Đền Đỗng Linh
Đền Đỗng Linh xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội 1.
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 06/10/2026
Đền Đỗng Linh xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội 1.
Nguồn: Google
Cập nhật: 06/10/2026
Đền Đỗng Linh xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội
Kiều Phú là một làng Việt cổ có từ xa xưa, cùng với việc tụ cư lập làng, hệ thống tôn giáo cũng sớm được hình thành, nhiều công trình kiến trúc được xây dựng để đáp ứng nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng dân cư làng xã, đồng thời bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Từ ngàn xưa, hình ảnh cây đa giếng nước sân đình vốn đã quen thuộc và không thể thiếu trong các làng Việt cổ ở đồng bằng Bắc bộ. Ở mỗi làng trong xã Kiều Phú hiện còn bảo tồn được hệ thống di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu cho vùng xứ Đoài như đình Ngọc Bài, quán Ngọc Bài, chùa Đồng Bụt, chùa Ngọc Phúc, đình, quán Liệp Mai… đã được nhà nước xếp hạng. Hầu như các thôn làng nào cũng có đủ các thiết chế văn hóa như đình, đền, chùa nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Đình, miếu dựng lên thờ thành hoàng làng, chùa thờ Phật.
Căn cứ vào lời kể của các cụ cao niên trong làng cùng 01 đạo sắc phong có niên đại Khải Định cửu niên (1924) cùng cuốn thần phả, hai cuốn sác chữ Hán còn lưu giữ tại di tích thì đền Đỗng Linh là nơi thờ Mẫu Duệ Sơn Thần Tổ Thuật công chúa tôn thần và Mai Hoa Thị Nữ, Quế Hoa Thị nữ sự tích sự tích về Mẫu Duệ Sơn Thần Tổ Thuật công chúa gắn liền với sự tích công chúa Liễu Hạnh, con gái Ngọc Hoàng, ba lần giáng trần. Trong trần thứ hai bà được hoá thân thành Thổ Lĩnh công chúa, và Mẫu Duệ Sơn Tổ Thuật công chúa chính là tên gọi khác của bà trong lần giáng trần này.
Trong tâm thức tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt, thì bất kỳ một ngôi đền thờ mẫu nào cũng là nơi phụng thờ những người mẹ thiên nhiên, người mẹ của núi sông và người mẹ của núi rừng. Những truyền thuyết dân gian và những huyền sử chép rằng:
Thời ấy, ở thôn An Hải, xã Vân Cát, huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam Hạ (nay thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) có vợ chồng ông Lê Thái Công ăn ở hiền đức thường làm điều lành. Ông bà đã có mụn con trai. Đến niên hiệu Diên Hựu, đời vua Lê Anh Tông, bà vợ đã có mang quá kỳ sinh nở nhưng không thấy chuyển dạ, lại không ăn uống gì, chỉ ưa hương hoa thơm. Gia đình cúng lễ mãi không khỏi. Lê Thái Công nằm mơ thấy mình được lên Thiên đình. Tại đây và được dự một bữa tiệc lớn do Ngọc Hoàng khoản đãi. Ông thấy công chúa Quỳnh Nương lỡ tay làm rơi chén ngọc nên bị đày xuống trần gian đầu thai vào làm con gái của Lê Thái Công ở xã Vân Cát mang tên là Giáng Tiên.
Lớn lên, Giáng Tiên xinh đẹp bội phần, giỏi thơ văn, cầm kỳ thi hoạ. Năm 18 tuổi, nàng kết duyên cùng Đào Lang là con nuôi của một vị quan trí sĩ cùng làng. Ba năm sau, vào ngày mồng 3 tháng 3, Giáng Tiên đột ngột từ trần, người ta nói nàng là tiên trở về Thượng giới. Ngọc Hoàng thấu hiểu sự tình liền cho đổi tên là Liễu Hạnh và trở lại cõi trần.
Tiên chúa đã ngao du khắp nơi, nhất là ở vùng Lạng Sơn. Nàng thường hay lui tới các thắng cảnh ở Kinh Đô, đón đường sứ bộ và xướng hoạ cùng Phùng Khắc Khoan. Tiên chúa thường hiển linh ở Hồ Tây, chén tạc chén thù cùng các danh nhân họ Ngô, họ Lý. Người trần đều phục tài thơ của Tiên chúa huyền nhiệm thanh cao. Sau đó, Tiên chúa lại dời Hồ Tây vân du những địa danh như làng Sóc, Nghệ An… Truyền rằng, vào thời ấy Tiên chúa hiện thành một phụ nữ hạ trần kết duyên cùng thư sinh vốn là hậu thân của Đào Lang thủa trước. Được mấy năm Tiên chúa lại về trời.
Ở trên trời không sao quên được cõi Trần, nàng lại xin Ngọc Hoàng cho giáng sinh lần nữa. Lần này Tiên chúa mang theo Quỳnh Hoa và Quế Hoa xuống miền phố Cát. Người đã hiển linh. Người lành thì được hưởng phú, kẻ ác bị tai vạ. Nhân dân lập đền phụng thờ. Lúc đó vua Lê Huyền Tông cho là yêu quái nên đã mời Vũ Lâm cùng với các thuật sĩ đến trừ tà. Đền chúa bị phá tan. Sau đó, cả làng bị phát sinh dịch bệnh, dân chúng cho là Tiên Chúa trừng phạt liền tâu lên vua và lập lại đền. Vua thuận theo và sắc phong cho là Mã Hoàng công chúa. Tiên Chúa cũng từng theo các đoàn quân âm phù chinh phạt tiễu trừ giặc dã. Triều đình gia tăng là Chế Thắng Hoá diệu Đại Vương.
Lần xuống thứ ba này, truyền tích của nhiều vùng mà Tiên chúa đã đi qua còn ghi lại hành trạng của bà và cuộc đấu tranh quyết liệt để ngăn chặn những điều ác đó. Trận đại chiến Sòng Sơn có sự giúp sức của phật bà Quán âm đã phá vỡ Đạo tràng là một minh chứng.
Công chúa Liễu Hạnh hay bà Chúa Liễu, mẫu Sòng, mẫu Phủ Giày... là những danh xưng mà dân gian tôn vinh trong thời điểm lịch sử lúc đó. Tình trạng nội chiến, đất nước chia cắt, nhân dân lầm than thì sự xuất hiện của hình tượng mẫu trong tín ngưỡng dân gian là biểu tượng khát vọng giải phóng con người, giải phóng phụ nữ nhằm tiến tới sự bình quyền; mặt khác trong tâm thức dân gian, Mẫu là người có quyền năng có thể ban phước lành cho người dân hoặc giáng hoạ trừ tà một cách tức thì. Đây chính là điểm đặc sắc của tín ngưỡng thờ Mẫu tại Việt Nam.
Trong tâm thức tín ngưỡng bản địa của người Việt thì hình tượng Mẫu mang biểu tượng của người mẹ từ bi, che chở cho người con bằng tấm lòng bao dung và độ lượng. Sự hiện diện của Tam toà Thánh Mẫu tại đền Thiện là sự cầu mong người mẹ thiên nhiên, người mẹ của núi sông, người mẹ của núi rừng, độ giúp cho muôn dân khang cường, hanh thuận.
Ngoài ra đền Đỗng Linh còn thờ hai cô là Mai Hoa Thị nữ và Quế Hoa Thị nữ. Có hai cô gái dũng cảm, bí mật lên xứ Lạng Sơn để dò la tình hình giặc Thanh và tiếp tế cho quân ta, hoạt động bí mật và được nhân dân yêu quý . Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, hia cô bị giặc phát hiện, xát hại và quăng xác xuống suối. Xác hai cô trôi dạt về làng, nơi mọi người từng yêu quý. Sau khi mất , người dân đã lập miếu thờ hai cô để tưởng nhớ. Kẻ từ đó nhân dân làm ăn phát đạt, mùa màng bội thu, nhân dân tin rằng hai cô đã hiển linh phù hộ. Tiếng lành đồn xa, miếu thờ hai cô dần được tu sửa thành đền Đổng Linh, thu hút nhiều người đến chiêm bái.
Căn cứ vào một số di vật có giá trị cùng kiểu thức kiến trúc ở hạng mục Tiền tế, hậu cung, tả hữu mạc thì ngôi đền này được khởi dựng từ lâu đời. Tại Đền Đỗng Linh còn lưu giữ được một số hiện vật như: Sắc phong, Thần phả, bia đá, bát hương gốm thổ hà, long ngai, tượng thờ...có giá trị nghệ thuật thời Nguyễn. Căn cứ vào tư liệu này và lời kể của các cụ trong làng thì nguyên xưa đền Đỗng Linh được xây dựng vào năm 1795 trên thửa đất do cụ Nguyễn Thị Hiệu Diệu Cận cung tiến là 1 sào 2 thước và cụ Nguyễn Như Trinh cung tiến 3 thước các ngôn đền ngày nay khoảng 100m gọi là “Bắc điện quán thần Lâu”. Sau đó được hai gia đình cung tiến đất về vị trí hiện nay. Sau đó 7 năm sau cụ Nguyễn Doãn Hiền người thôn Đồng Bụt trồng cây Bồ đề tại đền năm 1802 và được đặt tên là cây Đề Hiền và đã được công nhận cây di sản năm vào ngày 20 tháng 8 năm 2012. Đến năm 1941 trùng tu nghi môn, 1938 xây dựng tả hữu mạc, năm 2007 đại trùng tu toàn bộ đền.
3.Giới thiệu khái quát về phạm vi, quy mô, bố cục mặt bằng tổng thể của di tích, cảnh quan môi trường khu vực di tích; đánh giá khái quát hiện trạng kỹ thuật của di tích, nêu rõ mức độ hư hại, xuống cấp của di tích, tình trạng vi phạm di tích
Đền Đỗng Linh nguyên xưa kia là một ngôi đền có kiến trúc chữ “Nhị” 5 gian tiền tế và 3 gian hậu cung. Về su ngôi đền được xây dựng lại theo kiểu đền Thượng làm theo kiểu chữ “Đinh” gồm 5 gian tiền tế và 2 gian hậu cung. Phía trước là đường đi nhìn ra ao của làng, ba phía là cư dân quần tụ. Đền Đỗng Linh kết cấu theo kiểu chữ “Đinh” bao gồm các hạng mục như: Cổng tiền tế, hậu cung, tả hữu mạc, tả vu và các hạng mục phụ trợ khác...
Cổng là hạng mục công trình đầu tiên được làm đồ sộ với ba lối đi, lối đi chính giữa rộng và thoáng hơn lối đi hai bên. Cổng giữa làm kiểu hai tầng tám mái đao cong, chính giữa bờ nóc đắp hình tượng mặt trời, hai đầu là hai con kìm cách đệu, mái giả ngói ống màu đỏ. Ngăn cách giữa hai mái được đăp bức hoành phi đề ba chữ Hán “Động Linh từ”, phần mái dưới đề năm trùng tu tôn tạo gần đây, Nối sang hai trụ biểu là hai bức tường lửng, trên tường tửng đắp hai võ tướng cầm đao canh gác. Hai trụ biểu hai bên đỉnh trụ đắp tứ phượng chầu ép thân hình chái dành, đuôi chụm lại hướng thiên, đầu ngoảnh ra bốn hướng, phía dưới là ô lồng đè để trống không trang trí hoa văn, thân trụ soi gờ kẻ chỉ đắp đôi câu đối chữ Hán, đế trụ thắt cổ bồng. Từ trụ biểu nối sang hai cổng nhỏ là hai bức tường lửng. Cổng được làm theo kiểu hai tầng tám mái đao cong, chính giữa đắp hình tượng mặt trời, ngăn cách giữa hai mái đắp bức hoành phi, chính giữa trang trí hoa văn. Phần dưới cổng làm cuốn vòm đơn giản. Phần trong cổng chính giữa được làm thêm hai trụ biểu, hai trụ có kích thước lớn hơn hai trụ phía ngoài. Đỉnh trụ đắp tứ phượng chầu, ép thân hình chái dành, đuôi chụm lại hướng thiên, đầu ngoảnh ra bốn hướng. Phía dưới là ô lồng đèn trang trí hoa văn, thân trụ soi gờ kẻ chỉ đắp đôi câu đối chữ Hán, đế trụ thắt cổ bồng.
Từ cổng đi vào qua một khoảng sân lát gạch vuông đỏ kích thước 30x30cm là đến hạng mục tiền tế, bước lên 3 bậc lát bằng gạch vuông đỏ là đến hiên. Hiên rộng và thông thoáng.
Hạng mục tiền tế gồm 5 gian làm kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Chính giữa bờ nóc đắp hình ảnh hình tượng hổ phù, hai đầu đốc là hai đấu đinh, bờ dải chạy dài xuống phía dưới.
Qua ngưỡng cửa bức bàn là vào bên trong, hệ thống cửa bức bàn làm bằng chất liệu gỗ, bào trơn đóng bén thiên về độ bền chắc, phần trên cửa làm trấn song con tiện, tạo sự thông thoáng cho do tích, cánh cửa không trang trí hoa văn.
Vào bên trong, nền nhà lát gạch vuông đỏ gồm 6 bộ vì gỗ được làm thống nhất theo kiểu “Thượng giá chiêng, hạ kẻ ngồi” Trên các bộ vì bào trơn đóng bén thiên về độ bền chắc, chạm khắc hoa văn
Tại hạng mục tiền tế được bài trí đồ thờ tự như sau: Trên xà treo một quả chuông đồng, gian giữa bài trí đôi hạc cùng hoành phi, cửa võng, câu đối...
Nối từ gian giữa tiền tế là đến hạng mục hậu cung gồm 2 gian làm theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợn ngói ta, đốc phía sau đắp đấu đinh, nền nhà lát gạch vuông đỏ.
Các bộ vì được làm theo kiểu: Bộ vì giữa “Thượng chồng rường, hạ kẻ ngồi. Bộ vì áp hồi làm teo kiểu “Thượng cốn, hạ cốn” gối lên hai bờ tường. Trên các bộ vì được bào trơn đóng bén thiên về độ bền chắc.
Tại hạng mục hậu cung được bài trí đồ thờ tự như sau:
Phía ngòi chính giữa bài chí một ban thờ gồm hương án, trên hương án đặt chân đèn, đài nướcm bát hương, mâm bồng. Ban thờ trong bài trí một hương án nhỏ. Tiếp đến bài trí một ban thờ gồm hương án, trên bài trí bát hương gốm thổ hà, đài nước, chân đèn, khám thờ. Tượng mẫu và hai cô, hòm sắc, giá văn cùng bộ chấp kích, chiêng đồng, câu đối...
Tả hữu mạc là hạng mục nằm hai bên phía trước hạng mục chính tiền tế, tả hữu mác gồm 5 gian làm theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Bốn gian để thông thoáng không có cửa, một gian quây kín bằng bê tông, trổ cửa tròn. Nền nhà lát gạch vuông đỏ.
Vào bên trong là các bộ vì được làm thống nhất theo kiểu “Vì kèo, hạ kẻ” gối lên hai đầu bờ tường, các bộ vì bào trơn đóng bén thiên về độ bền chắc.
Tại hạng mục hữu mạc bài trí hệ thống bia đá thời Nguyễn cùng hương án, ống hương, bát hương sứ, mâm bồng... tả mạc bài trí hương án, chân đèn, ống hương...
Tả vu là hạng mục nằm sát tả mạc phía trong gồm 3 gian, làm theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Các bộ vì được làm thống nhất theo kiểu “Vì kèo, hạ kẻ” bào trơn đóng bén thiên về độ bền chắc.
Đền Đỗng Linh là một di tích lịch sử văn hóa, nằm trên vùng đất có bề dày lịch sử giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Nơi đây đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hoá tâm linh của dân làng, giáo dục tinh thần yêu quê hương cho các thế hệ hiện sinh. Trải qua thời gian di tích đã hội tụ được những giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, thẩm mỹ sâu sắc, mang đặc trưng của vùng xứ Đoài xưa và nay.
Nơi đây đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hoá tâm linh của dân thôn Đồng Bụt, giáo dục tinh thần yêu quê hương cho các thế hệ hiện sinh. Di tích luôn hội tụ và toả sáng những giá trị chân xác của dân tộc, góp phần bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống, góp phần bảo vệ thuần phong mỹ tục theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 05 (khoá VIII) và Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khoá IX) về việc xây dựng và tiếp tục xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc
Đền Đỗng Linh được khởi dựng trên vùng đất có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời. Mảnh đất nằm trong khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng nên nhân dân nơi đây có đời sống văn hóa tinh thần và cố kết cộng đồng cao
Sự hiện diện của ngôi đền gắn bó chặt chẽ với cộng đồng làng xã và trở thành niềm kiêu hãnh, một biểu tượng của cộng đồng. Dưới góc độ tâm linh, ngôi đền và vị thần được thờ luôn bảo trợ cho cộng đồng làng xã.
Đặt trong không gian địa văn hóa như vậy, sự hiện diện di tích đền Đỗng Linh tại vị trí hiện nay như một chứng tích lịch sử, đánh dấu sự hình thành và phát triển của quê hương giầu truyền thống cách mạng hôm qua, hôm nay và mai sau, góp phần thúc đẩy sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 05 Khóa VIII và Kết luận Hội nghị Trung ương 10 khóa IV về xây dựng và tiếp tục tục xây dựng phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Đền Đỗng Linh được phản ánh thông qua các sinh hoạt tín ngưỡng gắn liền với vị thần được thờ, đồng thời có sự gắn kết với các di tích khác ở trong làng Đồng Bụt. Đền Đỗng Linh thờ Mẫu Duệ Sơn Thần Tổ Thuật công chúa tôn thần cùng hai cô là Mai Hoa thị nữ và Quế Hoa thị nữ, cho thấy tâm thức tín ngưỡng của người dân nơi đây rất mãnh liệt.
Tâm thức ấy được bảo tồn và lưu truyền qua nhiều thế hệ để tạo thành tinh thần văn hoá chung của người Việt, góp phần tạo nên bề dày văn hóa, sinh hoạt tín ngưỡng của vùng đất này. Những sinh hoạt văn hóa tinh thần đã phần nào phản ánh tính cố kết cộng đồng làng xã ở nơi đây. Thông qua hình thức tế lễ trong những ngày lễ hội, sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng tại di tích, chính là dịp gắn kết cộng đồng làng xã, lưu giữ và kế thừa truyền thống bản sắc văn hoá làng, góp phần lưu giữ và truyền lại những giá trị văn hoá cho lớp thế hệ trẻ phía sau.
Giá trị thẩm mỹ của di tích là giá trị nội tại, bao hàm ở những khía cạnh như giá trị về kỹ mỹ thuật, giá trị về nghệ thuật tạo hình, tư duy về cách bài trí di vật… Sự hiện diện của ngôi đền đã phần nào hội đủ những nét tương đồng như thế. Kiến trúc của ngôi đền, những vật liệu cổ truyền, cách bài trí hiện vật, cảnh quan không gian…đã hàm chứa tại di tích này, tạo nên một di tích mang tính truyền thống.
Mặc dù đình đã được tôn tạo lại tại vùng đất này, cho nên chính quyền và nhân dân nơi đây đã dựng lên một ngôi đền với lối kiến trúc như hiện nay vào những năm gần đây. Trong đền còn lưu giữ được một số hiện vật và đồ thờ tự có giá trị như các đạo sắc phong, bát hương gốm thổ hà, hệ thống bia đá có niên đại thời Nguyễn, trên các di vật, hiện vật được trang trí, chạm khắc hoa văn, tinh xảo.
Nguồn: Google
Cập nhật: 06/10/2026