Chùa Thái Khê (Thiền Quang tự)
Chùa Thái Khê (Thiền Quang tự) xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội SỰ KIỆN, NHÂN VẬT LỊCH…
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 07/10/2026
Chùa Thái Khê (Thiền Quang tự) xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội SỰ KIỆN, NHÂN VẬT LỊCH…
Nguồn: Google
Cập nhật: 07/10/2026
Chùa Thái Khê (Thiền Quang tự) xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội
SỰ KIỆN, NHÂN VẬT LỊCH SỬ, ĐẶC ĐIỂM CỦA DI TÍCH
Chùa Thái Khê theo phái Bắc tông - tông phái Phật giáo truyền vào Việt Nam thông qua con đường truyền giáo của các tu sĩ Ấn Độ cổ đại vào Luy Lâu, một tôn giáo gắn chặt và hòa trộn nhuần nhuyễn với tín ngưỡng dân gian của người Việt. Đạo Phật giữ vai trò một ý thức hệ, góp phần tích cực để tập hợp lực lượng người Việt giành độc lập dân tộc. Hàng nghìn năm sau, đạo Phật vẫn phát huy tích cực của mình, góp phần vào việc duy trì bản sắc dân tộc. Đạo Phật đi vào đời sống nhân dân một cách mạnh mẽ và hầu như đã để lại dấu ấn ở khắp nơi bằng những ngôi chùa. Điểm nổi bật ở chùa Việt là bao giờ cũng có xu hướng gần dân gắn liền với dân làng. Vì vậy không gian của ngôi chùa cũng chính là trung tâm văn hóa làng xã của con người Việt Bắc Bộ nói chung.
Chùa Thái Khê được ra đời do sự đồng tâm của những người dân làng Thái Khê. Bằng sự giáo lý, tư tưởng về sự luân hồi, giác ngộ khuyến thiện của đạo Phật, chùa Long Hoa đã tạo nên những truyền thống tốt đẹp cho cộng đồng cư dân xã Phúc Lộc nói chung và nhân dân thôn Thái Khê nói riêng. Giáo lý đạo Phật góp phần điều chỉnh hành vi đạo đức cho mỗi con người và là nơi lưu giữ những tập tục truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc. Phật từ bi ân đức, ngoài việc tô tượng, đúc chuông, xây cất chùa còn phải gia công học theo lời dạy, sống theo những đức hạnh mà đức Phật khuyên răn để phát triển năng lực tinh thần. Qua khảo sát hệ thống tượng thờ tại chùa Thái Khê, có sự hiện diện của hệ thống tượng như: tượng Tam thế, Adiđà; Tượng Quan âm chuẩn đề; tượng Ngọc Hoàng - Nam Tào - Bắc Đẩu; lớp thứ 5 là tòa cửu long - hai bên tượng Nhị vị thiên vương. Tại Tiền đường đặt các tượng Khuyến thiện, Trừng ác, ban Đức ông và ban Thánh tăng. Do đó, chùa không chỉ là nơi thờ Phật, mà còn là một trung tâm sinh hoạt tôn giáo, một biểu tượng của sự cố kết cộng đồng trong truyền thống và hiện tại.
Chùa còn phối thờ những người có công với làng xã. Bên cạnh việc thờ hậu trong chùa còn thờ Mẫu. Các đối tượng thờ tự khác nhau tại di tích này nhằm đáp ứng đời sống tín ngưỡng tâm linh của nhân dân địa phương, nhưng đồng thời còn có tác dụng cố kết cộng đồng, khuyến thiện trừng ác, hướng con người đến các giá trị tốt đẹp và nhân văn, rất đáng được trân trọng và đề cao.
KHẢO TẢ DI TÍCH
Cùng với đình Thái Khê, chùa Thái Khê cũng được dựng từ lâu đời, trở thành trung tâm sinh hoạt tôn giáo của làng. Tuy nhiên, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Pháp đóng đồn bốt quanh khu vực đình - chùa Thái Khê, đã liên tục càn quét, đốt phá làng xóm. Do vậy trong năm này, các công trình tôn giáo tín ngưỡng khác trong làng như đình - chùa Thái Khê, Văn chỉ đã bị phá hủy. Người dân chỉ kịp chạy được một số di vật mang đi nơi khác. Đến năm 1951 - 1952, dân làng Thái Khê đã dựng lại đình - chùa tạm trên một khu đất ở cuối làng bằng các nguyên liệu tre, xoan, để chuyển đồ thờ về làm nơi thờ Phật, thờ Thánh.
Năm 1955 - 1956, tại vị trí đình - chùa hiện nay, Nhà nước đã dựng các công trình để làm cửa hàng bách hóa, ngân hàng, nơi đóng quân của quân đội. Tại đây người dân chỉ dựng một gian nhỏ để làm nơi đặt tượng Phật, hiện nay gian nhà này nằm ở bên phải nhà Mẫu đã bị xuống cấp nghiêm trọng, không sử dụng đến.
Mãi đến năm 2001 bắt đầu dựng lại Tam bảo bằng vật liệu mới, dựng nhà Mẫu ở bên phải Tam bảo. Năm 2024 dựng nhà Tổ.
Chùa Thái Khê nằm khuôn viên cùng đình Thái Khê, trong vùng có nhiều công trình tôn giáo tín ngưỡng như đình Thượng Khê, đình Đĩnh Tú, Văn chỉ thờ Nguyễn Trung Trực (đã bị phá hủy chưa có điều kiện để khôi phục)... Các di tích tôn giáo tín ngưỡng nằm cùng trong xã Cấn Hữu cũ có mối liên kết với nhau rất chặt chẽ về mặt sinh hoạt tín ngưỡng, được thể hiện rõ nhất trong ngày lễ hội.
Chùa Thái Khê quay hướng Tây Tây Nam, ở khu vực đầu làng, nằm trên ngã ba trục đường làng, trong đê bao sông Tích (cách đê khoảng 200m). Tương truyền, vị trí dựng đình được người xưa lựa chọn khá kỹ lưỡng, đình và chùa nằm ở trên đầu con cá chép, hướng về phía sông Tích. Phía trước đình – chùa là cánh đồng Lươn, cánh đồng Sòi, đồng Nấm, đồng Anh… Phía sau và bên trái, bên phải đều giáp khu dân cư đông đúc. Trước đây khuôn viên của khu di tích có quy mô lớn, không gian cảnh quan thoáng đãng, phía sau là Văn chỉ, bên phải là đình Thái Khê. Hiện nay không gian của đình - chùa đã bị thu hẹp lại, do sự phát triển của giao thông, nhiều đường xá được mở rộng.
Mở đầu di tích là Nghi môn kiểu tứ trụ và bức bình phong mới được dựng lại trong những năm gần đây. Chùa nằm ở bên trái đình, công trình chính Tam bảo mặt bằng tổng thể hình chữ Đinh, là sản phẩm tôn tạo lại. Bên phải Tam bảo là nhà Mẫu, nhà khách, phía sau Tam bảo là nhà Tổ.
Mẹo từ An: Mẹo từ An-Trợ lý AI: Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Lưu ý trước khi đi
Nguồn: Google
Cập nhật: 07/10/2026
Công trình kiến trúc chính chùa Thái Khê có mặt bằng hình chữ Đinh gồm Tiền đường, Thượng điện. Ngoài ra còn có các công trình phụ trợ khác như: Nghi môn, lầu quan âm, nhà Mẫu, nhà Tổ.
Nghi môn là công trình chung của cụm di tích đình- chùa Thái Khê. Nghi môn được dựng kiểu tứ trụ, gồm 3 cổng, với cổng chính kiểu trụ biểu lớn, trên đỉnh đắp hình tứ phượng, bên dưới đắp hình lân chầu ở bốn góc. Các ô hộc đắp hình tứ linh. Trên các cột trụ biểu đắp câu đối ca ngợi công đức của Thành hoàng làng.
Nối giữa trụ biểu lớn với trụ biểu nhỏ là bức/vách tường bao, tạo thành cổng phụ, trên vách cổng xây mái giả, kiểu hai tầng mái với các đầu đao cong, trên mái trang trí hình mặt trời, đầu rồng, phượng. Cổng đình mới được làm lại trong những năm gần đây, mặc dù không có giá trị nhiều về mặt lịch sử, nhưng vẫn mang ý nghĩa quan trọng trong cấu trúc tổng thể cụm di tích đình- chùa.
Tam bảo bao gồm Tiền đường và Thượng điện, đây là công trình chính của ngôi chùa, có quy mô lớn nhất, là nơi bài trí nhiều tượng Phật. Nền Tam bảo được làm cao hơn nền sân, hiên được làm 3 bậc, lát bằng gạch Bát, mạch chữ Công. Tiền đường gồm 5 gian, kết cấu bộ khung mới được làm lại trong những năm gần đây bằng vật liệu bê tông cốt thép, riêng hệ dàn đỡ mái được làm bằng gỗ. Bộ khung gỗ gồm 5 hàng chân cột (3 hàng cột trước, 2 hàng cột sau, trong đó hàng cột hiên phía trước làm bằng đá). Mặc dù bộ khung được làm bằng vật liệu bê tông cốt thép, nhưng cách thức tạo tác, hình dáng bộ vì tương tự như kiến trúc gỗ cổ truyền. Vì nóc được làm kiểu chồng rường, các con rường chòng lên nhau qua đấu kê. Vì nách trước và sau làm kiểu kẻ ngồi. Hiên làm kiểu kẻ suốt. Mái Tiền đường gồm 1 tầng 2 mái, kiểu tường hồi bít đốc tay ngai. Hai đầu bờ nóc đắp kìm nóc, giải bờ nóc gắn gạch hoa chanh, trên các tay ngai đắp hình tứ linh. Bao che phía trước làm hệ cửa bức bàn, phía trên là hàng chắn song con tiện để lấy ánh sáng, thông thoáng nội thất. Hai bên tường hồi xây gạch trát vữa.
Thượng điện gồm 3 gian, kết cấu bộ khung gồm 4 hàng chân cột (2 hàng cột cái, 2 hàng cột quân). Vì nóc được làm kiểu ván mê và giá chiêng chồng rường. Vì nóc kiểu chồng rường, vì nách kiểu kẻ ngồi. Hệ mái được làm kiểu 1 tâng 2 mái, kiểu tường hồi bít đốc. Mái được lợp bằng ngói di, trên mái không trang trí các hình tượng, chỉ đắp các gờ chỉ.
* Tại Thượng điện chùa Thái Khê chia thành 6 lớp tượng:
- Lớp tượng trên cùng là bộ Tam thế thường trụ diệu pháp thân trong tư thế ngồi kiết già trên đài sen, hai tay kết ấn đặt trong lòng đùi. tức ba ngàn đức Phật trong 3 kiếp là: Quá khứ gắn với Trang nghiêm đại kiếp; Hiện tại gắn với Hiền kiếp và Vị lai gắn với Tinh tú kiếp. Trong ba pho Tam thế tại đây, tượng Tam thế hiền kiếp ở giữa có tạo hình khác hai tượng Tam thế bên cạnh, ngồi ở vị trí cao nhất. Cả ba pho tượng đều cao từ 83-85cm, vai rộng 27cm, ngang gối 55cm. Tam thế hiền kiếp được tạc trong thế ngồi trên tòa sen, với 2 lớp cánh ngửa mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 20. Phía dưới bệ sen là bệ tượng hình chữ nhật, để trơn chỉ sơn son. Tượng Phật trong tư thế thuyết pháp, hai tay đan vào nhau. Áo tượng gồm 2 lớp, lớp trong thắt múi trước bụng, lớp ngoài áo choàng được tạc có đường gờ góc cạnh. Tóc bụt ốc nối khối cao, khuôn mặt tròn đầy, mắt khép hờ, tai lớn.
- Lớp tượng thứ hai là bộ A di đà tam tôn gồm Đức phật Adi đà lớn ngồi trên tòa sen, hai tay kết ấn đặt trong lòng đùi. Hai bên đặt tượng Di Lặc và tượng Tuyết Sơn.
- Lớp tượng thứ ba của Phật điện là pho tượng Quan Âm Chuẩn Đề ngồi trên tòa sen. Tượng có 6 đôi tay đang trong các tư thế ấn khác nhau để cứu độ chúng sinh. Đôi tay chính kết ấn chuẩn đề được gọi là tượng Quan thế âm chuẩn đề. Hai bên là tượng thị giả.
- Lớp thứ tư là tượng Ngọc Hoàng cùng Nam Tào, Bắc Đẩu.
- Hàng dưới cùng là tòa Cửu long. Ở chính giữa đặt tượng Thích Ca sơ sinh, được chạm khắc một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất với tích Phật “Thiên Thượng địa hạ, duy ngã độc tôn” mang phong cách nghệ thuật thế kỷ thời Nguyễn.
* Các gian bên ngoài Tiền đường là nơi tọa lạc của các tượng Hộ pháp - Khuyến thiện và Trừng ác. Tượng có kích thước khá lớn mang ý nghĩa khuyến thiện và trừng ác để hộ trì Phật pháp, được tạc theo kiểu võ sĩ, mình mặc áo giáp, đầu đội mũ, một vị tay cầm viên ngọc, vị kia tay cầm binh khí, trong tư thế đứng. Tượng Khuyến Thiện tô mặt trắng, nét mặt hiền từ, tay cầm viên ngọc thiện tâm. Tượng Hộ pháp Trừng ác được tô mặt đỏ, có nét mặt thần giận dữ, mắt xếch, lông mày rậm, tay cầm vũ khí như răn đe mọi người lánh xa con đường dẫn đến mọi cái ác. Hình tượng Hộ Pháp trong đạo Phật có tên gọi đầy đủ là Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát. Đây là những thiện thần phát nguyện hộ trì Phật pháp, những vị thiện thần tự nguyện hỗ trợ đạo Phật.
Gian bên bên phải đặt tượng Thánh Tăng được tạc là hình tượng một nhà sư đội mũ tỳ lư thất Phật, thường ngồi thả chân, tay trái cầm chén nước cam lồ hoặc để ngửa trong lòng, tay phải trong tư thế thuyết pháp cứu độ hoặc bắt ấn Vô Úy, ấn Cát Tường. Bên hồi phải Tiền đường còn đặt tượng Địa Tạng đứng trên đài sen.
Gian bên bên trái Tiền đường đặt tượng Đức Ông ngồi trên ngai, buông chân trên bệ, dưới dạng một ông quan văn đội mũ cánh chuồn, mặt đỏ.
Phía trên cột treo các bức hoành phi câu đối, các di vật này cũng mới được đưa vào sử dụng trong những năm gần đây, góp phần làm phong phú thêm hệ thống đồ thờ cúng tại chùa.
Nhà Mẫu nằm ở bên phải Tiền đường gồm 3 gian, có quy mô nhỏ, được ngăn chia thành các không gian khác nhau, ba gian bên phải làm nơi thờ Sơn Trang, gian bên trái đặt ban thờ Quan Trần Triều, gian giữa đặt ban thờ thờ Tam Thánh Mẫu.
Nền nhà cao hơn nền sân trước, lát bằng gạch Bát mạch chữ Công. Kết cấu bộ khung gồm 5 hàng chân cột (3 trước, 2 sau), nhưng trốn hàng cột cái để mở rộng không gian nội thất. Toàn bộ nhà Mẫu gồm 4 bộ vì, trong đó vì nóc ở gian giữa làm kiểu giá chiêng - kẻ ngồi, vì nóc gian bên làm kiểu chồng rường. Các vì nách gian giữa đều được làm kiểu kẻ ngồi, gian bên làm cốn mê. Hiên trước làm kiểu kẻ, hiên sau làm bẩy chéo. Trên các vì nóc, vì nách gian bên chạm khắc hình hoa văn con triện, kết hợp với lá lật. Hệ mái được làm kiểu 1 tầng 2 mái tương tự như Tiền đường.
Nhà tổ ở phía sau Tam bảo, kiến trúc gồm 5 gian, trong đó 3 gian giữa làm nơi thờ tự, hai gian hồi làm phòng tăng. Bài trí nội thất của nhà Tổ được làm đơn giản, gian giữa xây bệ thờ đặt tượng Bồ Đề Đạt Ma, gian bên phải thờ ảnh Phật, gian bên trái thờ tượng Tổ của chùa. Dọc các hàng cột cái treo các cửa võng, hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng.
Kết cấu kiến trúc nhà tổ được làm tương tự như ở nhà Mẫu, với kết cấu trốn hàng cột, qus giang gác lên tường bao, vì nóc kiểu giá chiêng kẻ ngồi, vì nách kiểu kẻ ngồi, hiên làm bẩy chéo. Hệ vì mái gồm 1 tầng 2 mái, lợp ngói di
Chùa Thái Khê tuy không còn giữ được dáng vẻ kiến trúc của ngày đầu khởi dựng nhưng cùng với đình Thái Khê - là một di tích lịch sử văn hóa, nằm trên vùng đất có bề dày lịch sử giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Nơi đây đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hoá tâm linh của dân làng, giáo dục tinh thần yêu quê hương cho các thế hệ hiện sinh. Trải qua thời gian di tích đã hội tụ được những giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, thẩm mỹ sâu sắc, mang đặc trưng của vùng miền. Hiện nay, sự hiện diện của các hạng mục kiến trúc, hệ thống di vật và những sinh hoạt văn hóa liên quan đến di tích đã góp phần bảo lưu và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của địa phương.
Những dấu vết vật chất hiện còn trong đình Thái Khê cho thấy đình – chùa được dựng từ khá sớm, nhưng trong quá trình tồn tại, chùa Thái Khê đã bị tiêu thổ kháng chiến. Đến nay, các công trình kiến trúc cũng đã qua nhiều lần tu sửa, tôn tạo, nhưng vẫn còn bảo lưu được nhiều giá trị lịch sử - văn hóa. Chùa trở thành là trung tâm sinh hoạt văn hoá của cộng đồng cư dân, nơi bảo lưu, gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống của địa phương và cũng là nơi giáo dục hướng con người tới những điều tốt lành trong cuộc sống.
Chùa Thái Khê (Thiền Quang tự) thờ Phật theo phái Đại thừa ngoài ra chùa còn thờ Tổ, Mẫu và là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng cư dân, nơi bảo lưu, gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của địa phương và cũng là nơi giáo dục hướng con người tới những điều tốt lành trong cuộc sống. Sự hiện diện của ngôi chùa chính là biểu tượng không thể thiếu của mỗi làng quê, thể hiện sự khát vọng về một cuộc sống an lạc, bình yên của mỗi người dân lao động nơi thôn giã. Có thể nói chùa Thái Khê được xây dựng, tôn tạo là một ngôi chùa thuần Việt, là minh chứng cho thấy sự tồn tại và phát triển của đạo Phật đối với niềm tin của nhân dân nơi đây. Đến với chùa nhân dân được chiêm bái hệ thống tượng Phật, hiện thân cho các nhân vật lịch sử của thế giới Phật pháp để từ đó “khuyến thiện - trừng ác”, giáo dục lòng nhân nghĩa cho con người, tìm đến cái chân - thiện - mỹ mà tu tâm, tích đức trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Vào những ngày hội ngày lễ Phật giáo, nhân dân đã đến chùa làm lễ thể hiện đạo hiếu tốt đẹp của con người Việt.
Trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, song chùa Thái Khê vẫn hiện hữu được khối kiến trúc mang phong cách nghệ thuật truyền thống. Hệ thống di vật mặc dù mới được đưa vào thờ cúng, nhưng gồm nhiều chủng loại và chất liệu như đồ gỗ, đồ đồng, đồ gốm sứ…. làm tăng sự phong phú trong hệ thống đồ thờ của người Việt.