
Chùa Ngọc Than
Chùa Ngọc Than được xếp hạng cấp quốc gia tại Quyết định số 3094/QĐ-BVHTT ngày 23/9/2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Chùa Ngọc Than nằm ở vị…
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 02/10/2026

Chùa Ngọc Than được xếp hạng cấp quốc gia tại Quyết định số 3094/QĐ-BVHTT ngày 23/9/2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Chùa Ngọc Than nằm ở vị…
Nguồn: Google
Cập nhật: 02/10/2026
Chùa Ngọc Than được xếp hạng cấp quốc gia tại Quyết định số 3094/QĐ-BVHTT ngày 23/9/2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Chùa Ngọc Than nằm ở vị trí trung tâm của làng, theo lối kiến trúc cận đại, kiểu “nội công - ngoại quốc” gồm một chùa chính 5 gian, 2 chái, có hậu cung lớn. Chùa Ngọc Than được xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hoá năm 2011. Qua khảo sát giá trị quý hiếm của chùa, năm 2014, Chùa được Nhà nước xếp hạng Di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp quốc gia. Ngôi chùa tồn tại cùng làng Ngọc Than từ thời Hậu Lê và đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa: Vào năm Minh Mạng (1822), Thiệu Trị (1844) và trùng tu lớn vào thời Bảo Đại. Nhưng trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ vĩ đại của dân tộc, ngôi chùa đã bị giặc tàn phá, rơi vào cảnh hoang sơ, đổ nát. Vì Chùa từng là nơi hội họp của cán bộ cách mạng từ Trung ương đến địa phương. Trong Chùa còn có hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, cất giấu vũ khí, có đóng góp đáng kể cho kháng chiến cứu nước cho đến ngày toàn thắng.
Chùa Ngọc Than thờ Phật, theo phái Bắc Tông là tông phái truyền vào Việt Nam theo con đường của các tăng sĩ Trung Hoa cổ đại. Đối với người dân Ngọc Than, Chùa chính là nơi dùng giáo lý nhà Phật để khuyến thiện, trừ ác, giáo dục lòng nhân ái của con người. Do đó có thể nói chùa Ngọc Than là nơi lưu giữ, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Không chỉ là nơi thờ Phật, trong chùa Ngọc Than còn thờ những người có công đức với làng, với xã, có nhà thờ Tổ, thờ Mẫu, một số loại hình tín ngưỡng dân gian của người Việt cổ được lưu truyền và tồn tại đến nay. Chùa Ngọc Than còn có giá trị khoa học, lịch sử. Vì Chùa thờ Phật theo phái Đại Thừa - một tôn giáo đã du nhập vào nước ta rất sớm, có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người dân nước ta. Nên chùa Ngọc Than được đánh giá là ngôi chùa có giá trị văn hoá bởi khung cảnh thiền vị, thoát tục, có ảnh hưởng rất lớn đến nếp sống thuận từ, đạo đức, quý trọng hoà bình. Bằng những giáo lý của nhà Phật luôn khuyên con người hướng tới chân - thiện - mĩ.
Kiến trúc đình Ngọc Than được đánh giá là rất phóng khoáng, kết hợp hài hoà với thiên nhiên, dáng vẻ thanh nhã mà vẫn bề thế, tôn nghiêm. Các di vật quý giá trong Đình được bảo tồn, gìn giữ cẩn thận. Đình Ngọc Than thờ 2 vị thành hoàng đều là anh hùng dân tộc. Một là Lý Bí - người đã đứng lên khởi nghĩa chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc lần 2 (544-548) và đánh tan cả quân Lâm ấp ở miền trong, đem lại hoà bình, lập lên nhà nước độc lập lấy tên Vạn Xuân. Ông xưng Đế năm Giáp Tý (544). Người anh hùng thứ hai được kính thờ làm thành hoàng là dũng tướng Phạm Tu - một danh tướng của Lý Bí - đứng đầu hàng quan võ, được phong làm thái sư triều Lý. Năm Đinh Mão (547), ông đem quân đến giải vây cho tướng Triệu Túc ở Vân Đồn thì bị quân Lương bao vây. Ông đã anh dũng hy sinh trong trận chiến. Năm Cảnh Hưng thứ 17 (1757), nhà vua ban sắc lệnh cho làng Ngọc Than được thờ vua tiền Lý Nam Đế (Lý Bí) và danh tướng Phạm Tu.
Trong kháng chiến chống Pháp, đình Ngọc Than còn là nơi che chở và nuôi giấu một bộ phận chính quyền, ban ngành Trung ương và chính quyền Huyện cùng một bộ phận của Văn phòng Chính phủ. Năm 1947, sau khi đọc xong thơ chúc tết ở chùa Trầm, Bác Hồ đã ghé về đây. Trong kháng chiến chống Mỹ, nhiều lần đồng chí Hoàng Quốc Việt cũng đã về thăm lớp huấn luyện đặt tại Đình.
Có thể nói cụm di tích Chùa - Văn chỉ - Đình của làng Ngọc Than có giá trị quý giá về lịch sử, văn hoá, kiến trúc.
Là một di tích tôn giáo thờ Phật, thờ Tổ và thờ Mẫu, chùa Ngọc Than, xã Kiều Phú đã hội tụ đầy đủ các giá trị khoa học, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật.
Về giá trị khoa học, lịch sử: Chùa Ngọc Than thờ Phật theo phái Đại thừa, một tôn giáo đã du nhập vào nước ta từ rất sớm, đã có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người dân nước ta. Vùng núi Sài Sơn -Tây Phương có nhiều ngôi chùa cổ như chùa Thày, chùa Tây Phương... đã từng là những
trung tâm Phật giáo lớn trong vùng. Lịch sử hình thành và phát triển của các thiết chế tôn giáo thờ Phật tại đây có ý nghĩa, giá trị to lớn trong công tác nghiên cứu về vùng đất, con người, cũng như về kỹ, mỹ thuật truyền thống.
Về giá trị kiến trúc, nghệ thuật: Tất cả ngôi chùa Việt Nam đều mang đậm dấu ấn của triết lý Á Đông. Những tinh hoa của nền triết lý này đã được thể hiện thành kiền trúc, hoa văn biểu tượng của ngôi chùa. Ngôi chùa cũng được phối trí hài hòa với cảnh sắc thiên nhiên. Hình ảnh và môi trường của ngôi chùa gọi lên trong mọi người những cảm xúc thăng hoa, thanh thoát.
Bằng vào những cứ liệu còn sót lại, có thể cho rằng chùa Ngọc Than đã xuất hiện tại đây từ thời Lê, song trải nhiều biến thiên của lịch sử, ngôi chùa như thời khởi dựng không còn. Dáng dấp kiến trúc hiện nay là sản phẩm kiến trúc thời Nguyễn, của những lần phục dựng, trùng tu. Hệ thống tượng tròn có niên đại trải dài từ cuối thế kỷ XVIII đến thế ký XIX thực sự là những tạo hình đẹp, có giá trị, góp phần không nhỏ cho nghiên cứu mỹ thuật tạo hình Việt Nam.
Các di vật bia đá, chuông, khánh đồng cũng là những di vật quý, hiện được bảo quản trong tình trạng tốt, góp phần quan trọng tạo nên giá trị nhiều mặt của ngôi chùa.
Về giá trị văn hóa: Nét văn hóa mang tính hướng nội của ngôi chùa là nếp sống, sinh họat. Chính nếp sống giới - định - tuệ của tăng ni đồ đã tạo thành năng lực tự nội và mang sức ảnh hưởng lan tỏa đến xung quanh. Người xuất gia là thiền gia, sinh hoạt nhà chùa là sống thiền và cảnh chùa là cảnh thiền. Cảnh thiền môn luôn là không gian yên tĩnh, trầm mặc, linh thiêng. Sự huyền nhiệm này đã tác động đến những tâm hồn mê muội trong chốn trần ai, khiến người ta giật mình chiêm nghiệm về nhân tình thế thái, về thân phận con người trong giấc mộng ba sinh. Chính khung cảnh thiền vị, thoát tục của ngôi chùa đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của dân chúng. Bởi thế, nếp sống thuần từ đạo đức, quý chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam đã mang dấu ấn đậm nét từ nếp sống của ngôi chùa. Nét văn hóa độc đáo của ngôi chùa được thể hiện qua cơ sở giáo dục văn hóa. Một ngôi chùa được xây dựng lên là do
nhân dân công đức. Trong xã hội cũ chùa làng được dân làng xây cất. Do vậy, chùa là của chung và là nơi tổ chức hội họp, sinh hoạt văn hóa. Như thế ngoài
chức năng tôn giáo chùa còn là cơ sở sinh hoạt văn hóa.
Mẹo từ An: Mẹo từ An-Trợ lý AI: Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Lưu ý trước khi đi
Nguồn: Google
Cập nhật: 02/10/2026