Đền Khánh Xuân
1.Cấp xếp hạng di tích: Đền Khánh Xuân xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 82 QĐ/UB ngày 19/01/2004 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) nay là UBND thành…
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 09/10/2026
1.Cấp xếp hạng di tích: Đền Khánh Xuân xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 82 QĐ/UB ngày 19/01/2004 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) nay là UBND thành…
Nguồn: Google
Cập nhật: 09/10/2026
1.Cấp xếp hạng di tích: Đền Khánh Xuân xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 82 QĐ/UB ngày 19/01/2004 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) nay là UBND thành phố Hà Nội.
2.Giới thiệu tổng quan về di tích
Căn cứ vào các tư liệu Hán Nôm lưu trữ tại đền Khánh Xuân và truyền thuyết lưu truyền trong dân thôn thì đền Khánh Xuân thờ thành hoàng làng là Tam vị Tản Viên Sơn Thánh.
Hiện nay, đến Khánh Xuân là một ngôi nhà ngang hình chữ nhất - kiến trúc này đặc trưng riêng cho trường phái kiến trúc cổ xưa của vùng xứ Đoài.
Nghi môn đền Khánh Xuân được xây dựng theo kiểu nghi môn trụ biểu. Lối đi chính là hai trụ biểu lớn có tiết diện vuông (47 x 47cm), đỉnh trụ đắp tứ phượng châu cách điệu hoa dành, tiếp đến là mặt sập hổ phù có 4 đầu rồng vươn ra bốn hướng uy nghi. Phía dưới là ô lồng đèn. Chân trụ được làm to tạo dáng thắt cổ bồng. Ở về hai phía của lối đi chính là 2 lối đi phụ được làm theo kiểu cổng pháo nhỏ. Nối liền giữa hai trụ biểu lớn với cổng pháo và hai trụ biểu nhỏ là hệ thống tường hoa xây kiểu đơn giản nối với hệ thống tường hoa tương tự bao quanh đất đai khu di tích. Trụ biểu nhỏ được làm đơn giản hơn trụ biểu lớn một chút. Trên đỉnh trụ có đắp đôi nghê đứng chầu với tư cách kiểm soát tâm linh khách hành hương trước khi vào đền lễ thánh.
Từ đường vào qua một khoảng sân rộng 930cm, dài 1390cm là tới Đại đền. Hai bên sân là hai dãy Tả hữu mạc. Nền Đại đền có quy mô dài 19m47, rộng 8m95. Nền Đại đền cao được xây bằng gạch, chính diện được chia thành 5 bậc tạo lối lên xuống. Bốn mái đền rộng xo xuống thấp lợp ngói ri. Bờ nóc, bờ dải trước đây là hàng gạch hoa chanh hoa thị thanh tú, nay được thay bằng bờ đinh. Tàu đao làm gỗ chạm uốn cong duyên dáng, góc tàu đao trang trí hình rồng cuộn sinh động.
Vào bên trong, Đại đền đền Khánh Xuân được chia làm 3 gian 2 dĩ nhỏ, tương ứng với các gian là bốn bộ vì đỡ mái được làm theo ba kiểu thức khác nhau chút ít trên mặt bằng 6 hàng chân cột gỗ. Hai hàng cột cái có chu vi 123cm, hai hàng cột quân có chu vi 78cm. Chân các cột có kê chân tảng tròn. Hai bộ vì gian giữa Đại đền được làm theo hai kiểu khác nhau chút ít. bộ vì bên phải được làm kiểu: thượng giá chiêng chồng rường con nhị, hạ kẻ chuyền, tiền bẩy, hậu cốn mê. Nối hai đầu cột cái là một câu đầu lớn, khỏẻ có lưng và dạ phẳng. Đứng trên câu đầu là hai trụ trốn, đầu hai trụ trốn đỡ một rường bụng lợn, lưng rường đội thượng lương qua đấu hình thuyền.. Bộ vì bên trái được làm kiểu: thượng giá chiêng chồng rường, hạ kẻ chuyền, tiền bẩy. hậu cốn mê. Nối hai đầu cột cái là một câu đầu lớn, khỏẻ có lưng và dạ phẳng. Nằm trên câu đầu là một rường thẳng, trên rường này là hai trụ trốn, đầu hai trụ trốn đỡ một rường bụng lợn, lưng rường đội thượng lương qua đấu hình thuyền. Lối kiến trúc này có phong cách nghệ thuật đặc trưng vào khoảng thế kỷ XVIII.
Hai bộ vì gian dĩ là 4 con rường được đặt chồng lên nhau qua một hệ thông đấu kê tạo sự thông thoáng cho 2 phía hồi của đền. Nối 2 đầu cột là các kẻ xó, 4 kẻ ăn mộng từ đầu cột cái qua một cột trốn, cột trốn này năm trên xà đùi vươn ra phía ngoài tạo ra 4 góc đao duyên dáng. Song song với kẻ xó là các kẻ chuyền được ăn mộng từ đầu cột cái đến cột quân, từ đầu cột quân ăn mộng ra cột quân tiền biến thể thành bẩy hiên để đỡ tàu mái. Toàn bộ hoành của đến được ăn ngoàm vào hệ thống ván dong, hệ thống này được đặt khít lên các kẻ chuyền tạo sự nhẹ nhõm, hệ thống rường nách và kẻ chuyền ở đây chủ yếu được soi gờ chạy chỉ. Những mảng chạm khắc tinh xảo ở đây chủ yếu tập trung trên các bức cốn và bảy hiên. Đề tài ở đây chủ yếu là rồng, phượng. long mã, đây là những con linh vật biểu hiện sự khao khát của người dân mong cho mưa thuận gió hòa cho dân khang vật thịnh. Chính vì lẽ đó mà người thợ đã gửi gắm tất cả tình cảm và niềm tin được thể hiện trong từng đường nét. Đây là những bức cốn có niên đại khoảng đầu thế kỷ XIX.
Hệ thống trong nội tự của đền cũng được chia rất cân xứng, chính gian giữa này là nơi trang nghiêm, nơi mà người dân hàng ngày đến đây thắp hương lễ thánh. Thượng cung được làm từ cột cái hậu ăn ra cột quân hậu. Ở phía trước thượng cung được trang trí để tài rồng chầu mặt nguyệt. hai bên là cột lửng (phải chăng xưa kia ở vị trí này có đôi nghê chầu trước cửa cung cấm - đôi nghê này mang ý nghĩa kiểm soát tâm linh khách hành hương). Mặt trước thượng cung được tạo ra 3 cửa nhỏ, phía trong có đặt 3 cổ long ngai bài vị. Như đã nói ở trên, nền nhà hai gian bên và gian dĩ được làm cao hơn nền gian giữa, đây cũng là vị trí để nhân dân trong làng ngồi hội họp. Dáng dấp ngôi đền Khánh Xuân vẫn theo một lối kiến trúc thế kỷ XVII-XVIII.
Đền Khánh Xuân được ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần tín ngưỡng của một cộng đồng của làng Khánh Xuân. Đền Khánh Xuân thờ thành hoàng làng là Đức thánh Tản Viên Sơn - đệ nhất phúc thần của người Nam xưa. Sự tích về Đức Thánh Tản, thì trước đây. Hầu như người Việt nào cũng biết, truyền thuyết về các Ngài được chép vào sách cổ (Toàn thư, phần Ngoại kỷ). Có thể coi Ngài là anh hùng văn hóa, có tài "khuấy động trời đất", mà một biểu hiện qua bản "anh hùng ca" (Truyện Sơn Tinh - Thuy Tinh) là sức lao động chống lụt của nhân dân buổi đương thời. Đức thánh Tản Viên Sơn hồi nhỏ đầy cơ cực, hiếu nghĩa, thương người, được thần hỗ trợ để có sức mạnh cứu nước cứu dân. Theo dòng trôi chảy của tư duy dân dã, Đức thánh Tản Viên Sơn hiển thánh, âm phù cho chiến thắng trong các cuộc mở nước và giữ nước. Tản Viên cũng giúp dân tìm ra lửa, dậy dân nhiều nghề rồi trở thành người đứng đầu trong "Bách nghệ tổ sư". Song yếu tố một thần núi thì bao giờ cũng trội hơn cả. Ngài như cái gạch nối để truyền sinh lực của trời cha xuống đất mẹ để làm cho muôn loài sinh sôi. Với sức mạnh linh thiêng ấy, ngài mặc nhiên trở thành Thánh Cả và là Thành hoàng nổi tiếng, có ảnh nhiều đến đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân khắp các nơi từ miền núi đến miền xuôi, từ Bắc vào Nam với nhiều biến tướng khác nhau.
Về kiến trúc đền Khánh Xuân có quy mô và kết cấu kiểu chữ "Nhị". Kiến trúc này phổ biến vào thời Nguyễn. Trong di tích còn lưu giữ được một số di vật quý.
Trong suốt thời gian tồn tại của mình, đền Khánh Xuân đã góp phần đáng kể trong việc bảo tồn những di sản văn hóa truyền thống của dân tộc và di dưỡng lòng nhân ái, tình yêu quê hương đồng loại cho nhân dân địa phương. Trong cuộc sống hiện tại, vai trò tích cực của di tích vẫn được bảo tồn. Đền Khánh Xuân cũng là nơi giới thiệu, phát huy truyền thống lao động sáng tạo của tổ tiên cho các thế hệ mai sau. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, trong kháng chiến chống Pháp đền là nơi dùng làm kho chứa thóc công lương.
Trong kháng chiến chông Mỹ, đền được dùng làm nơi sơ tán của các cơ quan thuộc Bộ Văn hoá thông tin và làm trường học cấp 1. 2 của xã. Trong 2 cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, thôn Khánh Xuân đã tiễn đưa nhiều lượt người con ra mặt trận chiến đấu. Kháng chiến kết thúc, 93 người con đã anh dũng hy sinh nằm lại chiến trường, có 30 thương binh, 33 bệnh binh đã để một phần xương máu của mình ở nơi chiến trường. 6 bà mẹ được đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng và có 5 gia đình có công với nước. Công lao của các đồng chí được Tổ quốc và dân làng ghi nhận. Nhà nước, Chính phủ và Quân đội đã tặng nhiều Huân chương và các loại danh hiệu cao quý khác.
Nguồn: Google
Cập nhật: 09/10/2026