Chùa Thế Trụ (Khánh Hưng tự)
Chùa Thế Trụ (Khánh Hưng tự) xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội 1.
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 06/10/2026
Chùa Thế Trụ (Khánh Hưng tự) xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội 1.
Nguồn: Google
Cập nhật: 06/10/2026
Chùa Thế Trụ (Khánh Hưng tự) xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội
Chùa Thế Trụ (Khánh Hưng Tự) thờ Phật theo phái Đại thừa. Căn cứ vào các cuốn sách như: 越 南 佛 教 史 論 (Việt Nam Phật giáo sử luận) của Nguyễn Lang, 越 南 佛 教 使 畧 (Việt Nam Phật giáo sử lược) của cố Thượng tọa Thích Mật Thể và những Kinh sách, Phật sử thì sự tích của Đức Phật Thích Ca và sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam có thể tóm tắt như sau:
Cách đây 2560 năm ( theo Phật lịch ), tại thành bang Ca Tỳ La Vệ có vị vua tên là Tịnh Phạn, Hoàng hậu là Ma Ha Ma Da sinh hạ được một Hoàng tử tên là Tất Đạt Đa tại vườn Lâm Tỳ Ni. Khi sinh, Ngài tư bẩm thông minh, hào quang trác khí, quí tướng khác người. Nhà vua, Hoàng hậu vui mừng khôn xiết.
Năm lên bẩy tuổi, Ngài theo học phái Bà La Môn, thông tường các khoa nghị luận, triết học và bắt đầu chán nản cuộc đời vinh hoa phú quý và buồn đau cho thế cuộc nhân sinh.
Năm 16 tuổi, Ngài vâng mệnh vua cha cưới ba vị phu nhân là La Gia, Gia Du Đà La, Lộc Giả và sinh hạ được một quý tử là La Hầu La.
Năm 19 tuổi, xuất phát từ lòng Từ - Bi - Hỉ - Xả, Ngài thấu hiểu Tứ khổ của đời người không thể thoát khỏi: Sinh - Lão - Bệnh - Tử. Vì vậy, Ngài quyết tâm rời bỏ cung vàng gác tía, loan phượng lầu son để ra đi tìm chân lý, giải luận cho qui luật nhân sinh.
Ngài vào hang núi chịu đói rét tu luyện nhằm tìm ra phương pháp cứu con người thoát vòng khổ ải tại Khổ Hạnh lâm. Trong sáu năm tu luyện, Ngài không chứng được đạo quả gì nên liền đi tới núi Tượng Đầu bên sông Ni Liên Thiền tắm rửa. Tắm xong, Ngài thọ bát sữa của mấy nàng thục nữ rồi một mình ở đó tịnh tọa suy xét dưới gốc cây Bồ đề.
Sau 49 ngày định tâm quán tưởng, Ngài bỗng thấy trong tâm sáng suốt, nhìn rõ vạn vật vũ trụ và lý giải được nguyên nhân của tử sinh. Ngài đã thành Phật và lấy hiệu là Thích Ca Mâu Ni.
Khi thành Phật, Ngài chu du khắp các lưu vực sông Hằng giáo hóa chúng sinh giác tĩnh, qui y tu hành, diệt mê muội, diệt khổ để chứng đạo Niết Bàn.
Năm 80 tuổi, Ngài tịch diệt tại thành Câu Thi La - Ấn Độ. Sau khi Đức Phật tịch diệt, Ma Ha Ca Diếp thay Phật thống suất tăng chúng, giảng tụng đạo lý của Phật đã thuyết. Lịch sử Phật giáo coi đây là cuộc kết tập chúng bộ lần thứ nhất. Từ đó, đạo Phật chia làm hai phái: Đại Thừa và Tiểu Thừa và truyền bá sang các vùng lân cận, trở thành một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới. Trải qua các thời kỳ kết tập, Phật giáo có lúc thịnh lúc suy, truyền đăng kế tổ.
Theo越 南 佛 教 使 畧 (Việt Nam Phật giáo sử lược) thì truyền tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma, từ Tây Trúc qua Trung Hoa truyền pháp, rồi truyền tiếp cho các vị tổ sư về sau. Từ Trung Hoa, Phật giáp du nhập vào Việt Nam. Tại Trung Hoa khi ấy có Ngài Tì Ni Đa Lưu Chi sang Việt Nam, lập thành vị Tổ thứ nhất phái Thiền tông, sau truyền cho tổ Pháp Hiền.
Thời thuộc Đường ( 820), có Ngài Vô Ngôn Thông sang lập thành phái Thiền tông thứ hai ở Việt Nam. Tiếp đến là các phái Thảo Đường, Tào Động, Lâm Tế, Trúc Lâm Yên Tử…
Sau khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, trải các thời Tiền, Lý, Đinh, Lê, Lý, Trần… Phật giáo có lúc trở thành Quốc đạo, sau lại suy vi rồi hưng thịnh.
Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, đạo Phật tồn tại song hành với tư cách là một trong những tôn giáo phổ quát của nước ta, tạo thế cân bằng tâm linh trong cuộc sống. Do vậy, các ngôi chùa thờ Phật đã được xây dựng và phát triển.
Chùa Thế Trụ (Khánh Hưng Tự), thôn Thế Trụ, xã Kiều Phú cũng là một trong những ngôi chùa được khởi dựng với ý nghĩa như vậy. Ngôi chùa ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của người dân. Ngôi chùa được dựng lên nhằm phổ bác giáo lý của nhà Phật để khuyến thiện trừng ác, giáo dục lòng nhân nghĩa cho con người, sống tốt đời đẹp đạo, để quả phúc cho mai sau.
2. Đặc điểm của di tích
Chùa Thế Trụ (Khánh Hưng Tự) được xây dựng từ lâu đời để thờ Phật theo phái Đại thừa. Trải qua thời gian tồn tại đến nay, ngôi chùa cùng với đình, đền, miếu của làng trở thành những công trình văn hóa, phục vụ nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng cho nhân dân. Nhân dân đến chùa lễ Phật, nguyện đem công đức dựng xây, tôn tạo cảnh chùa ngày thêm khang trang, xứng tầm.
Việc lập hồ sơ khoa học di tích, nhận diện và đánh giá giá trị di tích, định hướng công tác tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích là cần thiết, góp phần gìn giữ, bảo vệ và phát huy giá trị di tích được tốt hơn.
Tiếp nối truyền thống yêu nước của nhân dân cả nước nói chung và xã Kiều Phú nói riêng, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
4. Giới thiệu khái quát về phạm vi, quy mô, bố cục mặt bằng tổng thể của di tích, cảnh quan môi trường khu vực di tích; đánh giá khái quát hiện trạng kỹ thuật của di tích, nêu rõ mức độ hư hại, xuống cấp của di tích, tình trạng vi phạm di tích (nếu có)
Nguyên xưa Chùa Thế Trụ (Khánh Hưng Tự) vẫn nằm hiện nay, kiến trúc nhỏ bé và bị xuống cấp nặng. Năm 1980 bị dỡ chùa và đình và đã bị bán một phần đất để xây dựng lại ngôi đình và chùa. Trong kháng chiến chùa được xây hầm cho du kích và làm trường học cho học sinh trong kháng chiến chống Pháp. Đến năm 1992 nhân dân nơi đây đã đóng góp công sức và tiền của để xây dựng lại ngôi chùa như hiện nay. Năm 2023 tiếp tục xây nhà giảng trước tiền đường bằng khung thép lợp trần nhựa. Hạng mục thượng điện được đại tu vào ngày 26 tháng 2 năm Nhâm Thân (1992).
Chùa Thế Trụ là nơi thờ Phật theo phái Đại thừa, quay theo hướng Nam cùng khuôn viên đình và văn chỉ Thế Trụ. Phía trước là đình và văn chỉ, xung quanh là cư dân quần tụ. Chùa kết cấu theo kiểu chữ “Đinh” bao gồm các hạng mục như: Nhà giảng, tiền đường, thượng điện, nhà Mẫu cùng các công trình phụ trợ khác.
Nhà giảng là hạng mục phía trước tiền đường được làm bằng khung thép, mái lợp trần nhựa. Nguyên xưa nhà giang làm bằng gỗ nhưng đã bị xuống cấp. Chính vì vậy nhân dân nơi đây đã dựng lại như hiện nay.
Tại hạng mục này được bài trí đồ thờ tự như: Phía ngoài treo quả chuông bằng chất liệu đồng, chia làm bốn mặt lòng đề chữ Hán, phía trên có tai quai để treo lên xà, chuông có niên đại Thành Thái 10 ( ) và tượng Địa tạng, tạc trong tư thế đứng đầu đội mũ tỳ lư, tay cầm tích trượng.
Tiền đường là hạng mục công trình gồm 3 gian làm theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói di, nền lát gạch men hoa. Qua cửa được làm bằng gỗ bản lề là vào bên trong. Tại đây được làm đơn giản với các bộ vì kèo quá giang, gối lên hai đầu bờ tường. Trên các bộ vì được bào trơn đóng bén thiên về độ bền chắc.
Tại hạng mục tiền đường được bài trí đồ thờ tự như sau: Hai bên áp hồi được bài trí hai ban thờ. Ban thờ bên trái là bộ tượng Đức ông - Diệm Nhiên - Đại sĩ. Tượng Đức ông tạc trong tư thế ngồi trên bệ gỗ chính giữa thể hiện như một quan văn đội mũ cánh chuồn, mặt đỏ, vẻ mặt nghiêm nghị, râu dài, hai tay đặt trên lòng đùi. Tượng Già Lam - Chân Tể được tạo hình là một quan văn, tạc trong tư thế ngồi trên bệ gỗ hai bên tượng Đức Ông. Đầu đội mũ, tai chảy dài, hai tay đặt trên gối một vị cầm sổ, một vị cầm bút. mình mặc áo cổ 3 phân. Ban bên phải là ban Đức Ông tạc trong tư thế.Ban bên phải là ban Thánh hiền Tượng tạc trong tư thế ngồi trên bệ, đầu đồi mỹ tỳ lư, dái tai chảy dài, khuôn mặt hiền từ, mình khoác áo màu vàng, hai tay thuyết pháp. Tượng Già lam - Chân Tể hai bên được tạc trong tư thế ngồi trên bệ, tay dơ lên cao, một vị mặt xanh, một tay nắm trên gối. Ngoài ra còn có các đồ thờ tự như thống gỗ, bát hương…
Hạng mục thượng điện gồm 2 gian nhà dọc, không nối mái với tiền đường, mặt bằng nền chữ “Đinh”, mái chữ “Nhị” Làm theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta.
Các bộ vì gỗ được làm thống nhất theo kiểu vì kèo hạ, hạ kẻ. Trên các bộ vì chủ yếu được bào trơn đóng bén, thiên về độ bền chắc.
Tại hạng mục thượng điện được bài trí đồ thờ tự dật cấp từ dưới lên như sau: Phía trước áp hồi hai bên là tượng Thổ Địa và tượng Giám Trai: Tượng Thổ địa được tạc trong thư thế ngồi trên bệ bê tông bên trái nhìn từ trong ra, đầu đội mũ, râu trắng dài, hai tay để trên lòng đùi. Tượng Giám Trai ngồi trên bệ gỗ bên phải nhìn từ trong ra, đầu đội mũ, mình mặc áo hai lớp, hai tay thuyết pháp trước ngực.
Tiếp đến là ban thờ chính giữa được làm dật cấp bằng bệ bê tông. Lớp thứ nhất là bộ tượng Nam Tào - Bắc Đẩu tạc trong tư thế ngồi trên bệ, đầu đội mũ, mình khoác áo trang trí hổ phù ở ngực, phượng hàm thư ở bụng, hai tay đặt trên đầu gối, hai chân đi hia. Lớp thứ hai là toà cửu long làm bằng chất liệu gỗ, sơn thếp vàng, tạc hình vòng cung. Xung quanh được tạc các pho tượng nhỏ. Chính giữa là tượng thích ca sơ sinh tạc trong tư thế đứng trên đài sen trong tòa cửu long, tai chảy dài, cổ ba ngấn, tay trái chỉ trời, tay phải chỉ đất. Lớp thứ ba bộ tượng Ngọc Hoàng - Nhị vị Thiên Vương. Tượng Ngọc Hoàng tạc trong tư thế ngồi trên bệ gỗ chính giữa, đầu đội mũ bình thiên, tai chảy dài, dâu đen và dài, mình choàng áo long bào, hai tay cầm ấn tín trước ngực. Tượng Nhị vị thiên vương tạc trong tư thế ngồi hai bên Ngọc Hoàng, đầu đội mũ bình thiên, dái tai chảy dài, khuôn mặt nhìn xuống dưới, hai tay cầm lệnh bài trước ngực, chân đi hia. Lớp thứ tư là bộ tượng Di Lặc - Tuyết Sơn. Tượng Di Lặc được tạc ngồi tự nhiên trên bệ gỗ, đầu trọc, có khuôn mặt tròn đang cười, mình đậm để trần, một chân khoanh, một chân chống lên bệ, một tay úp, một tay ngửa trên lòng đùi. Tượng Tuyết Sơn thể hiện hình tượng đức phật khi ngài tu khổ hạnh nhưng chưa đạt được sự yên tĩnh trong tâm hồn, với khuôn mặt trầm tư ngồi trên đài sen, hai tay tỳ lên đầu gối, mặc áo nửa người, với bộ xương sườn nhô ra ngồi trên đài sen. Lớp thứ năm là bộ tượng Adida - Quan Thế Âm - Đại Thế Chí, Tượng Adiđà tạc ngồi thiền trên đài sen 2 lớp cánh úp 1 lớp cánh ngửa. Đầu kết bụt ốc, 2 tay kết ấn đặt trên chân, ngực để lộ chữ Vạn. Tượng Quan thế âm và Đại thế chí tạc trong thư thế đứng thiền trên đài sen 3 lớp cánh úp, để lộ bàn chân phải, đầu đội mũ thiên quan, tay phải cầm bông hoa sen dơ phía trước, tay trái đặt trên chân trái. Lớp thứ sáu là bộ tượng Tam thế được tạc trong tư thế ngồi trên đài sen là lớp cao nhất. Tóc kết xoắn bụt ốc, tay đặt trên lòng đùi, hai chân khoanh tròn.
Áp hồi hai bên toà thượng điện được bài trí hai ban thờ: Ban thờ bên phải là ban Quan âm chuẩn đề, tạc trong tư thế ngồi trên đài sen được đặt trên bệ cao chính giữa, đầu đội mũ đỏ, mũi cao, tai to chảy dài, hai chân xếp tròn, tay chắp trước ngực. Các cánh tay dang ra hai bên theo các kiểu dáng khác nhau. Ban bên trái là ban Quan âm Thị Kính, tượng được tạc trong tư thế ngồi trên bệ gỗ, đầu vấn khăn, khuôn mặt trái xoan, một chân trống và một chân nằm ngửa, hai tay đặt úp trên lòng đùi.
Nhà Mẫu - Nhà Tổ là hạng mục công trình nằm phía sau tam bảo, kết cấu chữ “nhất” gồm 5 gian làm kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, nền nhà lát gạch men.
Vào bên trong kết cấu bộ vì giữa được làm theo kiểu “Vì kèo, hạ kẻ”. Trên các bộ vì chủ yếu được bào trơn đóng bén thiên về độ bền chắc,
Tại hạng mục nhà Mẫu - Nhà Tổ được bài trí đồ thờ tự như sau: Ban chính giữa bài trí tam toà thánh mẫu, tượng tạc trong tư thế ngồi trên bệ, đầu đội mũ, khuôn mặt trái xoan, tai chảy dài, hai tay đặt ngửa trên gối. Ban bên trái từ trong ra là ban Đức Trần Triều, tạc trong tư thế ngồi trên bệ gỗ, đầu đội mũ cánh chuồn, tai chảy dài, râu đen dài, hai tay thuyết pháp trên lòng đùi. Ban bên phải là ban thờ Tổ, tạc trong tư thế ngồi trên bệ gỗ, đầu trọc, hai tay đặt trên lòng đùi.
* Phía ngoài sân trước ban tam bảo bài trí hai tấm bia đá, có kích thước chiều cao 84cm; rộng 50cm; dày 15cm và một tấm có kích thước cao 102cm, rộng 53cm; dày 14cm. Bia đá có ghi Hậu Phât bi ký, phía trên là trán bia, bốn diềm có giờ cao lòng đề chữ Hán.
Đặt trong không gian địa văn hóa như vậy, sự hiện diện di tích chùa Thế Trụ (Khánh Hưng tự) tại vị trí hiện nay như một chứng tích lịch sử, đánh dấu sự hình thành và phát triển của quê hương giầu truyền thống cách mạng hôm qua, hôm nay và mai sau, góp phần thúc đẩy sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 05 Khóa VIII và Kết luận Hội nghị Trung ương 10 khóa IV về xây dựng và tiếp tục tục xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Thế Trụ (Khánh Hưng tự) còn chứa đựng dấu tích hầm bí mật cho du kích hoạt động trong kháng chiến chống Mỹ. Thế Trụ là một trong những thôn của xã Kiều Phú và là một trong những nơi địa linh nhân kiệt của thành phố Hà Nội.
Giá trị văn hóa là những giá trị mang tính sáng tạo, biểu hiện những năng lực của con người trong quá trình khai phá và phát triển của tự nhiên, đã được vật thể hóa và khách thể hóa trong hoạt động và trong sản phẩm của hoạt động người. Giá trị văn hóa chùa Thế Trụ (Khánh Hưng tự) cũng bao hàm những yếu tố nội tại ấy.
Sự hiện diện của chùa Thế Trụ (Khánh Hưng tự) ngày nay là một điểm sáng về tâm linh của cộng đồng trong sự cộng sinh nội tại, để từ đó lan tỏa tới mọi người, mọi nhà được thừa hưởng không gian văn hóa tâm linh đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Đến với di tích chùa Thế Trụ (Khánh Hưng tự), mọi người như được hưởng không khí linh thiêng và hào khí anh hùng của cha ông ta thửa xưa, từng mang gươm đi bảo vệ bờ cõi thiêng liêng của tổ quốc, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam.
Trong buổi nghiên cứu điền dã tại di tích, các bậc cao niên ở đây cho biết, di tích chùa Thế Trụ (Khánh Hưng tự) tọa lạc gần các địa điểm lịch sử như đình và văn chỉ Thế Trụ, đình chùa Văn Khê... Đây là những di tích cổ truyền thống đi vào thơ ca và nhạc họa trong vùng. Từ những nguyên vật liệu tưởng như vô tri vô giác, những người thợ dân gian, những nghệ nhân đương đại đã thổi hồn vào di tích, làm cho di tích trở nên linh thiêng. Hình ảnh về ngôi chùa Thế Trụ (Khánh Hưng tự) luôn hiện hữu trong lòng mọi người, trong lòng du khách khi quan lãm, chiêm bái.
Về kiến trúc, chùa Thế Trụ (Khánh Hưng tự) là di tích dân gian truyền thống. Có thể nói chùa Thế Trụ (Khánh Hưng tự) xây dựng, tu bổ, tôn tạo theo phong cách của ngôi chùa truyền thống Việt nam, biểu hiện tính kế thừa mô típ kiến trúc truyền thống với nguyên vật liệu cổ truyền, vừa vững trãi, vừa mềm mại nhưng luôn giữ được vẻ cổ kính trang nghiêm của ngôi chùa thuần Việt cổ truyền.
Giá trị thẩm mỹ của di tích là giá trị nội tại, bao hàm ở những khía cạnh như giá trị về kỹ mỹ thuật, giá trị về nghệ thuật tạo hình, tư duy về cách bài trí di vật…
Sau khi tu bổ, tôn tạo, chùa Thế Trụ (Khánh Hưng tự) đã phần nào hội đủ những nét tương đồng như thế. Những bộ vì truyền thống, những vật liệu cổ truyền, cách bài trí di vật, cảnh quan không gian…đã hàm chứa tại di tích này, tạo nên một di tích thuần Việt.
Nguồn: Google
Cập nhật: 06/10/2026