
Đền Đặng Giang
GIỚI THIỆU VỀ ĐỀN THƯỢNG THÔN ĐẶNG GIANG Đình và Đền Đặng Giang, thôn Đặng Giang xã Hoà Xá, thành phố Hà Nội được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ…
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 08/10/2026

GIỚI THIỆU VỀ ĐỀN THƯỢNG THÔN ĐẶNG GIANG Đình và Đền Đặng Giang, thôn Đặng Giang xã Hoà Xá, thành phố Hà Nội được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ…
Nguồn: Google
Cập nhật: 08/10/2026
Đình và Đền Đặng Giang, thôn Đặng Giang xã Hoà Xá, thành phố Hà Nội được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 3211/QĐ/BT ngày 12/12/1994 của Bộ Văn hóa Thông tin.
Đình Đặng Giang còn có tên gọi là đình Thị, Đền còn có tên gọi là đền Thượng đền thờ các vị thành hoàng làng Đặng Giang.
Di tích đền và đình Đặng Giang cách nhau không xa. Ngôi đình nằm ở đầu làng, tiếp giáp quốc lộ số 21B, thuận tiện đường giao thông thủy bộ, còn đền Thượng nằm ở giữa trung tâm làng nơi ngự của các vị thần được làng Đặng Giang suy tôn làm thành hoàng. Di tích có mối liên quan mật thiết với nhau, một nơi là thờ, tế lễ, một nơi là nơi ngự của các vị thành hoàng. Chính vậy, coi đó là những di tích cùng chung Lịch sử - Văn hoá.

Đường đi đến: Đến khu di tích đình và đền Đặng Giang sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ đều thuận tiện. Từ thủ đô Hà Nội, đi Hà Đông theo đường quốc lộ 6 đến ngã ba Ba La Bông Đỏ rẽ trái vào đường số 21B đi qua Kim Bài, Vân Đình là đến thôn Đặng Giang. Ngôi đình nằm cạnh đường 21B, và đi xuống đường trục của làng chừng vài chục mét là tới đền Thượng. Hàng năm, vào mùa xuân du khách cả nước đi chảy hội chùa Hương đều qua đình Thị rồi mới đến thắng cảnh Hương Sơn. Do vậy, đình Thị - Công trình văn hóa cổ, cũng là địa chỉ được nhiều khách thập phương dừng chân chiêm bái.

Ngôi đình cổ làng Đặng Giang có niên đại từ rất sớm, còn bảo tồn được 81 đạo sắc của các triều đại nhà nước phong kiến Việt Nam phong cho các vị thành hoàng. Đạo sắc sớm nhất có từ thời vua Lê Thần Tông niên hiệu Dương Hoà thứ ba (1637). So với các di tích khác khối lượng sắc ở đây là rất lớn, nhưng đó chỉ là một phần mà nhân dân bao đời còn giữ được; số lượng các văn bản chữ Hán còn nhiều đó là văn bia, câu đối, khoản ước… Tư liệu quý hơn cả là cuốn thần phả ghi “Sự tích ba vị thành hoàng” thờ ở đình, đền làng Đặng Giang. Cuốn sự tích này, được làm vào năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) do quan Hàn Lâm Đông Các Đại Học Sỹ Nguyễn Bính soạn, sau đến năm 1851 triều Nguyễn đời vua Tự Đức thứ tư, các vị kỳ mục lý lịch ở bản xã tuân phụng sao y bản.

Nhờ vào khối lượng văn bản chữ Hán trên, chúng ta biết rõ lai lịch, công trạng các vị thần được thờ như sau:
Vùng đất Hà Trung thuộc châu Hoan, xưa là quê hương sinh ra ba vị thánh là: Bao La Đại Vương, Quy Chân Đại Vương và Bát Nhã Đại Vương.

Tích thánh rằng: Xưa đất Hà Trung có Nguyễn Công Hoàn gia thế hào kiệt kết duyên với bà Trần Thị Hành. Hai gia đình thông gia đều môn đăng hậu đối. Cặp vợ chồng đời sống sung túc, nhưng đường con cái muộn màng. Ông bà chăm làm việc nhân nghĩa không tiếc của nhà mang giúp đỡ những người nghèo và làm công đức.
Mãi nhờ làm nhiều điều phúc đức bà mang thai, đến ngày 7 tháng giêng (âm lịch) thì sinh một người con trai tướng mạo khôi ngô, hắn giống hình tượng Phật đồng.

Đến năm sau bà Trần Thị Hành lại sinh một lần được hai người con trai. Mọi người trong vùng đều khen rằng đã là nhà tích thiện, ắt có phúc lớn.
Ba anh em lớn nhanh, thông minh, tài sức hơn người làng xóm thầm khen là những người kỳ dị đức độ sẽ giúp được việc nước, việc dân.
Không may, bố mất lúc đó anh cả mới lên 9 tuổi. Sau ba năm tang phục cha mẹ của cải gia tôi đều hết sạch, ba anh em bái tạ phần mộ từ biệt làng xóm đi tìm kế sinh nhai Đến đạo Sơn Nam, Đặng Xá xa thấy ruộng đồng lúa tốt tươi, dân thôn thuần hậu, ba anh em xin dân làng và sư trụ trì chùa được nương mình nơi cửa Phật.
Thời gian ở chùa, ba anh em được học kinh Phật, học võ nghệ. Vốn thông minh có sức khoẻ nên học đâu biết đó văn võ kiêm toàn. Nhà chùa đặt tên anh cả là Bao La, anh hai là Quy Chân anh ba là Bát Nhã.
Bấy giờ, nghe được tin vùng núi Tản Viên là nơi tối linh có Đức Sơn Thánh tài cao học rông có nhiều phép lạ. Ba anh em tìm đến đề tu học. Đức Sơn Thánh Tản Viên thấy ba anh em tinh thông khác người lại là người trung thực, bèn nhận làm đệ tử. Họ cùng vui cùng luyện tập và bàn bạc công việc nước dưới chân núi Tản.
Được Tản Viên truyền cho phép lạ, ba anh em đã học hành đến nơi. Trong một chuyến chu du, đến vùng đất cũ Sơn Nam, Tản Viên cho ba anh em ở lại quê Đặng Xá. Ở đây, ba ông khuyên dân làng cày cấy, trồng dâu nuôi tằm, dậy điều lễ nghĩa và xây thuần phong mỹ tục, nên mọi người đều kính mến.

Trong sự tích lại nêu: Tản Viên Sơn Thánh là người tài giỏi nên được vua Hùng kén chọn làm con rể. Ông có công đánh bại nhiều trận giặc ngoại xâm vào xâm lược nước Văn Lang. Người có kế sách cao cường tâu với Hùng Duệ Vương rằng: "Thục Phán vốn là dòng dõi họ Hùng nay dâng thư cầu hoà thế là biết tiến biết lui gọi là người hiền. Thần trộm nghĩ chi bằng Bệ hạ nhường ngôi cho Thục Vương. Từ đó con cháu Hồng Bàng nối mãi đến ngày nay.
Các cuộc chiến đấu bảo vệ nước Văn Lang ba vi Bao La, Quy Chân và Bát Nhã đã đóng góp công lao giúp Tản Viên. Vua Hùng ghi nhận công lao của 3 vị ban tước lộc thực ấp tại Đặng Xá xã. Từ đó, các ông thường xuyên chăm lo phủ dụ dân chúng trong miền hướng việc nhân nghĩa, lê nhường tương kính, vui trong niềm vui của mọi người, vất vả cùng nhau chia sẻ.
Khi An Dương Vương lên ngôi xây điện thờ vua Hùng đồng thời cùng ban sắc mệnh mỹ tự cho các công thần của Hùng Vương đề truyền cho các đời sau thờ:
1- Dực Vân cương nghi trung hậu đại vượng
2- Tuyên Khánh phổ huệ bảo dân đại vương
3- Tề thế an dân đoan chính đại vương
Về sau dân làng sở tại dựng miếu đền thờ những vị trên có công lao với nước có nghĩa tình với dân. Rồi xây dựng đình tôn lên làm thành hoàng, biểu tượng tốt đẹp đề mọi người sau noi theo. Công đức của ba vị được nhân dân Đặng Xá ghi nhận, họ lập bài vị thờ trong đều ghi:
1. Hoàng triều gia phong dực vân cương nghi lịch triều gia phong phú cách hách. Linh phiên chúa linh phủ. Hiền Lương dực bảo trung Hưng linh trạc, trung đẳng thần Châu Thị Bao La Đại Vương.
2. Tế thế an dân lịch triều gia phong Túc cũng đôn vua, đốc thực linh phủ hiền lương, dực bảo trung hưng súy trung đẳng thần Quy Chân Đại Vương.
3. Tuyên khánh phủ huệ lịch triều gia phong tập phúc nghinh tưởng hách trực linh phù hiền lương. Dực bảo trung hưng thượng đẳng thần Bát Nhã đại vương.

Thời Nguyễn, các nhà nho văn hay chữ tốt ra đền, đình chiêm bái. Kính nể bậc tiền nhân mà tựa đề những áng văn thơ ca ngợi công đức các ngài.

Ví như bài minh viết bằng chữ Hán trên cuốn thư:
Phiên âm:
Lâu các si nga chúc thu hoàng
Chương cung di lý đại thê loan
Tam thiên niên cổ thần linh phát
Bát bách nhân gia tác tục nhàm
Hát tích tây hồi y bái thuỷ
Mi đường nam hạ kiếm mang sơn
Khách du khinh phỏng mai nhan lộ
Thông uất kỳ tung chắc dám gan
Phan Văn Tâm cung đề
Năm Thành Thái thứ tám -1906
Đình, Đền Đặng Giang lưu sự tích về ba vị tướng lĩnh thời Hùng Vương thứ 18, đã cùng Tản Viên Sơn Thánh (đệ nhất công thần triều Hùng) chiến đấu đánh giặc giữ nước Văn Lang. Ba vì Bao La, Quy Chân và Bát Nhã còn là người có công với làng Đặng Giang tập hợp dân chúng khai khẩn đất hoang cấy lúa trồng dâu nuôi tằm dệt vải mang lại đời sống ấm no. Với công lao to lớn trên nhân dân Đặng Giang từ bao đời nay đã lập đền thờ, kế sau sân đình tôn các ông là phúc thần làm thành hoàng phù trợ cho dân làng.

Ngôi đình Thị thời nhà Lê vô cùng quý lại nằm sát đường Quốc lộ 21B. Hàng năm, khi xuân hội bao vạn lượt du khách trẩy hội chùa Hương đi qua đều ngỡ ngàng với công trình văn hoá cổ kính.
Thuở xưa, trước thời chưa có đình Thị, đê sông Đáy cũng không cao to, đồ sộ, án ngữ. Dải đất bãi trải dài từ thềm làng xuống ven sông có bờ đê nhỏ. Đi chùa Hương, ít người đi bộ. Họ thường đi đò dọc từ bến Phương Đình - Bến Đục vào suối Yến.

Vào thế kỷ XVII, nhân dân Đặng Giang dựng đình. Thời đó trước cửa đình là cả cánh đồng bãi mía, dâu mênh mang xa xa là dãy núi đã Hương Tích cỏ cây xanh tít chân trời. Hoài An cảnh đẹp, nhà thơ Ngô Thì Sỹ đã nhiều lần đi qua, làm bài thơ trữ tình hoài cổ:
Lộ quá Hoài An chính hiển chung
Khước tòng địa mạch kiến dân phong
Điều liên vạn khoảnh hồng đào ngoại
Thôn tại quần phong thuỷ bích trang
Hương tụ cửa truyền linh thắng tích
Tiều viên do ký đức phù công
Đương lúc hồi chuông sáng đánh lên thì vừa qua địa hạt Hoài An
Nhân xem mạch đất biết được phong tục của nhân dân ở đây
Ngoài chỗ sóng to tức là đám ruộng liền muôn thửa
Trong khoảng núi đá xanh biếc là nơi của các thôn dân
Chùa Hương Tích truyền lại từ lâu có dấu tích thiêng liêng
Chỗ vườn chuối còn nhớ lại cái công giúp đỡ nhà Lê khí trước.
Đình Thị công trình văn hoá cổ kính nằm trong không gian thơ mộng có cổng tam quan hai tầng tám mái tường bao quanh, cây và thảm cỏ trên sân và ngôi đình kiến trúc nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XVIII - Thật như một bức tranh thơ mộng.

Hiện nay, ngôi đình vẫn nguyên vị trí nền cũ. Thời Nguyễn, đê đắp cao đã chắn ngữ cửa đình. Con đê ngăn lũ, vừa là đường quốc lộ liên tỉnh, xã với khu thắng cảnh chùa Hương nên nhiều khách qua lại nên nó cũng làm duyên việc giao lưu văn hoá cho di tích. Do vậy nhiều người biết tới đình Thị Đặng Giang.

Đình Thị làm kiểu chữ Đinh (J) có 2 ngôi: Đại bái và Hậu cung. Ngôi Đại bái chiều dài là 20m, chiều rộng là 8m, chia 5 gian. Ngày xưa, gian chính giữa đặt hương án, dâng tế và bộ bát bửu xà mâu. Mỗi bên hai gian thông thoáng để giành chỗ cho quan viên ngồi dự lễ hội. Ngôi Hậu cung đấu đinh và gian giữa ngôi Đại bái chiều dài 10m, chiều rộng 6m, chia làm 3 gian nhỏ. Mặt bằng ngày xưa bài trí khám thờ, sập, hương án trên có ngai và bài vị thờ thành hoàng.

Dáng đình lùn, từ mặt nền lên đến dạ tàu là 2m. Chiều cao đến nóc mới chỉ 4m. Mái dốc chảy lợp ngói mũi hài. Góc đao cong có trang trí lá đề, con kìm và rồng đắp vữa trên đỉnh đao. Tường xây đôi mươi xung quanh. Phía trước và hai hồi có cửa rộng mở thoảng mát.

Kết cấu khung gỗ ngôi đình có 6 hàng cột, mỗi hàng 4 cột, tổng số 24 cột. Bốn cột gian giữa, gọi là tứ trụ đường kính tới 60cm. Đây là ngôi đình có khung cột quá lớn, hiếm thấy. Chân tảng đá kê cột vuông dưới đáy (80x80), phía trên gọt tròng lồi đường kính 65cm. Những hàng cột quân cùng to lớn đường kính 45cm - 50cm. Các hàng cột nối giằng với nhau bằng xà dọc và xà ngang. Trên đỉnh cột có đấu vuông thót đáy để chồng hệ thống “Vì”.

Vì kèo gỗ ở đình Thị có hai lớp kiến trúc Lớp xưa thời Lê là vị kẻ chuyền và bánh song. Lớp thời Nguyên tu sửa là vì chồng rường giá chiêng. Ở vì kiến trúc Lê hoạ tiết mỹ thuật trang trí trên thân khúc kè. Đề tài sóng nước, rồng, hoa sen, cúc… bằng phương pháp đục bong trên gỗ những mảng khối lớn gọn, mượt mà, nên mỗi chi tiết là một tác phẩm điêu khắc đẹp. Ở vì kiến trúc thời Nguyễn khoảng trống của các khúc giường trục đỡ giá chiêng có lắp các mảng cốn. Hai mặt cốn đều có bong chạm nổi đề tài tứ linh: long ly, quy, phượng. Ngôi đình tu sửa thời đầu Nguyên nên mỹ thuật còn rất gần gũi và kế thừa được phong độ thời Lê. Sự xuất hiện lớp trang trí mỹ thuật có mặt hổ phù, chữ triện, những nét bong còn mềm mại. Thời Nguyễn tu sửa, có sơn son cột và cả trên bức cốn làm rực rỡ ngôi đình. Với hệ thống cột khổng lồ của khung đình và sự trang trí lộng lẫy nêu trên, vào đình Thị cảm nhận sự cổ kính nghiêm thâm, nhận thấy sự tài năng trí tuệ thông minh của Người xưa làng Đặng Xá.

+ Về kiến trúc của đình Thị là công trình được xây dựng vào thời Lê - Thế kỷ 17 như bản chữ khác trên cột đình có ghi quan Thương tướng họ Nguyễn Thế, cung tiến làm đình vào năm Lê Chân Tông niên hiệu Phúc Thái nguyên niên (1643) Đến thời Nguyên sớm tu sửa lớn. Điều này được phản ánh qua bản chữ ghi trên cột quân: Tân hợi niên bản giáp hậu Nguyễn Danh hậu thế Nguyễn Thị Dề cung trọng xuân hoặc trên câu đầu vì bên có ghi năm tu sửa Tuế thứ Nhâm Thìn (…) trọng đông tu tạo.
+ Nghệ thuật điêu khắc gỗ trên vì hệ thống khung xà đình Thị có hai lớp rõ rệt:
Lớp nghệ thuật điều khắc thời Lê: tập trung trên các khúc xà, kè lớn có trang trí tác phẩm độc long, long hí thuỷ. Con rồng thời Lê trung Hưng râu thẳng, đuôi vút bút lông, miệng há rộng, mũi tròn, nom hiền lành. Tác phẩm không rậm rì hoạ tiết, đường nét mềm mại. Trên các đấu vuông đấu thắt cổ bồng có trang trí dải hoa văn cánh sen, hoa cúc, và sóng nước. Trên các khúc giường đều chạm những vầng mây lớn cuồn cuộn như sóng biển, hoặc bảng lảng như cụm mây chiều, cách điệu cổ linh chi quý hiếm…

Lớp điêu khắc trên gỗ thời Nguyễn sớm chiếm chủ đạo về trang trí. Đó là những bức cốn trên “vì kèo”; đầu dư, đầu bẩy hiên. Tiếp thu tinh hoa nghệ thuật điêu khắc thời Lê, lớp thời Nguyễn có cầu kỳ hơn, rậm rạp các đề tài tứ linh rồng phượng quy, ly, cả một quần thể động vật trong một tác phẩm có cả đầm sen mây trời và nước mênh mang. Phía sau bức cốn, có chạm nồi các đề tài thông trúc tri mai và có những loài vật thường như chuột, nai gầu… mang tâm trí dân dã. Thời kỳ này, nghệ nhân có phủ sơn son thếp vàng trên các tác phẩm điêu khắc nên làm sáng hẳn lên và uy nghi nơi thờ thánh.

Về nghệ thuật điêu khắc trên các đồ thờ trong đình, cần chú ý Bộ ngai và bài vị thờ, hương án, cuốn thư…

Những bộ ngai thờ và bài vị thờ thành hoàng làm vào thời Lê. Đặc điểm trang trí ngai thờ có khác lạ; dáng lún. Tay ngai ngắn rồng Lê bờm mác. Bài bị đặt bên trong bầu bĩnh. Đầu bài vị làm tròn, thân hơi phình, trang trí diềm vân mây và rồng thếp vàng lông lây. Lòng bài vị ghi Duệ hiệu các vị thần như ghi ở trên.
Hương án thờ làm vào thời Nguyễn là tác phẩm điêu khắc cầu kỳ, chia làm 3 phần rõ rệt: Mặt, thân và chân. Phần thân trang trí nhiều ô, nhiều lớp, nhiều tầng hoa văn đó là cánh sen, hình học, hổ phú, long mã, nghê chầu… Chú ý xem các ô dọc nhỏ có con rồng leo, thân nản tròn xoắn hình sin, miệng nhao phía trên như muốn vươn lên trên không gian, chớm vào dàn hoa sen chạy dài. Hương án được trang trí cầu kỳ công phu ở mặt tiền cũng là thể hiện sự kính trọng của người xưa với thành hoàng làng. Đây là một tác phẩm nghệ thuật đẹp thời Nguyễn.

Với đình Thị có nhiều tác phẩm điêu khắc đẹp như: đôi ngựa gỗ thờ, kiệu bát cống, nhưng hai tấm cuốn thư cũng hấp dẫn, gây sự tò mò tìm hiểu cho khách tham quan. Cuốn thư trang trí mỹ thuật thời Nguyên - làm vào năm Minh Mạng nguyên niên. Nghệ thuật đục thủng bong chạm rồng, phượng, là hoa trên trần, diềm. Giữa lòng cuốn thư có bài minh ca ngợi cảnh đẹp, thơ mộng và sự uy linh của vị thành hoàng trong đình Thị làng Giang Xá (Đặng Giang):
“Huy hoàng nhất thuốc nha đau tiêu
Bảo áp hương nùng thuỷ thu điều
Bạt địa lâu đài kim thử ấp
Kỳ thiên đồng vũ cổ hà triều”
Hoặc bài minh trong một cuốn thư làm vào năm Thành Thái bát niên ()
“Lâu các si nga chúc thụ hoàng
Trường cương đã lý đại đê loan
Tam thiên nhiên cổ thần bình phát
Bớt bách nhân gia tác túc nhàn”
- Có thể khẳng định: Đình Thị làng Đặng Giang là ngôi đình cổ, kiến trúc thế kỷ 17, nghệ thuật điêu khắc cùng thời có giá trị mỹ thuật cao là quý hiểm. Trong lớp kiến trúc, mỹ thuật thời sau đều nhập hài hoà trong tổng thể thống nhất, nó bổ trợ, tôn đẹp cho nhau nên khu di tích còn được bảo tồn đến nay với độ bền vững về mặt kỹ thuật và đẹp về mỹ thuật điêu khắc.
Khi kiểm kê đề lập hồ sơ khoa học, đã thống kê được những hiện vật cơ bản sau.
- Cuốn thần phả sự tích ba vị thánh làng Đặng Xá
- 81 đạo sắc phong của các triều đại phong cho ba vị thần thờ ở đình, đền làng Đặng Giang. Đạo sắc sớm nhất là thời vua Lê Thần Tông niên hiệu Dương Hoà thứ 3 (1937).
- Tấm y môn.
- Hương án 3 chiếc
- Ngai thờ 8 chiếc
- Hạc thờ 2 chiếc
- Mâm bồng 2 chiếc
- Quả đựng 2 chiếc
- Quán tẩy 1 chiếc
- Cuốn thư 2 chiếc
- Bức tranh vẽ vị thành hoàng 1 bức.
- Chuông đồng 1 chiếc
- Bát hương 2 chiếc
- Đỉnh 1 bộ


- Bia đã 2 tấm
- Bình hương gồm sử 6 chiếc
- Lọ hoa 2 đôi
Nhiều hiện vật nhỏ là đồ thờ trong di tích.
Khu di tích đình, đền Đặng Giang từ xưa đến nay, tương truyền thờ 3 vị: Bạo La, Quy Chân,. Bát Nhã là những vị cùng Tản Viên Sơn Thánh giúp vua Hùng đánh giặc giữ nền độc lập cho nước Văn Lang. Tam vị thánh lại có tên hiệu nhà Phật, vì theo thần tích đã được tu nhân tích đức. Những tư liệu dã sử trên đã cung cấp cho ta hiểu thêm về thời đại Hùng Vương - buổi đầu dựng nước, bảo vệ nước - ở vùng phía nam nước Văn Lang. Nghiên cứu khu di tích văn hoá truyền thống có dịp hiểu sâu sắc thêm vùng đất Đặng Xá văn hiến ngàn năm đời nào cũng có người học rộng tài cao. Vào thời kỳ tiền cách mạng có đồng chí Hồng Quang là người con của một gia đình có học đã giác ngộ cách mạng sớm tìm đến với Đảng chiến đấu dũng cảm hy sinh anh dùng vì nền độc lập tự do của dân tộc. Một dịp con người Đặng Giang gợi lại truyền thống hào hùng, đặng phát huy cao hơn ý thức cách mạng ấy vào công cuộc đổi mới xây dựng quê hương ngày càng giàu có và kiên cường cách mạng.
Về kiến trúc nghệ thuật: Đình Thị là công trình kiến trúc nghệ thuật thời Lê hiếm có ở tỉnh Hà Tây. Tác phẩm này đã ghi lại thành quả lao động cần cù sáng tạo của ông cha con người Đặng Giang thuở đó. Thông qua đây ta hiểu thêm về trình độ văn hóa, thẩm mỹ, và đời sống kinh tế, xã hội của đương thời. Thế hệ chúng ta ghi nhận, khâm phục tài năng người xưa, phải tiếp thu văn hóa tinh hoa, vận dụng sáng tạo vào cuộc sống của xã hội mới.
Hàng trăm năm khu di tích vẫn còn khá nguyên vẹn, đó là điều đáng mừng. Đương nhiên, nguyên vật liệu và thời tiết khắc nghiệt của khí hậu đất nước ta, di tích cũng đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Theo tư liệu nghiên cứu. Đình Thị làm vào thế kỷ 17, suốt mấy trăm năm, nhân dân địa phương đều có ý thức tu bổ. Đặc biệt vào thời Nguyễn làm lại nhiều phần. Do vậy đình Thị rất to lớn và khang trang.
Từ ngày hoà bình (1954) đến nay, đình đã được chính quyền quản lý, chăm lo, tu bồ nhỏ. Sử dụng vào những công việc chung là trường học, trung tâm văn hoà và kho tàng. Đến nay, chính quyền giao cho hội cựu chiến binh, những người cao niên, trước kia cầm súng bảo vệ tổ quốc, này về xây dựng quê hương họ thấu hiểu lắm về giá trị của cuộc sống khi hiểu cái giá đắt về xương máu của đồng đội mình đồ xuống để bảo vệ nền độc lập tự do, giữ được nền văn hóa dân tộc. Việc sử dụng di tích lịch sử văn hoá vào mục đích văn hoá là điều tất yếu theo quy định chung của nhà nước ta. Theo tinh thần trên, việc bảo quản và tu bổ di tích đình đền Thị phải được coi trọng vì đó là tài sản vô giá của toàn dân, là nơi trung tâm văn hoá của một làng. Sau khi được xếp hạng đình đền Thị đã được bảo quản, tu bổ đẹp hơn theo sự mong mỏi của hàng nghìn con người làng Đặng Giang.
Nguồn: Google
Cập nhật: 08/10/2026