
Chùa Phù Lưu Hạ
GIỚI THIỆU VỀ DI TÍCH CHÙA PHÙ LƯU HẠ Kính chào quý khách!
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 13/10/2026

GIỚI THIỆU VỀ DI TÍCH CHÙA PHÙ LƯU HẠ Kính chào quý khách!
Nguồn: Google
Cập nhật: 13/10/2026
Kính chào quý khách!
Chào mừng Quý khách đến với thôn Phù Lưu, xã Hòa Xá để cùng chiêm bái di tích lịch sử văn hóa Chùa Phù Lưu Hạ thôn Phù Lưu, xã Hòa Xá.
Chùa Phù Lưu Hạ, thôn Phù Lưu, xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội là di tích lịch sử văn hóa cấp Thành phố theo Quyết định số 1979/QĐ-UBND ngày 14/11/2026 của UBND tỉnh Hà Tây cũ.
Thôn Phù Lưu thuộc xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội. Với vị trí toạ lạc ven sông Đáy, được phù xa bối đắp, đất đai màu mỡ, ruộng đồng được nguồn nước tưới tiêu dồi dào thuận lợi cho canh tác nông nghiệp. Theo một số tài liệu thì ngay từ những ngày đầu công nguyên mảnh đất Hòa Xá đã sớm có cư dân đến sinh sống. Thời kỳ Ngô Quyền dựng nên nến tự chủ (939-965), tại đây đã hình thành các cụm dân cư vừa và lớn. Thời vua Lý Thái Tổ mặc dù mới lên ngôi nhưng đã có sự chia lại khu vực hành chính trong nước, đổi 10 đạo thời Đinh - tiền Lê thành các Lộ và Phủ (có 24 phủ, lộ trên địa bàn cả nước). Căn cứ vào cuốn Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi thế kỷ XV và cuốn Đại Nam nhất thống chí thế kỷ XIX thì lúc đó mảnh đất này chính thuộc Lộ Ứng Thiên gồm kinh đô Thăng Long và một phần đất phía Nam Hà Nội chính là mảnh đất Hà Tây bây giờ. Trải các triều đại phong kiến về sau cộng đồng làng xã càng ngày càng tiếp tục phát triển và đi vào ổn định.
Đến nhà Nguyễn thế kỷ XIX, Phù Lưu (có tên gọi khác là Kẻ Dầu) thuộc huyện Hoài An, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng, đầu thế kỷ XX triều vua Khải Định (1916-1925) thuộc tỉnh Hà Đông. Đến tháng 11/1948, xã Phù Lưu sát nhập với xã Nguyễn Huệ thành xã Lưu Nguyễn gồm 06 thôn: Phù Lưu Thượng, Phù Lưu Hạ, Nội Lưu, Cáp Hoàng, Ngoại Hoàng, Thanh Bồ. Đầu năm 1956, xã Lưu Nguyễn tách thành 02 xã: Lưu Hoàng và Lưu Nguyễn. Đến năm 1970 trở lại tên cũ là Phù Lưu. Ngày 01/7/2025 Phù Lưu sáp nhập cùng xã xã Hòa Phú, Thái Hòa và Bình Lưu Quang thành xã Hòa Xá.
Từ 01/7/2026 thành lập thôn Phù Lưu trên cơ sở sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô hộ gia đình, dân số của 02 thôn Phù Lưu Thượng và Phù Lưu Hạ. Sau khi thành lập thôn Phù Lưu có diện tích là 4,69 km2 và quy mô hộ gia đình, dân số là 1.712 hộ, 5.984 người. Thôn Phù Lưu phía Bắc giáp thôn Đặng Giang; phía Nam giáp thôn Lưu Hoàng; phía Đông giáp xã Ứng Hòa; phía Tây giáp sông Đáy.
Từ Hà Đông đi theo Quốc lộ 6 đến ngã ba Ba La, rẽ trái theo đường 21B đi qua Bình Đà, Kim Bài, Vân Đình đến ngã 3 Đầu đê Hoà Xá, rẽ tay trái đi tiếp 06km đến địa phận thôn Phù Lưu. Di tích nằm ở sát một hồ nước lớn. Đường đi thuận tiện cho mọi phương tiện giao thông đường bộ.
Cũng như nhiều ngôi chùa khác, chùa Phù Lưu Hạ ra đời đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng thờ Phật của người dân Phù Lưu.

Phật giáo đã có mặt ở Hà Tây cũ từ rất sớm. Đặc biệt là quả chuông Thanh Mai - Thanh Oai, trên đó có ghi niên đại từ trước thế kỷ X. Đây cũng là quả chuông chùa có niên đại sớm nhất cả nước hiện được tìm thấy. Bên cạnh đó còn phải kể đến đàn Hương Lư ở Chương Mỹ - cách ngày nay khoảng 2500 năm (theo Đặc san Chùa Hương xuân Ất Dậu). Tiếp nhận ảnh hưởng của Phật giáo từ rất sớm, trải qua nhiều thăng trầm, cho đến nay, hầu hết các chùa ở Hà Tây cũ đều theo phái Bắc Tông (Đại Thừa). Phái Đại Thừa chủ trương tự giác tự tha, tự độ độ tha, tức là mình đã giác ngộ thì phải giác ngộ người khác. Con người có thể giác ngộ đến Niết bàn không chỉ bằng tự lực mà còn bằng tha lực. Các chùa thờ Phật đều quan niệm con người có thể giác ngộ nhờ sự dẫn dắt của Phật chứ không chỉ bằng sự nỗ lực của bản thân. Nhân sinh quan Phật giáo Hà Tây cũ nói chung vẫn thể hiện ở Tứ Diệu Đế, nói gọn lại là Giải thoát luận, hướng đạt mục đích cuối cùng là giải thoát, là đạt tới Niết bàn. Cứu khổ, giải thoát - đó cũng là nội dung và mục đích của nhân sinh quan Phật giáo.
Dù thời gian xuất hiện sớm hay muộn thì ngôi chùa Phù Lưu Hạ đến nay đã và vẫn luôn là nơi giáo dục lòng nhân nghĩa cho con người. Đây cũng là nơi giới thiệu và phát huy truyền thông lao động sáng tạo của tổ tiên cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Chùa Phù Lưu Hạ là một kiến trúc truyền thống Phật giáo, thờ Phật theo phải Đại thừa nên thuộc loại di tích kiến trúc nghệ thuật.
Chùa Phù Lưu Hạ nằm trong vùng đất có bề dầy lịch sử khá lâu đời. Cũng như ngôi đình và ngôi đền, chùa Phù Lưu Hạ nằm trong vùng đất được xây dựng sớm trong quy hoạch chung và kiến trúc truyền thống của một làng Việt cổ. Mặt bằng hiện tại của chùa Phù Lưu Hạ gồm các hạng mục công trình như: Tiền đường, Tam bảo, nhà Tổ, nhà Mẫu và các công trình phụ trợ khác.
Chùa chính có kết cấu chữ Đinh với Tiền đường và Thượng điện. Tiền đường gồm 5 gian nhà ngang tương ứng với 6 bộ vì. Mặt tiền di tích có mở hệ thống cửa bức bàn thông thoáng thuận tiện cho nhân dân và du khách lễ phật. Sân chùa có trổ các ô nhỏ trồng nhiều cây cảnh và những cây lâu niên tạo không gian u tịch và thâm nghiêm. Bờ nóc đắp bờ đỉnh, hai đầu bờ nóc là hai đấu đinh, cuối bờ giải xây giật cấp. Nghệ thuật kiến trúc điêu khắc gỗ được tập trung tại toà Tiền đường với hệ thống cột cái, cột quân, các xà nách, rường nách chạm trổ hình vân mây và lá lật. Nghệ thuật điêu khắc trên các con rường mang phong cách thời Nguyễn sớm (vào khoảng niên đại vua Nguyễn Tự Đức 1847-1884). Hình tượng lá lật được thể hiện mềm mại, uyển chuyển, đan xen với hình vân mây được nghệ nhân xưa tạo hình tại cuối mỗi thanh rường và gối lên các đấu kê có hình cánh sen dẹo. Tổng thế các bộ vì trong di tích đều được tạo tác với một kiểu thức tương tự nhau: chống rường giá chiêng. Tại di tích vẫn lưu giữ những di vật như chuông chùa, bia đá ghi rõ thời gian tu bổ di tích vào thời gian vua Nguyễn Thành Thái thứ 6 và Nguyễn Tư Đức. Dấu ấn Nguyễn sớm còn hiến hiện trên hệ thống tượng Phật được bài trí trên toà Tam bảo và ngoài toà Tiền đường. Tam báo được nối liền với gian giữa Tiền đường tạo thành hình chuôi vồ. Đây là nơi tập trung chính hệ thống tượng Phật trong di tích. Tại gian giữa toà Tiền đường còn treo một bức hoành phi sơn son thếp vàng, dưới là y môn chia thành 3, chạm cúc, mai, hai bên thân cột cái treo đôi câu đối chữ Hán.

1. Ở vị trí cao nhất: là pho Tam thế. Các pho tượng được tạo tác trong tư thế ngồi âm dương trên toà sen 3 lớp ngừa các cánh sen to. Mũi hơi nhọn, phía dưới có bệ hình lục lăng chia thành 3 phần, phần trên là bệ với các cạnh được soi gờ chạy chỉ men theo mép bệ, dưới là thân bệ và phần cuối là để làm loe dần và chạy chỉ theo các mép. Tay các pho tượng kết định ấn đặt ngửa trong lòng đùi. Sọ tượng nở, mặt đầy đặn cân đối, huyệt vô kiến đỉnh nổi rõ trên đỉnh đầu. Mặt tượng được khái quát theo nguyên tắc truyền thống: mắt khép hờ nhìn xuống, sống mũi thẳng, miệng phảng phất nụ cười cứu độ. Các cụm tóc vấn dây, kết hạt nhỏ. Áo tượng 2 lớp, lớp trong thắt múi trước bụng. Cổ tượng cao ba ngấn, tai dài chảy xệ.

2. Lớp thứ hai: là tượng A Di Đà. Đây là tượng có kích thước tương đối lớn trong chùa. Tượng A Di Đà có u nhục khảo nổi cao, giữa đỉnh là huyệt vô kiến được thể hiện dưới dạng xoắn ốc. Mặt tượng tròn đầy đặn, cằm xệ, dái tai to chảy dài. Tượng ngồi âm dương trên toà sen lộ bàn chân phải trên đùi trái, hai tay kết định ấn đặt ngửa trong lòng đùi. Áo tượng ba lớp thả mềm mại trước ngực có hình chữ vạn nổi rõ. Đài sen của tượng gồm hai lớp cánh ngửa, cánh sen to dày, mũi hơi nhọn, bên trên có các đường vạch dọc như nhị hoa sen nở. Tượng cũng ngồi trên bệ lục lăng như ba pho Tam thế trên.
3. Lớp tượng thứ 3 là: Quan Âm Thiên thủ thiên nhãn được tạo tác trong tư thế ngồi liên hoa trên đài sen nở mãn khai. Toàn bộ tượng và bệ sen được đặt trên một bệ tứ giác, mặt bệ có chạm hình sóng nước. Tượng có dáng cao, ngực nở, eo thon với các đôi tay bố trí cân phân 2 bên sườn. Đôi tay chính kết ấn liên hoa trước ngực, một đôi tay khác kết định ấn đặt ngửa trên lòng đùi, đôi tay khác với tỏa đều sang hai bên trong các thế ấn khác nhau. Đầu tóc búi ngược, ngoài đội mũ thiên quan có 2 dải thả xuống lưng. Hai bên mang tai có 2 dải tóc chẻ ba buông xuống vai. Đôi tai chảy dài, có đeo hoa vành khuyên. Áo tượng 2 lớp, ôm sát lấy thân. Bệ là bông sen nở mãn khai 5 lớp cánh đơn theo thế ngồi. Các cánh sen chạm kép đầy đặn.

4. Tiếp phía dưới là pho tượng đức Quan Âm ngồi bên đài sen, đầu đội mũ mặt trước có chạm hình bông cúc mãn khai, áo tượng buông chùng phủ xuống, các nếp áo xếp nếp tay trái cân bình Cam lồ, tay phải cầm bông sen nở. Có thể trước đây hình bông sen nở chính là cành dương liễu. Hai bên pho tượng Quan âm cam lộ là nhị vị thị giả hầu cận trong tư thế đứng thẳng, hai say trong thế ấn âm dương, đầu đội mũ nhà quan, áo buông chùng theo thân.
5. Lớp tượng thứ 5 là tượng Ngọc hoàng ngồi trên bệ nhị cấp, đầu đội mũ bình thiên, mặt trước mũ có cẩn hình cầu lửa, hai tay tượng cầm hốt lệnh chỉ, áo chạm nhiều hình rồng đang tung mình trên mây.
6. Tiếp theo là Cửu Long bằng gỗ, chạm theo kiểu vòm cầu, trong vòm câu có những tầng mây xoắn có 9 con rồng nhỏ đầu phun nước tắm cho Thích Ca sơ sinh, xung quanh có các chư tiên cử nhã nhạc để mừng đức Thích ca ra đời. Thích Ca sơ sinh đứng trên toà sen, ngực để trần, mặc váy, tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất. Theo tích của nhà Phật tượng thích ca sơ sinh tay phải chỉ đất, tay trái chỉ trời, ngài đi bảy bước trên đài sen và nói rằng: thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn, tức là trên trời và dưới đất chỉ có ta là cao quý.

7. Dưới cùng toà tam bảo đặt tượng Thổ Địa và tượng Giảm trai, tượng Thổ địa được tạc ngồi trên bệ, mặt đỏ râu dài đầu đội mũ, mình mặc áo triều phục có cẩn mây rồng, chân đi hia. Theo tích nhà Phật thì Thổ Địa là người cai quản đất đai khu vực nội tự. Tượng Giám trai, tượng ngồi trên bệ một tay để ngừa lên, một tay để xuôi theo chân. Theo Phật tích thì Giám trai cai quản lễ vật dâng cúng của sự tăng Phật tử.
8. Hai sườn bên Thượng điện là nơi tọa lạc của hai bộ tượng Đức Ông và Thánh Hiến được tạo tác với kích thước tương tự nhau. Đức ông được tạo tác dưới dạng Quan văn, đầu đội mũ cánh chuồn, mặt đỏ râu dài. Đức Ông là một vị trưởng giả giàu có đem của cải giúp đỡ người nghèo, Ngài nghe Phật giảng đạo mà giác ngộ sau đó được Thích Ca cho cai quản tất cả cảnh chùa trên thế gian. Vì thế bàn thờ Ngài thường đặt ở bên trái. Mọi khách hành hương vào lễ Phật phải xin phép Ngài trước. Tượng Thánh Tăng ngồi bên phải với hình tượng một nhà sư đội mũ tỳ lư thất Phật, tay trái cầm chén nước Cam lồ, tay phải trong tư thế thuyết pháp cứu độ.

9. Ngoài Tiến đường có đặt tượng 2 vị Hộ pháp: Khuyến Thiện bên tả, Trừng ác bên hữu. Tượng khuyến thiện và trừng ác mang hình tượng võ tướng to lớn ngồi trên sư tử, đầu đội mũ Kim khôi, mình mặc áo giáp nhẫn nhục nhằm chống dục vọng, chân đi vân sảo. Tượng khuyến thiện với khuôn mặt hồng vẻ hiền từ trên tay cầm viên ngọc Minh châu.


Tượng trừng ác mặt đỏ râu dài dữ dằn, tay cầm pháp khí.

II. CÁC HIỆN VẬT CÓ TRONG DI TÍCH
Ngoài những giá trị về mặt kiến trúc và nghệ thuật. Chùa Phù Lưu Hạ qua thời gian tồn tại còn bảo lưu được một số di vật qúy có giá trị như:
- 01 quả chuông đồng cao 100 cm, đường kính miệng 47 cm, niên đại: Thành Thái lục niên, trên thân chuông có khắc tên một số người trong địa phương đã hưng công tu bổ di tích. Đây là một tư liệu qúy.
- 01 bia đá được làm vào năm Tự Đức 29 (1876) ghi chép về việc đặt hậu, hưng công tôn tạo ở chùa.
- 01 bức hoành phi gỗ
- 01 bức y môn gỗ chạm lộng, sơn son thếp vàng.
- 01 bát hương sứ Thổ hà thời Nguyễn
- 01 bát hương sứ Nguyễn (ban Đức ông)
- 01 đôi câu đối gỗ
- cùng nhiều tượng phật được làm từ gỗ.

Hàng năm tại chùa, vào các ngày lễ lớn như: Phật đản, vào hè, ra hè, vu lan, giỗ sư tổ chùa, giỗ Đức Thánh, giỗ Mẫu... chùa thường tổ chức theo các nghi thức tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống. Dân làng và khách thập phương tự do đến chùa lễ Phật và tuỳ tâm dâng lễ cũng như phát tâm công đức. Trước cửa Phật mọi người đều bình đẳng như nhau. Người dân rất có ý thức trong việc giữ gìn sự thanh tịnh và những giá trị đích thực của ngôi chùa.
Chùa Phù Lưu Hạ tồn tại cho đến ngày nay vốn đã mang trong mình một chiều dài lịch sử nhất định. Các di vật còn lại như: bia đá, chuông chùa và hệ thống tượng thờ đã khẳng định độ tuổi di tích khoảng trên dưới 100 năm. Trải qua những biến động của thời gian, một số hiện vật của di tích đã thất lạc, một số khác bị hư hỏng. Tuy vậy chùa vẫn giữ được quy mô khá lớn và có giá trị nổi bật của một kiến trúc Phật giáo truyền thống. Ngoài những giá trị tự nhiên, vẻ đẹp của các pho tượng còn được tôn thêm bởi sự bài trí trong không gian chung thống nhất của ngôi chùa truyền thống. Với thế đất cao ráo, ngôi chùa u tịch, ẩn hiện giữa vòm cây tán lá, cảnh quan sơn thuỷ hữu tình như thúc giục bước chân du khách vãn cảnh hành hương. Là một thiết chế tín ngưỡng tôn giáo nhưng trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, chùa Phù Lưu Hạ còn góp phần rất lớn cùng dân thôn Phù Lưu đấu tranh chống giặc. Chùa là nơi nuôi giấu cán bộ thương binh. Đặc biệt, việc xây dựng và củng cố chính quyền cũng được diễn ra tại chùa. Với những đóng góp to lớn đó, cùng với ngôi đình, chùa Phù Lưu Hạ đã góp phần không nhỏ trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Trân trọng kính mời quý khách cùng về chiêm bái, thắp nén tâm hương hướng Phật và tìm hiểu về các giá trị lịch sử văn hóa của di tích cấp Thành phố Chùa Phù Lưu Hạ, thôn Phù Lưu, xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội - nơi hội tụ giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh, lưu giữ những dấu ấn quý báu của quê hương qua bao thế hệ./.
Nguồn: Google
Cập nhật: 13/10/2026