Đền Ngọc Giang
Đền Ngọc Giang xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội Đền Ngọc Giang vừa là công trình tín…
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 06/10/2026
Đền Ngọc Giang xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội Đền Ngọc Giang vừa là công trình tín…
Nguồn: Google
Cập nhật: 06/10/2026
Đền Ngọc Giang xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội
Đền Ngọc Giang vừa là công trình tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh, cũng là nơi hoạt động của hội thiện đầu thế kỷ 20 được dựng lên để thờ “tam thánh”. Căn cứ các tiêu chí xếp loại di tích tại điều 28 Luật Di sản văn hóa và điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP này 21 tháng 9 năm 2010 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa, xét theo giá trị nổi bật, đền Ngọc Than có thể xếp vào loại hình di tích kiến trúc - nghệ thuật.
Đền Thượng thờ 5 vị: Văn Xương Đế Quân, Phục Ma Đại Đế (Quan Công), Kim Quyết Tuyển Tiên Đế Quân, Tản Viên Sơn Thánh và Trần Hưng Đạo. Các vị Thánh này đều được khắc tên trên bài vị ở đền Tam Thánh. Tuy nhiên, trong các sắc phong hiện còn lưu giữ tại đền vào năm Duy Tân thứ 7 (1911) và Khải Định 9 (1924) chỉ sắc cho: Văn Xương Đế Quân, Quan Thánh Đế Quân, Tản Viên Sơn Thánh, Hưng Đạo đại vương. Có thể lược sử các vị thần được thờ tại đền Tam Thánh như sau:
1.1.1. Cửu Thiên Khai Hoá Văn Xương Đế Quân (người Trung Quốc, vị thần chủ về văn học và giáo dục).
Văn Xương Đế Quân (Văn Xương Tinh) là vị thần được cả dân gian và Đạo giáo tôn sùng là thần chủ quản công danh phúc lộc của sĩ nhân. Văn Xương là tên vì sao, cũng gọi là sao Văn Khúc (Văn Khúc tinh) hoặc sao Văn (Văn tinh). Người Trung Quốc thời xưa cho rằng đây là tinh tú nắm giữ công danh và văn vận của thế nhân.
Đạo giáo đã sớm có tín ngưỡng Văn Xương, trong Lão Quân Âm Tụng Giới Kinh chép: "Đương giản trạch chủng dân, lục danh Văn Xương cung trung" (Phụ trách tuyển chọn phẩm hạng dân chúng, ghi danh vào cung Văn Xương).
Đến đời nhà Nguyễn (1279-1368) và đời Minh (1368-1644), các đạo sĩ Trung Quốc đã lợi dụng tín ngưỡng dân gian về Văn Xương Đế Quân mà viết ra "Thanh Hà Nội Truyện" và "Tử Đồng Đế Quân Hóa Thư... kể lại những thần tích của Văn Xương Đế Quân. Các sách viết rằng: Văn Xương Đế Quân vốn sinh đầu đời Chu, đã trải 73 kiếp hoá thân, từng là sĩ đại phu, cuối đời Tây Tấn ngài giáng sinh nơi đất Thục, tên là Á, họ là Trương, tự là Bái Phu, được lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế cho chưởng quản Văn Xương phủ và lộc tịch (sổ sách về quan lộc) của nhân gian.
“Đạo Tạng Tập Yếu" thu thập quyển “Văn Xương Đế Quân Bản Truyện” viết vào những năm Sùng Đức (1636-1648) đời nhà Thanh (16441911). Trong đó ghi rằng: "Văn Xương Đế Quân họ là Trương, húy là Thiện Huân, có những thần tích linh dị, phàm nhương tại khử họa đảo vũ cầu tự, hễ có thành tâm tất có ứng nghiệm, có thể trấn phục yêu ma tảo trừ dịch bệnh. Ngài được gọi là Văn Chương Tư Mệnh vì các giới quý tiện văn vũ y bốc sĩ nông công thương hễ có lòng mong cầu công danh đều trông cậy vào ngài. Ngài cư ngụ nơi cung Văn Xương nơi chòm sao Tử Vi, thường giảng cơ viết kinh, hiển mộng báo tin, phân thần ứng hóa, cứu độ nhân sinh."
Trong sách "Tử Đồng Đế Quân Hóa Thư (do Đàm Tiểu viết đầu thế kỷ X) tóm lược 17 kiếp của Văn Xương Đế Quân, nhưng nội dung hết sức hoang đường. Có lẽ sáng tác này của đạo sĩ Đàm Tiểu muốn củng cố và chuyển tín ngưỡng Văn Xương Đế Quân từ một tín ngưỡng dân gian sang tín ngưỡng của Đạo giáo.
1.1.2. Phục Ma Đại Đế (Quan Công hay Quan Vũ, 162-260, tự Vân Trường hay Trường Sinh).
Quan Vũ là võ tướng cuối thời Đông Hán và thời Tam Quốc ở Trung Quốc. Ông là người đã góp công lớn vào việc thành lập nhà Thục Hán, với vị hoàng đế đầu tiên là Lưu Bị. Trong dân gian, Quan Vũ thường được xem là anh em kết nghĩa với Lưu Bị và Trương Phi. Thực tế, các tài liệu lịch sử không ghi chép về việc Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi từng làm lễ kết nghĩa (chỉ ghi rằng họ có quan hệ rất thân thiết, "ân tình như anh em"); chức danh Ngũ hổ tướng cũng chỉ là hư cấu (tuy nhiên đúng là Quan Vũ đã được phong làm Tiền Tướng quân, chức vụ cao nhất trong quân đội Thục Hán).
Quan Vũ được đánh giá là vị tướng có tài năng, võ nghệ dũng mãnh, được người đương thời nhận xét là "sức địch vạn người, hổ thần một thời, có phong độ quốc sĩ có tài và có nghề. Về tính cách, ông tuy có nhược điểm là kiêu ngạo, hay quát mắng người khác và cư xử có những lúc nông nổi - tất cả đều dẫn đến cái chết của ông - nhưng ưu điểm của ông là lòng can đảm, tôn sùng lễ giáo, hào hiệp trượng nghĩa, sự kiên cường và lòng trung thành tuyệt đối, những ưu điểm này được người dân đánh giá rất cao, ngay cả Tào Tháo cũng khâm phục và coi ông là một "nghĩa sĩ thiên hạ". Ông được người đời sau coi là một biểu tượng của những đức tính "Danh lợi không đổi lòng, Giàu sang không dâm loạn, Nghèo hèn không nhụt chí, Oai vũ không khuất phục".
Là một trong những nhân vật lịch sử của Trung Quốc được biết đến nhiều nhất ở khu vực Đông Á, hình tượng Quan Công đã được thần thánh hóa trong các câu chuyện dân gian, bắt đầu từ thời kỳ nhà Tùy, tiểu thuyết hóa trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, được khắc họa trong các dạng hình nghệ thuật như kịch, chèo, tuồng v.v.... Hơn 500 năm sau khi chết, vào năm 782, Quan Vũ được Đường Đức Tông đưa vào Võ miếu, nơi thờ cúng các danh tướng trong lịch sử; sau đó lại được các hoàng đế nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh phong tước, phong đế, được thờ cúng ở nhiều nơi. Vào thế kỷ 17 ông được các hoàng đế nhà Thanh (1636–1912) tôn vinh là Võ thánh, một trong Mười vị thánh trong lịch sử Trung Quốc. Ông cũng là vị võ tướng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc có 1 điện thờ riêng tại Đế vương miếu (được nhà Minh, nhà Thanh xây dựng, trong đó thờ những vị quan văn, võ tướng tài năng và tận trung nhất qua các triều đại), và phần lớn các võ miếu ở các làng xã Trung Quốc đều có tượng thờ ông với hình mẫu là mặt đỏ, râu dài, tay cầm cây thanh long yển nguyệt đao và/hoặc cưỡi ngựa xích thố.
1.1.3. Kim Quyết Tuyển Tiên Đế Quân (Lã Tổ, danh y Trung Quốc).
Lã Tổ Tên thật là Lã Nham, là một vị đạo sĩ nổi tiếng sống vào cuối đời Đường, đầu thời Ngũ Đại, được xếp vào Bát Tiên, hiệu là Thuần Dương Tử, tên tự là Động Tân. Tương truyền, ông sanh vào cuối đời Đường, từng đi thi nhiều lần, nhưng không đậu, trong quán trọ gặp được ẩn sĩ Chung Ly Quyền điểm hóa bằng cách cho một cái gối, bảo kê đầu nằm ngủ. Lã Nham nằm ngủ, mơ thấy mình đậu Trạng Nguyên, làm quan đến tột phẩm, nắm quyền Tể Tướng, rồi về sau bị gian thần gièm pha, bị lôi ra pháp trường chém đầu, sợ quá tỉnh dậy thì ra chủ quán đang nấu nồi cháo kê vàng vẫn chưa chín. Bao nhiêu chuyện xảy ra trong năm mươi năm, chỉ là một giấc mộng trong mấy phút (do truyền thuyết này nên có điển tích văn học “hoàng lương mộng”). Ông Lã tỉnh ngộ, theo Chung Ly Quyền tu tiên. Lã Đồng Tân đề xướng nhiều biện pháp tu Nội Đan quan trọng nên rất được Đạo gia đề cao. Đến đời Nguyên, năm 1269, Nguyên Thế Tổ sắc phong cho Lã Đồng Tân đạo hiệu Thuần Dương Diễn Chánh Cảnh Hóa Chân Quân, rồi Thuần Dương Diễn Chánh Phù Hựu Đế Quân. Do Vương Triết (tức Vương Trùng Dương), sáng tổ Toàn Chân Giáo, tự xưng ông ta đã được chính Lã Động Tân đích thân truyền đạo, xưng tụng họ Lã là Tổ Sư khai đạo, nên từ đó Lã Động Tân thường được gọi bằng danh xưng Lã Tổ, hay Thuần Dương Tổ Sư. Tương truyền, sách Công Quá Cách cũng do Lã Tổ truyền dạy.
Tản Viên Sơn Thánh là người đứng đầu trong “tử bất tử người Việt gồm Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh. Ngài được coi là vị thần đứng đầu trong Bách nghệ tổ sư, dạy dân làm lửa và làm nhiều nghề. Về tiểu sử của Tản Viên Sơn Thánh, có thể xem bản thần tích tại đền Và (Đông Cung).
Trần Hưng Đạo (1226 - 1300), huý danh Trần Quốc Tuấn tước hiệu Hưng Đạo đại vương, là một nhà chính trị, nhà quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời kỳ nhà Trần. Sau khi qua đời, dân gian Việt Nam suy tôn ông thành Đức Thánh Trần, hay còn gọi là Cửu Thiên Vũ Đế. Ông được biết đến trong lịch sử Việt Nam với việc chỉ huy quân đội đánh tan ba cuộc xâm lược của quân Nguyên - Mông năm 1258, 1285 và năm 1287. Phần lớn tài liệu nghiên cứu lịch sử và cả dân gian thời sau thường dùng tên gọi vắn tắt là "Trần Hưng Đạo" thay cho cách gọi đầy đủ là "Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn", vốn bao gồm tước hiệu được sắc phong cho ông. Ông được tôn vinh là 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.
Trần Hưng Đạo là con của tôn thất An Sinh Vương Trần Liễu và là cháu nội của Trần Thái Tổ, Trần Hưng Đạo có mối quan hệ mật thiết với hoàng tộc họ Trần và vua Trần Nhân Tông gọi ông bằng bác. Năm 1257, ông được vua Trần Thái Tông phong làm đại tướng chỉ huy các lực lượng ở biên giới đánh quân Mông Cổ xâm lược. Sau đó, ông lui về thái ấp ở Vạn Kiếp. Đến tháng 10 âm lịch năm 1283, nhà Nguyên (sau khi Mông Cổ thống nhất Trung Hoa) đe dọa đánh Đại Việt lần hai, Hưng Đạo vương được Thượng hoàng Trần Thánh Tông, và vua Trần Nhân Tông (lần lượt là em họ và cháu họ ông) phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội cả nước. Trên cương vị này, năm 1285, ông lãnh đạo quân sĩ chặn đứng đội quân xâm lược do hoàng tử thứ chín Thoát Hoan. Sau những thất bại ban đầu, quân dân Việt dưới sự lãnh đạo của hai vua Trần, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và Hưng Đạo vương phản công mạnh mẽ, phá tan quân Nguyên trong các trận Hàm Tử, Chương Dương, Trường Yên, Vạn Kiếp,... đánh đuổi hoàn toàn quân Nguyên khỏi biên giới.
Năm 1288, quân Nguyên trở lại xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Khi tiếp tục được phong Quốc công tiết chế; Hưng Đạo vương khẳng định với vua Trần Nhân Tông: "Năm nay đánh giặc nhàn". Ông đã áp dụng thành công chiến thuật của Ngô Quyền, đánh bại hoàn toàn thủy quân nhà Nguyên do các tướng Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi chỉ huy trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, buộc quân Nguyên lại phải rút về nước. Tháng 4 âm lịch năm 1289, Trần Nhân Tông chính thức gia phong ông làm "Đại vương" dù chức quyền đứng đầu triều đình khi đó vẫn thuộc về Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải.
Sau đó, ông lui về Vạn Kiếp đến khi mất năm 1300. Trước lúc qua đời, ông khuyên Trần Anh Tông: "Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc". Ngoài ra, ông còn để lại các tác phẩm kinh điển như Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư đặt nền móng cho nghệ thuật quân sự Việt Nam kể từ thời Trần đến ngày nay.
Năm 1984 trong Hội nghị các nhà quân sự thế giới, đã tôn vinh Trần Hưng Đạo là 1 trong 10 vị đại nguyên soái trong lịch sử nhân loại; là người duy nhất được nhân dân Việt Nam tôn là Thánh ngay khi còn sống.
Theo các tài liệu còn bảo lưu được tại đền như “Vân Hương thánh mẫu Ngọc Tích” và truyền khẩu của người dân đại phương, đền Hạ là nơi thờ mẫu Liễu Hạnh, một trong “tứ bất tử” trong tín ngưỡng dân gian của người Việt.
Theo truyền thuyết thì Mẫu Liễu Hạnh quê làng An Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định nơi có Phủ thờ bà lớn nhất nước, hàng năm có hội Phủ Dầy, hội được tổ chức vào ngày 7 tháng Giêng, nhân dân mọi miền tổ quốc đều về Phủ Dầy trảy hội và chiêm bái. Đồi Ngang, xã Phú Long, huyện Nho Quan nơi bà giúp vua Lê Hiển Tôn đánh giặc chiến thắng, nơi bà Hiển thánh nhân dân đã lập phủ thờ bà. Từ đó nhân dân mọi miền tổ quốc đã coi bà là mẹ của thiên hạ, phong tặng cho bà là Mẫu Đệ nhất và lập phủ để thờ bà. Cả nước ta hiện nay có 3 phủ lớn thờ bà đó là phủ Dầy (Nam Định), phủ Đồi Ngang (Ninh Bình) và phủ Tây Hồ ở Hà Nội.
Căn cứ vào “Vân Hương Thánh Mẫu Ngọc Tích” được lưu giữ ở Đền và các tài liệu khác, đền thì Đền Phú Trinh thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là con vua Ngọc Hoàng, đệ nhị Quỳnh Hoa công chúa, bà ba lần giáng sinh phàm trần:
Lần thứ nhất là giáng vào nhà họ Phạm (tên là Phạm Thị Tiên Nga) ở Quảng Nạp, vi nhuế, ý Yên, Nam Định.
Lần thứ hai bà giáng vào nhà Họ Lê (cải từ Họ Trần), tên là Lê Thị Thắng hiệu Giáng Tiên, ở An Thái, Vụ Bản, Nam Định. Bà kết duyên cùng Trần Đào Lang, đến năm 21 tuổi thì về trời.
Lần thứ ba giáng hiệu tại Nga Sơn, Thanh Hoá, được hơn 1 năm thì mãn hạn hồi tiên.
Sau đó bà hiển linh giúp dân, giúp nước nên được các triều đại phong kiến sắc phong là: “Mã Hoàng Công Chúa, Thượng đẳng Tối linh Tôn thần”, Thượng Thượng đẳng tối linh vi bách Thần chi thủ (triều vua Lê Thần Tôn), Hộ Quốc Bình Nhung Chế Thắng Bảo Hoà Diệu Đại Vương (triều vua Lê Hiền Tôn).
Đền Ngọc Giang được xây dựng từ năm 1902, hoàn thành năm 1906, khi đó đền mới xây được công trình phía trước để làm nơi hoạt động của hội thiện, (những người yêu nước do Nguyễn Quý Các đứng đầu). Khi mới khởi dựng đền được gọi là đền Tam Thánh hay đền Thượng để thờ 5 vị Thánh, là công trình kiến trúc tín ngưỡng thờ những nhân vật lịch sử, nhân vật huyền thoại, hoặc người có công với nước, với dân. Trong đền còn một bia đá được tạo vào năm Duy Tân thứ nhất (1906) ghi chép về quá trình xây dựng đền và những danh nhân hoạt động trong hội thiện.
Đến năm Bảo Đại thứ 3 (1928) đền được tiếp tục được xây dựng công trình ở phía sau để thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh, tạo thành mặt bằng hình chữ Nhị. Hiện trên câu đầu ở gian giữa còn khắc dòng niên đại bằng chữ Hán: "Hoàng triều Bảo Đại Mậu Thìn tam niên mạnh đông vọng hậu kiên trụ đại cát" (vào mùa đông năm Bảo Đại thứ 3 tức năm Mậu Thìn - 1928 dựng thượng lương).
Thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đền là nơi hoạt động của hội thiện. Năm 1994 dựng nhà tổ được, trên thượng lương còn khắc dòng chữ Hán : "Việt Nam tuế thứ Giáp Tuất niên thập nguyệt nhị thập tứ nhật lương thời kiên trụ thượng lương đại cát" (1994).
Thời gian gần đây đền được tu sửa nhỏ, năm 2006, 2024 chỉ tu sửa nhỏ như: lát lại nền bằng gạch, thay hệ dàn đỡ mái như hoành, rui và mái ngói.
- Không gian cảnh quan:
Đền Ngọc Giang nay thuộc xóm Cống, nằm ở giữa làng, quay hướng Tây, trên mảnh đất rộng khá rộng rãi, thoáng đãng, Bên phải đền là con ngòi Ngọc Than, là một con ngòi chảy từ núi Sài Sơn xuống chảy về sông Tích, con ngòi không bao giờ cạn. Phía sau đền là ngã ba đường Ngọc Than và khu miếu thờ của xóm. Bao bọc xung quanh đền Ngọc Giang là khu dân cư đông đúc.
- Mặt bằng tổng thể:
Đền Ngọc Giang là một tổng thể khép kín, cổng đền quay hướng Tây, hướng ra đường ngõ. Đền gồm hai công trình là đền Thượng (thờ 5 vị Thánh) và đền Hạ (thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh) nằm song song, cách nhau một khoảng sân lát bằng gạch Bát. Bên phải đền Hạ là nhà Tổ (nơi thờ Nguyễn Quý Các và những người trong hội thiện).
Cổng đền Ngọc Than quay hướng Tây, được xây bằng gạch trát vữa, gồm hai tầng, tầng trên đắp xi măng vữa, dán ngói giả. Phần tường hồi - khoảng cách giữa hai tầng mái phía trước đắp nổi dòng chữ Hán “Ngọc Đàn môn”. Hai bên cổng là bức tường bao bằng gạch trát vữa để ngăn cách với đường xóm, bảo vệ không gian nơi thờ tự, đắp nổi hình chữ Thọ.
Đền Thượng có kiến trúc khá đặc biệt, từ hàng cột cái phía trước được tạo kiểu 5 gian, những từ hàng cột cái phía sau chỉ tạo 3 gian làm Hậu cung. Kiến trúc kiểu chồng diêm, bít đốc tay ngai. Đền Thượng có mặt bằng hình chữ Nhất, chia thành các không gian nội thất, từ hàng cột cái phía trước mở cửa, kết hợp với tường bao bằng gạch, từ hàng cột cái phía sau ngăn chia nội thất tạo thành Hậu cung để đặt khám thờ, ngai thờ bài vị 5 vị thánh. Gian giữa đặt ban thờ công đồng, bộ chấp kích. Trên tường gian giữa đặt hoành phi “Tham thiên tán hóa” và câu đối.
Nền Tiền tế cao hơn nền sân 60cm, với bậc tam cấp, lát bằng gạch Bát Tràng, mạch chữ Công. Kết cấu bộ khung gồm 4 hàng cột, nhưng hàng cột cái được thay thế bằng tường bao bằng gạch trát vữa. Cột hiên bằng đá có tiết diện vuông. Quá giang gác lên tường bao nhằm mở rộng lòng công trình. Vì nóc được làm kiểu chồng rường, với ba con rường chồng lên nhau qua đấu kê, trong đó hai con rường phía trên là rường suốt, còn rường phía dưới là kiểu rường cụt. Vì nách hai bên hồi ở phía trước làm kiểu cốn mê, còn các vì nách gian giữa và gian bên làm kiểu kẻ suốt, đây là các vì nách còn bảo lưu được nhiều hình tượng điêu khắc trang trí nhất của công trình. Các vì nách phía sau làm kiểu vì kèo, các cấu kiện có tiết diện hình chữ nhật, bào soi vở măng. Đỡ mái hiên sử dụng kiểu bẩy chéo. Khoảng cách chồng diêm giữa tầng 1 và tầng 2 được xây tường gạch, trên đó đắp nổi dòng chữ “Tam Thánh từ”.
Điêu khắc trang trí tập trung chủ yếu ở các vì nách phía trước, với các đề tài tứ linh, tứ quý kết hợp với các lá lật bằng kỹ thuật chạm nổi, chạm nét mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Nét đặc sắc là toàn bộ các điêu khắc trang trí được phô diễn trên các cấu kiện ở hiên. Kẻ suốt ở gian giữa ăn mộng từ đầu cột quân, đuôi kẻ đỡ dạ xà nách, thân kẻ ăn mộng vào xà dọc, cột trốn liên kết với cột đá. Trên thân kẻ gắn ván dong, khoét ổ đỡ hoành mái. Vì nách kiểu cốn mê sử dụng một xà nách dài, có tiết diện hình chữ nhật, một đầu liên kết vào thân cột quân, đầu kia sử dụng lực tì đè lên cật bẩy và sử dụng các chốt để liên kết với thân cột hiên. Cạnh trên của cốn mê khoét ổ đỡ hoành mái. Trên thân cốn mê ở gian bên trái chạm khắc hình tứ linh, trung tâm của mảng chạm là hình rồng, đầu rồng được chạm bong kênh, xung quanh là hình phượng, lân, rùa. Dưới xà nách chạm hình cây mai, kết hợp với hình lá lật. Mặt sau của bức cốn mê này chạm khắc hình tứ quý, cùng các con vật như hươu, nai, chim chóc… tạo nên bức tranh sống động, vui nhộn. Trên thân của kẻ suốt ở gian giữa cũng chạm hình tứ linh tương tự như trên các bức cốn mê, nhưng ở đây các con vật được chạm chạy dọc theo thân kẻ. Ngoài ra, trên thân kẻ còn chạm hình tứ quý hóa rồng như: trúc hóa rồng, mai hóa rồng, cúc hóa phượng. Mỗi bức chạm tạo nên nét đẹp riêng, mỗi con mỗi vẻ, không con nào giống con nào, tạo nên giá trị nghệ thuật đặc sắc cho các mảng điêu khắc - trang trí nơi đây.
Bao che hai bên hồi và hậu xây tường bao bằng đá ong để trần không trát vữa. Hệ mái được làm kiểu 2 tầng 4 mái, hệ dàn đỡ mái gồm hoành mái bằng gỗ, rui hình chữ nhật, đỡ hai lớp ngói: ngói lót và ngói lợp bằng ngói di. Các góc đao đắp vữa hình lá, hai đầu bờ nóc đắp hoa văn con triện mang phong cách nghệ thuật đầu thế kỷ 20.
Đền Thánh Mẫu là công trình nằm phía sau đền Tam Thánh, cách một khoảng sân rộng 2m lát bằng gạch Bát mạch chữ Công. Cổng vào đền Thánh Mẫu từ bên hông phải bằng gạch thất, xây kiểu cuốm vòm.
Đền Thánh Mẫu gồm ba gian. Nền cao hơn nền sân 20cm, lát bằng gạch Bát mạch chữ Công. Kết cấu bộ khung gồm 4 hàng (hai hàng cột cái, hai hàng cột quân), các cột có tiết diện hình tròn, được kê trên chân tảng đá xanh cổ bồng. Để tăng cường ổn định kết cấu bộ khung gỗ, người thợ đã sử dụng các xà dọc cột cái, xà dọc cột quân.
Bốn vì nóc của Hậu cung được làm hai kiểu: hai vì nóc gian giữa làm kiểu chồng rường, các con rường chồng lên nhau qua các đấu kê chạm khắc thành hoa văn cánh sen, đầu các con rường chạm khắc các hình lá. Hai bộ vì gian bên làm kiểu vì kèo, các cấu kiện có tiết diện nhỏ, chỉ bào soi vỏ măng đơn giản kiểu giá chiêng - cốn mê.
Hai vì nách gian giữa phía sau làm kiểu cốn mê, phía trên xà nách là tấm ván gỗ, khoét ổ đỡ hoành mái. Trên ván mê chạm khắc hình hoa văn con triện kết hợp với lá lật. Hai vì nách ở gian giữa của Hậu cung được làm khá đặc biệt, chung một kiểu thức là vì vỏ cua, với dáng cong vồng, phía trên khoét ổ đỡ trực tiếp các hoành mái có tiết diện tròn, mọi trọng lượng đều dồn xuống xà nách. Xà nách ăn mộng từ thân cột cái qua thân cột quân trước. Nét đặc sắc nhất ở kiến trúc của đền Thánh Mẫu là các điêu khắc trên vì nách, với các chủ đề hình hổ phù ngậm chữ Thọ, kết hợp với các hình hoa văn con triện, lá lật bằng kỹ thuật chạm nổi, chạm nét, đôi chỗ còn sử dụng kỹ thuật chạm thủng/thông phong mang phong cách nghệ thuật đầu thế kỷ XX.
Bao che hai bên hồi xây tường bao bằng gạch thất, kết hợp với đá ong. Trên hàng cột cái phía trước làm bằng hệ cửa bức bàn, trên các cánh cửa chạm khắc hình thứ quý mang phong cách nghệ thuật đầu thế kỷ 20. Khoảng cách giữa xà thượng và xà hạ cột cái nong các ván gỗ mỏng. Hệ mái làm kiểu 1 tầng 2 mái, lợp ngói di.
Khác với các công trình nhà tổ ở trong ngôi chùa thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma và các vị sư tổ từng trụ trì tại chùa, thì ở đền Ngọc Giang nhà tổ để thờ những người sáng lập ra hội thiện, bao gồm ông Nguyễn Quý Các và các người đồng môn, học trò của Nguyễn Quý Các.
Nhà tổ gồm 5 gian, trong đó ba gian giữa để làm nơi thờ tự, hai bên hồi làm phòng ở cho người trông coi. Gian giữa đặt một hương án, trên đó đặt ngai thờ và các đồ thờ tự. Trên xà dọc cột cái treo bảng y môn được tạo năm Duy Tân Nhâm Tý (1912) và đôi câu đối. Nhà tổ mới được dựng lại, kết cấu bộ khung được làm đơn giản, quá giang gác lên tường bao, các bộ vì được làm kiểu vì kèo, thiên về bào soi vỏ măng. Bao che hai bên hồi và hậu xây tường bao bằng gạch trát vữa. Hệ mái gồm 1 tầng 2 mái, lợp ngói di.
Ngọc Than là một trong những thôn của xã Ngọc Mỹ cũ và xã Kiều Phú hiện nay có số lượng và mật độ di tích tôn giáo tín ngưỡng dày đặc. Ngoài đình, chùa, còn có các đền thờ, nhà thờ họ… Các công trình tôn giáo tín ngưỡng đã được Nhà nước công nhận là những di tích lịch sử có giá trị. Nằm trong vùng đất có chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hoá đó, nhà thờ họ Bùi đã ẩn chứa trong mình những giá trị lịch sử văn hoá tiêu biểu.
Đền Ngọc Giang được xây dựng từ năm 1902, được xây dựng từ thời vua Duy Tân, đến thời vua Bảo Đại bổ sung thêm công trình phía sau (đền Thánh Mẫu) đến nay tình trạng kỹ thuật vẫn tương đối tốt, chỉ hư hỏng ở hai bên hồi, hệ dàn đỡ mái, không ảnh hưởng đến kết cấu chịu lực của công trình.
Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đền Ngọc Giang ở vị trí hẻo lánh, nên trở thành nơi hội họp của hội thiện, do những người yêu nước cùng chí hướng đã lập nên đền thờ. Đền Ngọc Giang góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng của làng xã, một số gia đình có công với cách mạng được trao bảng vàng danh dự.
Đền Ngọc Giang với bố cục mặt bằng chính hình chữ Nhị gồm ba công trình chính là đền Thượng và đền Hạ được dựng lại vào thời Nguyễn, kết hợp với nhà tổ được xây dựng sau này có sự tương đồng về bố cục tổng thể. Điều đó là minh chứng cho thấy sự phát triển của làng Ngọc Than nói chung và đền Ngọc Giang vào đầu thế kỷ 20. Nhà thờ có quy mô lớn, không gian cảnh quan thoáng đãng, bao bọc xung quanh là làng mạc trù phú, đã tạo cho di tích một môi trường không gian kiến trúc hài hòa, uy nghiêm. Các công trình được phân bố hợp lý, nổi trội trên kiến trúc dân dụng làng xã. Từ khi khởi dựng cho đến nay, nhà thờ đã qua nhiều lần tu sửa, nhưng vẫn giữ được nhiều giá trị nguyên gốc.
Điêu khắc trang trí trên cấu kiện kiến trúc ở nhà thờ tập trung chủ yếu ở các cấu kiện ở phía ngoài như các vì nách ở đền Thượng và đền Hạ. Đây là công trình còn bảo lưu được nhiều yếu tố nguyên gốc, đặc biệt là điêu khắc trang trí với các đề tài phong phú mang phong cách nghệ thuật đặc trưng của đầu thế kỷ 20. Các cấu kiện đều được chạm dày đặc ở cả hai mặt, tạo nên bức tranh sống động, phản ánh cuộc sống trù phú của người đương thời. Các mảng chạm khắc trên kiến trúc gỗ đã được thể hiện khá phong phú, đa dạng với nhiều đề tài khác nhau như tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai), hình con rơi biểu tượng của ngũ phúc… Mặc dù các điêu khắc trang trí trên kiến trúc hiện còn mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, nhưng rất phong phú về hình tượng, kỹ thuật chạm khắc, vị trí chạm khắc, tất cả những điều này đã tạo ra vẻ đẹp riêng cho kiến trúc đền thờ
Trong đền thờ còn lưu giữ được khá nhiều các di vật có giá trị như bia đá, sắc phong, hệ thống đại tự, hương án, ngai thờ, bài vị,… Trên các di vật này đều được trang trí, chạm khắc đẹp, có giá trị nghệ thuật thời Nguyễn.
Đền Ngọc Giang được dựng vào đầu thế kỷ XX và đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo. Đến nay các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng tại đây vẫn được thực hiện tốt. Hằng năm tại đền vẫn duy trì 4 tiết: lễ khai xuân (ngày 8 tháng Giêng) Xuân tế (ngày 12/2 âm lịch), thu thế (ngày 18/8 âm lịch) và lễ tất niên (ngày 13 tháng Chạp). Thông qua các hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng tại di tích chính là dịp gắn kết cộng đồng làng xã, lưu giữ và kế thừa truyền thống bản sắc văn hoá làng, góp phần lưu giữ và truyền lại những giá trị văn hoá cho lớp thế hệ trẻ phía sau.
Nguồn: Google
Cập nhật: 06/10/2026