
Đền Mẫu Tảo khê
2.
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 16/10/2026

2.
Nguồn: Google
Cập nhật: 16/10/2026

Thành hoàng làng phụng thờ tại Miếu: Miếu Thượng và Miếu Hạ thờ hai vị tướng quân đời Trần là Vô Thông Thượng Sỹ Đại Tướng Quân đại vương (Vô Công) và Thông Công Thái Tể Tướng Quân đại vương (Thông Công). Hai ngài là anh em sinh đôi, sinh ngày 8 tháng Giêng năm Bính Tý (1236) và cùng hóa ngày 12 tháng 11 năm Giáp Thìn (1274).
Huân công: Các ngài là những bậc thiên thần có công dẹp loạn cát cứ và phò tá vua Trần Thánh Tông đánh đuổi giặc ngoại xâm Nguyên Mông, giữ yên bờ cõi đất nước.
Đền Mẫu: Thờ đức thánh Mẫu Nguyễn Thị Xuân, người đã hạ sinh ra hai vị Thành hoàng.
Dấu ấn cách mạng và địa phương: Thôn Tảo Khê là nơi sinh trưởng của cụ Nguyễn Văn Lộc (1914 - 1979, tên gọi khác là Trương Đỗ Uông), một nhà cách mạng ưu tú từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và được truy tặng Huân chương Sao Vàng. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, cụm di tích đền, miếu này là nơi tập trung quần chúng nhân dân đi cướp chính quyền tại phủ Ứng Thiên (chi tiết xem tại tài liệu lý lịch.pdf).
Căn cứ theo tài liệu bản vẽ kỹ thuật hiện trạng (bản vẽ_2.pdf), cụm di tích được tôn tạo chủ yếu vào thời Nguyễn muộn và phân bố trong không gian riêng biệt sát rìa làng nhìn về hướng Tây:
Miếu Thượng: Thiết kế mặt bằng tổng thể theo kết cấu chữ Nhị ($\mathbf{=}$) gồm tòa Tiền tế (3 gian tường hồi bít đốc hồi, 4 hàng chân cột bê tông giả gỗ) và tòa Hậu cung (3 gian chạy song song, mái lợp ngói truyền thống, chính giữa đắp hình rồng chầu mặt trời).
Miếu Hạ: Kết cấu mặt bằng kiểu chữ Nhị ($\mathbf{=}$) gồm Nghi môn (lối kiến trúc 2 tầng mái đao cong uốn lượn có đắp chữ Hán "Nhị Nhất Nhị"), tòa Tiền tế (3 gian 2 dĩ xây nền cao, vì kèo làm theo kiểu "Giá chiêng kẻ chuyền, bẩy hiên") và tòa Hậu cung (3 gian xây gạch cổ trần không trát, đặt khám thờ và long ngai).
Đền Mẫu: Cấu trúc mặt bằng theo lối chữ Nhất ($\mathbf{-}$) gồm 01 gian chạy dọc, mặt trước trang trí hiên Tây đắp nổi hình cuốn thư, kiếm, bút và đề chữ Hán "Tối linh từ", cửa có đắp tượng hai võ sĩ canh đền là Vũ Đinh và Thiên Ất.
Theo số liệu thống kê hiện vật (tham khảo tập ảnh_2.pdf), di vật tại cụm di tích rất phong phú về chất liệu và mang giá trị nghệ thuật cao từ thời Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn:
Tài liệu cổ: 01 cuốn Thần phả chữ Hán do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn năm Hồng Phúc (1572) cùng hệ thống 40 đạo sắc phong gốc (32 đạo thời Lê và 8 đạo thời Nguyễn). Đạo sắc phong cổ nhất mang niên hiệu Sùng Khang thứ 6 (1586) và đạo sắc phong tại miếu Hạ có niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1783).
Hiện vật tại Miếu Thượng: Hoành phi gỗ đề chữ "Sơn Anh Hải Tú", Y môn gỗ sơn son thếp vàng, 02 bát hương gốm Phù Lãng cổ (Thế kỷ XVIII), mâm bồng gỗ, hòm sắc, long ngai bài vị đầu rồng thời Nguyễn, sắc phong Duy Tân 3 (1909) và sắc phong Khải Định 9 (1924).
Hiện vật tại Miếu Hạ: Hoành phi cổ "Trạch Kỳ Thiên Phối" và "Thánh cung vạn tuế", 02 lư hương đồng cổ (01 lư khắc chữ Hán đúc năm Tân Dậu), bộ đài nước gỗ, giá kiếm, đặc biệt có 02 pho tượng phỗng chầu bằng gỗ mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII và bát hương gốm Phù Lãng (Thế kỷ XVIII) bị sút miệng.
Hiện vật tại Đền Mẫu: Hệ thống câu đối chữ Hán ca ngợi mẫu nữ, bát hương đồng, mâm bồng, đôi chân đèn đồng và bức phù điêu gỗ tạc hình đức thánh Mẫu.
Thời gian tổ chức: Lễ hội truyền thống của làng Tảo Khê phụ trách phụng thờ cụm di tích diễn ra từ ngày 7 đến ngày 9 tháng Giêng âm lịch (chính hội vào mùng 10).
Các ngày tuần tiết: Ngày mùng 8 tháng Giêng (ngày sinh của hai thần), ngày 20 tháng 2 (lễ Khánh hạ), ngày 15 tháng 8 (lễ Phong sắc) và ngày 12 tháng 11 (ngày hóa).
Nghi thức: Sáng mùng 7 tổ chức lễ Mộc dục bao sái bài vị và phong mũ áo mới. Ban tế gồm 16 thành viên (tế chủ mặc choàng đỏ, hia đỏ, các quan viên mặc áo xanh). Lễ hội có nghi thức nghinh rước các kiệu bát cống, kiệu sắc, kiệu Thành hoàng đền Thượng, đền Hạ và kiệu Mẫu do 76 thanh niên tráng kiện song hành di chuyển dọc theo mặt đê. Phần hội tổ chức trò chơi dân gian như bắt vịt dưới nước, đi cầu khỉ, kéo co, đập niêu và hát chèo xướng về đêm.
Theo hồ sơ quy hoạch bản đồ (bản đồ di tích cụm.pdf) và biên bản thống nhất liên ngành năm 2016 (Biên bản khoanh vùng_3.pdf), cụm di tích được phân định địa giới như sau:
Khu vực bảo vệ I (Vùng bất khả xâm phạm - nghiêm cấm xây dựng trái phép):
Miếu Thượng: Diện tích 1.164,0 m² (Bắc giáp đường bê tông; Nam và Đông giáp chùa Tảo Khê; Tây giáp đường bê tông và Đền Mẫu).
Miếu Hạ: Diện tích 1.047,2 m² (Bắc giáp ngõ bê tông và vườn; Nam giáp đường bê tông và đất canh tác; Đông giáp đất canh tác; Tây giáp đường bê tông và đất thổ cư).
Đền Mẫu (Khu đo I): Diện tích 460,6 m² (Bắc giáp đường bê tông và Miếu Thượng; Nam giáp đất canh tác; Đông giáp đường bê tông và vườn; Tây giáp khu vực ao).
Khu vực bảo vệ II (Vùng điều chỉnh xây dựng, tôn tạo cảnh quan): Chỉ áp dụng duy nhất đối với khu vực ao của Đền Mẫu (Khu đo II) với diện tích 1.307,7 m² (Bắc giáp khu đo I; Nam giáp bờ đất thổ canh; Đông giáp vườn đất trống; Tây giáp đất canh tác xã Tảo Dương Văn). Miếu Thượng và Miếu Hạ không khoanh vùng khu vực bảo vệ II do nằm xen kẽ trong khu dân cư hiện hữu ổn định.
Nguồn: Google
Cập nhật: 16/10/2026