Đền Phú Trinh
Cấp xếp hạng: Đền Phú Trinh xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội Đền Phú Trinh là một công…
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 06/10/2026
Cấp xếp hạng: Đền Phú Trinh xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội Đền Phú Trinh là một công…
Nguồn: Google
Cập nhật: 06/10/2026
Cấp xếp hạng: Đền Phú Trinh xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội
Đền Phú Trinh là một công trình kiến trúc tín ngưỡng, là nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh và các vị Thánh trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Hiện nay, đền Phú trinh là di tích có nhiều giá trị lịch sử văn hóa, là nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng cộng đồng hội thiện của người dân làng Phú Mỹ.
Căn cứ theo các tiêu chí xếp loại di tích tại điều 28 Luật Di sản văn hóa và điều 13 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa, xét theo giá trị nổi bật, đền Phú Trinh có thể xếp vào loại hình di tích Lịch sử văn hóa.
Theo các tài liệu còn bảo lưu được tại đền như “Vân Hương thánh mẫu Ngọc Tích” và truyền khẩu của người dân đại phương, đền Phú Trinh là nơi thờ mẫu Liễu Hạnh, cùng nhiều vị thánh khác có liên quan đến tục thờ Thánh Mẫu.
Theo truyền thuyết thì Mẫu Liễu Hạnh quê làng An Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định nơi có Phủ thờ bà lớn nhất nước, hàng năm có hội Phủ Dầy, hội được tổ chức vào ngày 7 tháng giêng, nhân dân mọi miền tổ quốc đều về Phủ Dầy trảy hội và chiêm bái. Đồi Ngang, xã Phú Long, huyện Nho Quan nơi bà giúp vua Lê Hiển Tôn đánh giặc chiến thắng, nơi bà Hiển thánh nhân dân đã lập phủ thờ bà. Từ đó nhân dân mọi miền tổ quốc đã coi bà là mẹ của thiên hạ, phong tặng cho bà là Mẫu Đệ nhất và lập phủ để thờ bà. Cả nước ta hiện nay có 3 phủ lớn thờ bà đó là phủ Dầy (Nam Định), phủ Đồi Ngang (Ninh Bình) và phủ Tây Hồ ở Hà Nội.
Căn cứ vào “Vân Hương Thánh Mẫu Ngọc Tích” được lưu giữ ở Đền và các tài liệu khác, Đền thì Đền Phú Trinh thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là con vua Ngọc Hoàng, đệ nhị Quỳnh Hoa công chúa, bà ba lần giáng sinh phàm trần:
Lần thứ nhất là giáng vào nhà họ Phạm (tên là Phạm Thị Tiên Nga) ở Quảng Nạp, vi nhuế, ý Yên, Nam Định.
Lần thứ hai bà giáng vào nhà Họ Lê (cải từ Họ Trần), tên là Lê Thị Thắng hiệu Giáng Tiên, ở An Thái, Vụ Bản, Nam Định. Bà kết duyên cùng Trần Đào Lang, đến năm 21 tuổi thì về trời.
Lần thứ ba giáng hiệu tại Nga Sơn, Thanh Hoá, được hơn 1 năm thì mãn hạn hồi tiên.
Sau đó bà hiển linh giúp dân, giúp nước nên được các triều đại phong kiến sắc phong là: “Mã Hoàng Công Chúa, Thượng đẳng Tối linh Tôn thần”, Thượng Thượng đẳng tối linh vi bách Thần chi thủ (triều vua Lê Thần Tôn), Hộ Quốc Bình Nhung Chế Thắng Bảo Hoà Diệu Đại Vương (triều vua Lê Hiền Tôn).
Trong đền hiện nay không chỉ có thờ Thánh Mẫu Đệ nhất mà còn thờ cả Mẫu Đệ nhị, Mẫu Đệ tam. Đây là sự hoá thân của bà nhằm với ước nguyện trên rừng cây cối xanh tốt, dưới đồng bằng thì mưa thuận gió hào, sông nước, bình ổn, không hạn hán, không lụt lội.
Từ những ý niệm đó trên rừng xanh có Thánh mẫu Thượng Ngàn dưới biển có Thánh Mẫu Thuỷ Tinh, hai bà mẹ này có nhiệm vụ cai quản rừng xanh và cai quản sông nước, nhân dân gọi là Tam toà Thánh Mẫu và còn những câu ca truyền miệng và lập thành những giá hầu để phục vụ Thánh Quan.
Trong đền còn phối thờ Ngũ vị Tôn ông (ngũ vị tôn quan), Thánh cô, Thánh cậu. Cụ thể, đền thờ Đức Đại Vương, Ông Hoàng Bảy, Hoàng Mười, Bà Chúa Thượng Ngàn, Ngũ Vị Tôn Ông, Tứ phủ Chầu Bà,… Ban thờ mỗi vị được sắp xếp theo từng án gian riêng hợp lý. Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị nữ thần gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ có chức năng sáng tạo, bảo trợ cho sự sống của con người, là những người khi sống thì tài giỏi, khi mất hiển linh phù trợ cho người an vật thịnh.
Trong giai đoạn thế kỷ 19-20, đền Phú Trinh là nơi hoạt động của hội thiện mang tính chất khuyến thiện, tuyên truyền tư tưởng ái quốc, phục dựng đạo lý luân thường đang bị đảo lộn, gắn chặt tinh thần đoàn kết dân tộc. Hội thiện được ra đời phục vụ sinh hoạt tâm linh nơi Thiện đàn. Hội thiện gồm nhiều thành phần xã hội tham gia, bao gồm: thân hào, nông dân, nho sĩ, tri thức, một hình thái xã hội không dễ gì có được dưới chế độ thực dân, phong kiến, đã góp phần xây dựng bản sắc văn hóa của nhân dân thôn Phú Mỹ. Những thành viên của hội thiện là những thanh niên nam giới trong làng, không có phụ nữ đã cùng nhau đóng góp tiền của để tu bổ đền và trích quỹ để giúp đỡ những thành viên trong hội hoặc những người dân trong làng khi gặp khó khăn. Sau khi qua đời, những thành viên của hội thiện được đưa bát hương về gửi tại đền để người đời đèn hương tưởng nhớ đến công lao của họ. Hiện nay trong đền có hơn 200 bát hương thờ những người trong hội thiện.
Quy định đóng góp của hội thiện như sau:
+ Ban đầu cho đến những năm 1960, tất cả thành viên hội thiện, con nhang hàng năm mỗi người đóng góp 5 nắp lúa nếp, cúng chay.
+ Tiền ủng hộ hội của những nhà hảo tâm.
+ Tiền lễ thu được qua các buổi cúng tế.
Hoạt động của hội thiện “Phú Trinh thiện đàn” phát triển mạnh mẽ ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, những năm gần đây do thiếu sự quan tâm, hướng dẫn của các cấp chính quyền nên hoạt động thưa dần, không có hội viên mới. Vị trí hoạt động của hội thiện hiện nay đang bị xuống cấp, nhưng không có kinh phí để tu bổ, tôn tạo. Việc thắp hương cúng tế đều giao cho cụ từ cùng một số người trong thôn tự sắp xếp, tự cúng tế nên tính hướng thiện của “Phú Trinh thiện đàn” cũng có phần giảm dần. Tính linh thiêng, hấp dẫn mọi người của một hình thái tín ngưỡng cổ truyển dần dần bị lãng quên
Theo các nguồn tư liệu hiện còn tại đền Phú Trinh cho biết, ngôi đền đã tồn tại ít nhất từ đầu triều Nguyễn, ban đầu được làm bằng tranh tre, lợp rạ, ảnh thờ Thánh Mẫu bằng giấy, tại địa điểm là đất nhà cụ Đỗ Văn Luân trưởng họ Đỗ ở xóm Cốc. Sau đó, đền được di chuyển về Vườn Láo, là vị trí hiện nay. Đất do các hội viên hội thiện đứng ra mua và cung tiến, rộng 14,5 thước ( 6 thước đất, 7,5 thước ao) cách đền cũ 300 mét. Ban đầu đền vẫn làm là tranh tre, nứa lá. Nhận thấy đây là địa điểm đẹp, hợp xây dựng nơi tâm linh, nên những người hội thiện đã huy động sự ủng hộ của các nhà hảo tâm cung tiến ruộng đất, tiền bạc và năm 1938 đền được xây dựng như hiện nay.
Năm 1946, đền được sửa chữa và khắc bia ghi lại. Trên tấm bia đá năm 1946 có ghi: “...Người trong đàn thành tâm hướng thiện thờ cúng Thánh Mẫu kinh ba. Đã nhiều năm nay đàn chỉ có tên mà chưa có nơi thờ cúng, sinh hoạt. Đến năm Mậu Dần (1938) mọi người trong đàn cùng dốc lòng, đồng tâm hiệp lực,. hiến đất cung kính xây dựng tòa nhà của đàn có 3 gian ở xóm Xuân Cốc trong xã. Tượng của Thánh Mẫu được đặt yên vị, uy nghi trong đàn nhìn ra phía trước là dòng nước xanh ngọc để tẩy rửa đi những bụi trần gian. Theo đó cư dân xây dựng nhà cửa để mà sinh sống. Phía bên trái có miếu cổ là nơi để cho những người trong đàn bái vọng, phía bên phải của đàn có cái chuông to khi nó đánh lên mọi người nghe như tiếng sấm vang vọng khắp trong khu… cảnh đẹp ấy cũng là chỗ để cho mọi người cùng nhau tiếp nối làm những điều tốt đẹp”. Hiện nay Đền còn lưu giữ tài liệu 10 người gửi hậu tại Đền. Đứng đầu là Hội trưởng Đỗ văn Lu, hiệu Phúc Tu và Hội trưởng Nguyễn Doãn Rộng, hiệu Phúc Hoành.
Trong ký ức của người dân, từ năm 1946 đến nay đền Phú Trinh đã được tu sửa nhiều lần. Năm 1951-1952, đền Phú Trinh tiếp tục được tu sửa, dấu vết hiện còn được ghi trên thượng lương ở nhà Vong: “Thái tuế Tân Mão niên” (1951); Trên thượng lương ở Hậu cung có viết dòng niên đại bằng chữ Hán “Thái tuế Nhâm Thìn niên xuân thiên tam nguyệt vọng nhật lương thời đồng phổ trùng tu đại cát đại vượng” (vào ngày tốt, tháng 3 năm Nhâm Thìn 1952 tu sửa đền). Năm 2010 sửa mái đền, lợp tôn che mưa chống dột, làm sân đền…
Trong những năm gần đây, các công trình kiến trúc trong đền chỉ tiến hành tu sửa nhỏ, thay thế các ngói bị hỏng gây dột, sơn lại tường… không làm ảnh hưởng đến kết cấu chính của ngôi đền.
Theo các nguồn tư liệu, đền Phú Trinh có không gian cảnh quan thoáng đãng. Ban đầu ở vị trí đất nhà cụ Đỗ Văn Luân xóm Cốc, sau đó đã được chuyển ra vị trí hiện nay. Bởi xét thấy vị trí có phong thủy tốt là địa điểm phù hợp, nơi đây là đỉnh gò cao nhất của xóm Cốc, bên trái có miếu thờ Tiên Nga Thánh Mẫu, phụ mẫu Thành hoàng làng là Đinh Đại Vương, bên phải có chùa Cốc thờ Phật. Phía trước đền có dòng nước trong xanh của sông Ngọc (con ngòi) chảy quanh năm theo hướng Bắc Nam. Hiện nay do sự biến đổi, sự tác động của quá trình đô thị hóa đã làm cho khuôn viên của ngôi đền bị thu hẹp. Khuôn viên của đền hiện nay đã bị thu hẹp, phần cổng đền chỉ còn một lối nhỏ dẫn vào trong đền, hai bên đã xây nhà cao tầng, làm lấn áp không gian cảnh quan của đền. Mặc dù vậy, các công trình kiến trúc hiện còn của ngôi đền được phân bổ cấu trúc hợp lý nên đền vẫn đáp ứng đầy đủ các gian thờ tự. Trước đây phía trước đền là ao cá rộng 7 thước, nhưng sau đó ao đã bị lấp dần, hiện chỉ còn 1/2 là con ngòi nhỏ. Đền quay theo hướng Đông, ở khu vực giữa làng. Mặt bằng tổng thể của ngôi đền hiện nay gồm 2 tòa Tiền tế và Hậu cung, có mặt bằng hình chữ Đinh. Bên phải Tiền tế là nhà vong, là nơi để hơn 200 bát hương của hội thiện.
Cổng đền được xây trụ nhỏ, thân trụ đắp câu đối, bên trên là mái đắp giả ngói Tây. Trên cổng đắp nổi ba chữ Hán “Thiện Đàn hội”. Cổng đển hiện nay đã bị thu hẹp hơn rất nhiều so với trước đây, tuy không có giá trị về mặt lịch sử hay kiến trúc nghệ thuật nhưng đây là một thành phần cần thiết trong cấu trúc tổng thể ngôi đền.
Tiền tế kiến trúc 3 gian kiểu tường hồi bít đốc. Đây là không gian chính diễn ra các thực hành tế lễ của người dân. Nền Tiền tế lát gạch đỏ, kích thước 0,3 x 0,3m mạch chữ Công. Bộ khung kết cấu Tiền tế được làm đơn giản, gồm 3 hàng cột với 2 vì kèo gỗ kiểu quá giang trụ trốn. Các vì nóc, vì nách được làm thống nhất kiểu vì kèo. Các cấu kiện được làm mảnh, có tiết diện hình chữ nhật. Toàn bộ tải trọng dồn vào quá giang gác lên tường bao. Bao che ở phía trước Tiền tế để trống, hai bên hồi và hậu xây tường bao. Tường hậu phía sau mở hai cửa nhỏ để làm lối dẫn vào Hậu cung. Mái làm kiểu 1 tầng 2 mái, lợp ngói di. Dàn đỡ mái gồm hoành mái và rui.
Hậu cung đền Phú Trinh gồm 2 gian, nối với Tiền tế tạo thành gian chuôi vồ. Hậu cung có kích thước nhỏ hơn Tiền tế, kiểu tường hồi bít đốc, kết cấu được làm bằng gỗ. Đây là không gian thờ tự thâm nghiêm nhất của đền, ngăn cách giữa không gian bên trong và bên ngoài bằng cửa ra vào. Bộ khung được làm bằng vật liệu gỗ, thiên về kỹ thuật bền chắc, gồm 4 hàng cột, bộ vì có kiểu thức dạng vì kèo sơn son đỏ đơn giản. Các vì nóc, vì nách được làm thống nhất kiểu vì kèo. Các cấu kiện được làm mảnh, có tiết diện hình chữ nhật. Mái Hậu cung kiểu 1 tầng 2 mái, lợp ngói di, cao độ mái của Hậu cung cao hơn so với mái Đại bái. Tường hậu cung xây gạch, trát vữa, xây giật cấp ở hai hồi.
Nhà hội thiện đặt ở bên phải Tiền tế, đây là nơi thờ những người đã mất của hội thiện. Kết cấu kiến trúc gồm 2 gian, chữ Nhất. Nền cao hơn nền sân 20cm, lát gạch đỏ, mạch chữ Công. Kết cấu bộ khung được làm bằng gỗ đơn giản, kiểu vì kèo cọc báng, quá giang gác lên tường bao. Các cấu kiện có tiết diện hình chữ nhật, bào soi vỏ măng. Bao che hai bên hồi và hậu xây tường bao bằng gạch, trát vữa. Hệ mái gồm 1 tầng 2 mái lợp ngói di.
Tiền tế với công năng làm nơi hành lễ, nên có không gian rộng thoáng, nội thất không bài trí nhiều đồ thờ tự. Bài trí đồ thờ tập trung chủ yếu ở Hậu cung. Nội thất bên trong Hậu cung chia thành các lớp đặt tượng thờ,
- Lớp tượng trên cùng thờ tượng Mẫu Liễu Hạnh ngồi trên ngai thờ, mặc áo trắng, hai bên là hai người hầu cận Tiên đồng- Ngọc nữ.
- Lớp tượng thứ hai đặt tượng Tam tòa Thánh Mẫu;
- Lớp tượng thứ ba đặt bộ tượng ngũ vị tôn ông;
Tại hồi bên phải Hậu cung đặt tượng Sơn Trang, hồi bên trái đặt tượng Đức Thánh Trần.
Đền Phú Trinh là nơi thờ mẫu Liễu Hạnh cùng các vị thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt; đây cũng là nơi thờ phụng người trong hội thiện có công với làng, không chỉ bảo lưu giá trị văn hóa, còn là nơi giáo dục truyền thống, là nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người dân trong làng. Ngôi đền gắn liền với sự phát triển của làng Phú Mỹ. Điều này cũng cho thấy sự phát triển của kinh tế hàng hóa giai đoạn này đã tác động rất lớn đến việc xây dựng, trùng tu các công trình tôn giáo tín ngưỡng trong làng xã. Từ khi khởi dựng cho đến nay, các công trình kiến trúc trong đền đã được tu sửa nhiều lần, nhưng vẫn bảo lưu được nhiều giá trị lịch sử văn hoá.
“Phú Trinh thiện đàn” ra đời vào đầu thế kỷ 20 cho đến nay là có cơ sở thuyết phục. Mặc dù việc thờ phụng, cúng tế ban đầu còn sơ sài, nhưng là nơi hội tụ, đáp ứng được nguyện vọng tự do tín ngưỡng của mọi tầng lớp xã hội bấy giờ. Phú Trinh thiện đàn ra đời là yêu cầu tất yếu khách quan của một giai đoạn lịch sử. Những con người Phú Mỹ với tinh thần hướng thiện, mặc dù kinh tế còn rất khó khăn những đã để lại cho chúng ta một kho tư liệu quý giá về tín ngưỡng thuần Việt, đó là tín ngưỡng Thờ Mẫu Việt Nam.
Hoạt động của “Phú Trinh thiện đàn” là hoàn toàn tự nguyên, đủ các thành phần của xã hội phong kiến, thông qua hội thiện. Một loại hình thái tổ chức xã hội không dễ có ở chế độ phong kiến. Mọi người không phân biệt giàu, nghèo, giai cấp được sinh hoạt chung, giúp đỡ lẫn nhau, mưu cầu hạnh phúc cho bản thân một cách giản dị, tự nhiên. Khi chết được đưa về đây để giải thoát và yên tâm có nơi nượng tựa (đưa lên đền). Hoạt động của Hội thiện thông qua “Phú Trinh thiện đàn” là loại hình tin ngưỡng hướng thiện, giúp người nông dân Phú Mỹ giải thoát được nhiều điều bức xúc của cuộc sống nghèo khó dưới chế độ phong kiến, làm cho con người gần nhau hơn, hiểu nhau hơn và chia sẻ với nhau trong cuộc sống, phần nào phát huy và bảo tồn tính nhân văn trong cuộc sống của dân tộc ta.
Đền Phú Trinh trước đây được phân bố trên diện tích lớn, với các công trình chính như Nghi môn, Tiền tế, Hậu cung, nhà Thiện. Tuy nhiên, hiện nay không gian cảnh quan của đền đã bị thu hẹp do tác động của quá trình đô thị hóa. Tuy lối kiến trúc hiện nay là sản phẩm của những lần tôn tạo vào đầu thế kỷ XXI, song vẫn giữ được rất nhiều dáng dấp và kết cấu kiến trúc cổ xưa, phản ánh một thời kì phát triển của làng Phú Mỹ xưa.
Đền Phú Trinh là kiến trúc tín ngưỡng công cộng của làng Phú Mỹ gắn với các hoạt động hội hè đình đám, lễ hội và là nơi dân làng tập trung, họp hành việc chung. Vì thế đây còn là không gian thực hành, bảo tồn các giá trị văn hóa dân gian của làng thông qua các hoạt động hội lễ, nghi thức tế lễ tại đền.
Đền Phú Trinh đã luôn phát huy giá trị trong việc kết nối các cộng đồng làng xung quanh tham gia vào các lễ hội truyền thống, và các sinh hoạt văn hóa, cộng đồng của làng. Cùng với đời sống kinh tế phát triển, đời sống tín ngưỡng ở làng cũng phong phú, đa dạng hơn. Tín ngưỡng ngày càng có xu hướng gắn với các sự kiện cuộc đời của mỗi cá nhân.
Các hoạt động lễ hội hướng tới đối tượng thiêng liêng cao cả, được người dân nơi đây sùng kính và thờ phụng, hướng tới các chuẩn mực, giá trị và biểu tượng văn hoá. Đến nay, mặc dù các phong tục, sinh hoạt tín ngưỡng đã giản lược hơn, nhưng vẫn tiếp tục duy trì các lễ hội chính, thể hiện sự đoàn kết của cộng đồng dân cư.
Nguồn: Google
Cập nhật: 06/10/2026