kháng chiến.
Tượng A di đà (còn có tên gọi là Vô lượng thọ Phật hay Vô lượng quang Phật) có chiều cao 85m, ngang vai 39cm, ngang đùi 65cm, đầu cao 29cm tạc trong thế ngồi âm dương trên toà sen, tay kết định ấn đặt ngửa trên lòng đùi. Tượng có sọ nở, u nhục kháo nổi cao, mặt tượng trái xoan đầy đặn, vai xuôi, eo đầy, ngực nở chạm nổi chữ vạn. Áo tượng hai lớp xếp nếp thả mềm mại. Đài sen của tượng cao 21cm được làm ba lượt cánh đơn ngửa. Tượng có niên đại nửa đầu thế kỷ XIX.
Tượng Thích Ca thành đạo có chiều cao 71cm, ngang vai 35cm, rộng lòng đùi 59cm, đầu cao 27cm, tư thế ngồi kiết già trên toà sen, hai tay kết ấn liên hoa trước ngực. Khuôn mặt tượng trái xoan, u nhục kháo nở, huyệt vô kiến đính nổi rõ. Tượng có phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
Đài sen của tượng cao 18cm, chia thành 3 lớp cánh đơn ngửa, các cánh sen dầy, mập, mũi cao - phong cách nghệ thuật thời Lê (thế kỷ XVIII).
Lớp thứ hai là tượng Di Lặc ở bên tả và tượng Tuyết Sơn ở bên hữu. Tượng Di Lặc cao 65cm, rộng lòng đùi 57cm, rộng vai 37cm. Tượng có khuôn mặt tươi cười, miệng cười hỉ hả, tay để tự nhiên, bụng nở căng... Tượng Tuyết Sơn cao 67cm, rộng vai 31cm, rộng lòng đùi 45cm, dáng gầy gò, khuôn mặt đăm chiêu biểu hiện hoá thân của đức Thích Ca khi tu hành chưa đắc đạo.
Lớp thứ ba là tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ. Hai tượng có số đo tương tự nhau, cao 109cm, rộng ngang vai 29cm, tượng được tạo tác tư thế đứng trên bệ, tóc búi ngược ngoài đội mũ, phía trước mũ có trang trí hình mặt trời và mây xoắn, áo tượng hai lớp buông chùng mềm mại, tượng Ngọc nữ có thắt lưng hình hoa bụng. Hai tay các tượng trong tư thế đứng chầu. Tượng có niên đại nửa đầu thế kỷ XIX.
Lớp thứ tư là tượng Ngọc Hoàng thượng đế, tượng này được du nhập từ hệ thống thần điện của Đạo giáo vào chùa. Tượng có chiều cao 125cm, ngang vai 46cm, rộng lòng đùi 51cm được tạo tác trong tư thế ngồi trên bệ giả long ngai, đầu đội mũ bình thiên, mình mặc long bào có cẩn rồng; mây, hổ phù, hai tay cầm hốt lệnh chỉ. Chất liệu tượng thổ, niên đại thế kỷ XIX.
Hai pho Thị giả dâng hoa hai bên cao 83cm, ngang vai 27cm, ngang đùi 33cm. Tượng có ngực nở, eo thon, váy nom buông chùng có thắt lưng hình hoa trước bụng, hai tay trong thế dâng hoa sen. Tóc búi cao bên ngoài có chóp tóc trang trí hình hoa. Chất liệu tượng thổ, niên đại cuối thế kỷ XVIII.
Lớp thứ 5 ở giữa là toà Cửu long, hai bên là tượng Nam Tào, Bắc Đẩu. Toà Cửu hình vòm cầu cao 125cm, rộng 87cm miêu tả không gian lúc đức Thích Ca giáng trần, cả bầu trời có 9 con rồng nhao mình phun nước tắm cho ngài, trên tầng cao là các tiên nữ, chư Phật chứng kiến và ca múa mừng ngày ngài giáng sinh. Tương truyền khi mới lọt lòng mẹ, ngài đã đi được bảy bước, nở ra bảy bông hoa sen và nói: thượng thiên hạ địa duy ngã độc tôn (trên trời, dưới đất chỉ mình ta là cao quý nhất).
Hai bên của tượng Cửu long là tượng Nam Tào và tượng Bắc Đẩu ngồi đối diện nhau. Hai pho tượng này có chiều cao 103cm, rộng ngang vai 40cm, rộng ngang đùi 51cm, đầu đội mũ cánh chuồn, mình mặc triều phục, chân đi hài. Đây là hai vị quan nhà trời chuyên coi sóc việc sinh tử ở cõi nhân gian. Tượng có niên đại thời Nguyễn.
Hai bên sườn Thượng điện là nơi toạ lạc của bộ tượng Thập điện Diêm vương, mỗi bên bố trí 5 pho có kích thước và tạo dáng tương tự nhau. Tượng cao 103cm, ngang vai 32cm, rộng lòng đùi 39cm. Thập điện diêm vương là 10 vị vua cai quản các miền âm ty, mỗi vị đứng đầu một điện để xét công luận tội những người mới mất, trên cơ sở ấy mà ban thưởng hay trừng phạt, sau đó cho đầu thai ở kiếp tương ứng.
Góc bên trái hồi Thượng điện là nơi toạ lạc của tượng Quan âm chuẩn đề, đây là pho tượng mới được đưa vào. Góc bên phải hồi là nơi toạ lạc của tượng Quan Âm toạ sơn. Tượng cao 77cm, ngang vai 35cm, ngang đùi 50cm, tư thế ngồi trên hòn giả sơn (giả sơn này đã bị mất, nay được thay bằng bệ sen nên chưa phù hợp với tượng). Tóc tượng búi, ngoài đội mũ, khuôn mặt trái xoan hiền hậu mang nét chân dung. Tượng có niên đại thế kỷ XIX.
Ngoài Tiền đường còn có các pho tượng sau:
Hai pho Hộ pháp có số đo cao 221cm, ngang vai 85cm, ngang gối 96cm. Đây là hai vị thần tướng bảo vệ pháp báu của đức Phật theo nguyên tắc khuyến và giới. Vị bên trái là Khuyến thiện mặt hiền từ, tay cầm viên ngọc minh châu biểu thị ánh sáng của Phật pháp. Vị bên phải là Trừng ác, tay cầm thanh long đao, mắt xếch hơi dữ, khuyên răn con người chớ làm điều ác. Cả hai pho đầu đội mũ kim khôi, mình mặc áo giáp nhẫn nhục, chân đi giày và đều ngồi trên mình sư tử. Sư tử có chiều cao 157cm, rộng 75cm, cao 76cm.
Ở về hai phía của hai pho Hộ pháp là bộ tượng Đức ông, người trông nom trực tiếp ngôi chùa. Tượng trong tư thế ngồi trên long ngai, đầu đội mũ cánh chuồn, mặt đỏ, ngực áo có trang trí hoa văn hình rồng. Hai bên Đức ông có hai trợ thủ là Già Lam và Chân Tể giúp Đức Ông giữ gìn, bảo vệ cảnh chùa, đất Phật.
Bộ tượng Thánh hiền (Thánh Tăng) là đại diện cho hàng tăng chúng để truyền kinh pháp của đức Phật cho chúng sinh. Tượng trong tư thế ngồi trên bệ, đầu đội mũ thất phật, áo cà sa màu vàng nhạt. Hai bên của Đức Thánh Hiền có hai trợ thủ là Diệm Nhiên và Đại Sĩ vốn là hai con quỷ, nghe giảng kinh Phật nên thấu hiểu và đã im lặng không quấy nhiễu để cho mọi người được no đủ.
Bên hồi phải Tiền đường có một pho tượng Quan âm tống tử, vốn dĩ là pho tượng nằm trong động tượng. Tượng được làm tương tự như tượng Quan âm toạ sơn nhưng có bế một tiểu đồng trên tay. Chất liệu tượng thổ, niên đại thế kỷ XIX. Đây là pho tượng tương đối đẹp ở chùa Liệp Mai.
ai có tâm [...] lễ Phật. Chi phí cho các ngày lễ, giỗ xưa kia có ruộng hậu Phật, nhà chùa chỉ thông báo cho các chùa và toàn dân ra làm giúp, mọi chi phí do nhà chùa lo liệu. Ngày nay các ngày giỗ được các vãi làm giản tiện và tiết kiệm hơn nhưng cũng không kém phần long trọng.
Ngoài ra nằm trong khu vực liền kề với đình và đền làng nên vào các ngày hội làng thì nhà chùa cũng thường xuyên mở cửa cho dân làng và khách thập phương đến chùa lễ Phật, thăm viếng cảnh chùa.
Nhìn chung, ở chùa Liệp Mai các vãi già và dân làng rất có thiện tâm, nhiệt tình với khách vãng cảnh và đặc biệt không có hiện tượng mê tín dị đoan xảy ra ở đây.
Chùa Liệp Mai tồn tại cho đến ngày nay đã mang trên mình một chiều dày lịch sử nhất định. Các di vật chân đá tảng chạm hoa sen thời Lê sơ còn lại đã khẳng định độ tuổi di tích là trên dưới 500 năm. Trải qua nhiều triều đại hưng thịnh rồi suy đã một phần nào ảnh hưởng đến di tích. Bên cạnh đó là những biến động của thời gian vì vậy mà hiện vật của di tích một số đã bị lưu lạc, một số khác bị hư hỏng. Tuy vậy chùa vẫn giữ được quy mô và giá trị của một kiến trúc Phật giáo truyền thống.
Điêu khắc nghệ thuật trong chùa được biểu hiện tập trung qua hệ thống tượng tròn trên Phật điện. Tượng chùa Liệp Mai có số lượng không nhiều, được tạo tác từ gỗ với những kích thước khác nhau đều là những pho tượng được tạo tác tỉ mỉ, công phu. Mỗi pho mang một vẻ đẹp riêng, đặc trưng cho thời kỳ tạo tác, đồng thời mỗi pho cũng lại mang những nét khái quát tiêu biểu cho tính cách của từng nhân vật cụ thể.
Ngoài giá trị tự nhiên, vẻ đẹp của các pho tượng còn được tôn thêm bởi sự bài trí hợp lý trong không gian chung thống nhất của ngôi chùa. Với thế đất cao ráo, ngôi chùa u tịch, ẩn hiện giữa các vòm cây tán lá, cảnh quan sơn thuỷ hữu tình như mời gọi khách vãn cảnh hành hương.
Nguồn: Google
Cập nhật: 20/10/2026