
Đền Thái Bình (đền Đức Thánh Cả)
CỤM DI TÍCH ĐỀN ĐỨC THÁNH CẢ, ĐÌNH, ĐỀN, CHÙA THÔN THÁI BÌNH, XÃ HÒA XÁ Cụm di tích đền Đức Thánh Cả, Đức Thánh Trung và Đức Thánh Hạ thôn Thái Bình,…
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 13/10/2026

CỤM DI TÍCH ĐỀN ĐỨC THÁNH CẢ, ĐÌNH, ĐỀN, CHÙA THÔN THÁI BÌNH, XÃ HÒA XÁ Cụm di tích đền Đức Thánh Cả, Đức Thánh Trung và Đức Thánh Hạ thôn Thái Bình,…
Nguồn: Google
Cập nhật: 13/10/2026
Cụm di tích đền Đức Thánh Cả, Đức Thánh Trung và Đức Thánh Hạ thôn Thái Bình, các công trình di tích lịch sử - văn hóa giầu giá trị văn hóa, tâm linh mang trong mình tinh thần dân tộc và đậm chất truyền thống.
Cụm di tích Đình và đền là nơi lưu giữ dấu ấn của các triều đại phong kiến Việt Nam qua hệ thống sắc phong và thần tích, khẳng định bề dày lịch sử hàng nghìn năm của vùng đất Hòa Xá.
Từ trung tâm thành phố Hà Nội đi theo Quốc lộ 6, đến ngã ba Ba La, rẽ trái vào Quốc lộ 21B, đi khoảng 40km, qua xã Vân Đình khoảng 1km là đến thôn Thái Bình. Hoặc từ Kim Bảng, Ninh Bình đi theo quốc lộ 21B khoảng 40km là đến di tích. Cụm di tích đền Đức Thánh Cả, Đức Thánh Trung và Đức Thánh Hạ nằm ở sát đường, phía bên ngoài đê sông Đáy, các di tích này nằm cách nhau khoảng 300 - 500m, tạo nên sự gắn kết trong sinh hoạt tín ngưỡng của người dân nơi đây.
I. Đền Đức Thánh Cả thôn Thái Bình, xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội thờ phụng Đức Thánh Cả Bột Hải Quan thời vua Hùng Huy Vương đánh giặc Ân - là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số138-VH/QĐ Ngày 31/01/1992 của Bộ Văn hóa.
Thôn Thái Bình, xã Hòa Xá là nơi có nhiều công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng. Tương truyền làng thờ Đức Thánh Cả Bột Hải Đại Vương là Thành Hoàng làng và trong nhiều đền thờ đều phối thờ các bộ tướng của Ngài. Đình Thái Bình là nơi sinh hoạt chung, là nơi thờ vọng Đức Thánh Cả.
Quần thể di tích được xây dựng với bố cục hài hòa, kết hợp giữa cây cổ thụ, sông Đáy và các gian thờ tự, tạo nên vẻ uy nghiêm nhưng vẫn gần gũi với làng quê.
Thần phả đền truyền rằng, Đức Thánh Bột Hải Quan sinh giờ Thân ngày 12 tháng 4 năm Bính Ngọ. Ngài là người thông minh học giỏi văn, võ toàn tài. Khi 16 tuổi, cha mẹ mất ngài đã thay cha làm quan, sau ngài được vua Hùng sắc phong làm quan Bố Chính trong triều.
Thời gian sau, vua sắc phong ngài làm Đại tướng, đóng quân ở vùng Châu Hoan tức Thanh Hóa Nghệ Tĩnh ngày nay. Ngài dẫn đinh về xã Đại Đường, thôn Thái Bình thấy địa thế phù hợp, ngài lập 5 đồn binh để rèn luyện quân sĩ, đồng thời còn dạy dân sản xuất, giào làng bảo vệ quê hương giữ gìn thuần phong mỹ tục người, Người dân cảm tạ công đức đã cho 200 tráng đinh tham gia đạo quân của ngài để đánh giặc.
Khi giặc Ân do thần tướng Thạch Linh đem 100 vạn quân sang xâm lược nước ta. Thế giặc lớn, vua triệu ngài Bột Hải Quan về triều bàn mưu phá giặc.
Sắc phong ngài làm Thống Chế thủy Bộ Chư quân cùng đại quân Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân. Đức thánh Bột Hải Quan dẫn nghĩa binh thủy bộ của xã Đại Đường đến sứ Hải Dương thì gặp quân xâm lược. Đại quân của ngài cùng các đạo quân khác giao chiến ác liệt với giặc Ân. Khi đại binh của Phù Đổng Thiên Vương đánh bại giặc Ân, chém thần tướng Thạch Linh, đạo quân của ngài cùng các đạo binh khác cũng tràn lên tiêu diệt quân xâm lược, đuổi giặc ra khỏi bờ cõi. Vua xuống chiếu cho quân hồi chiều mừng chiến thắng.
Đại quân thủy bộ của ngài về đến bãi sông xã Đại Đường, huyện Hoài An, tức thôn Thái Bình, xã Hòa Xá ngày nay thì ngài hóa. Hôm đó là ngày 12 tháng 11 năm Giáp Thìn.
Theo thần phả của đền, khi thuyền ngài đến giữa sông thì có thuyền rồng nổi lên. Ngài bước sang thuyền rồng rồi biến mất.
Vua sai sứ đem sắc chỉ, mũ áo về tế lễ, giao cho quan chức và dân địa phương xây đền Hộ Nhi Hương Chính để thờ phụng. Ngoài ra, đền Đức Thánh Cả còn có 6 đền thờ khác phối thờ các vị thần tướng khác của Ngài là Quý Minh Đại Vương, thượng đẳng thần minh pháp, Tôn Thần chiêu pháp, Tôn Thần Nguyễn Thượng đẳng thần.
Cảm công đưc của Ngàu, trải qua các triều đại: Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn đều có sắc phong và mỹ tự tôn vinh công đức của ngài.
Đền Đức Thánh Cả đã được xếp hạng cấp Quốc gia theo Quyết định số 138-VH/QĐ Ngày 31/01/1992 của Bộ Văn hóa Du lịch .


Đình thôn Thái Bình đã được UBND thành phố Hà Nội xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Thành phố tại Quyết định số 6540/QĐ-UBND ngày 23/12/2024.
Đình thôn Thái Bình có tổng diện tích 963,4 m2 gồm các hạng mục: Nghi môn, đại bái, hậu cung, nhà khách, sân vườn và các di vật, hiện vật thuộc về di tích.
Thành hoàng được thờ tại di tích đình Thái Bình là Bột Hải đại vương được người dân tôn làm Đức Thánh Cả - bởi có nhiều công lao dạy dân làm ăn, đánh đuổi giặc Ân, phù trợ cho đời sống của nhân dân. Trải qua các triều đại, công trạng lớn lao của thần đều được các bậc đế vương suy tôn là “Bột Hải Thượng đẳng thần”, xứng đáng để được lưu truyền, phụng thờ muôn đời
Đình Thái Bình được dựng từ thế kỷ 17, nhưng đã bị xuống cấp, tồn tại đến ngày nay đã qua nhiều lần tu sửa, tôn tạo. Công trình chính của đình hiện nay được dựng lại vào thế kỷ 19. Trên thượng lương của toà Đại bái còn ghi lại dòng niên đại khởi dựng của ngôi đình vào thời vua Tự Đức 17 (1864). Mặc dù đây là dòng niên đại được ghi chép lại, nhưng điều này giúp cho các thế hệ sau biết rõ được lịch sử xây dựng của đình Thái Bình .
Đình được xây dựng để thờ Thành hoàng có công giúp nước, giúp dân làng Thái Bình học hành, canh tác, buôn bán làm ăn. Tồn tại cho đến ngày nay, ngôi đình đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hoá của người dân nơi đây. Hàng năm, đình là nơi tổ chức các kỳ lễ hội với nhiều nghi thức, nghi lễ, trò chơi dân gian được thực hiện. Điều này đã góp phần truyền lại những giá trị văn hoá của cha ông cho các thế hệ trẻ sau này và đồng thời tăng sự gắn kết người dân nơi đây.
Đình Thái Bình có bố cục mặt bằng chính hình chữ Đinh gồm hai công trình chính là Đại bái và Hậu cung.
Đình Thái Bình có quy mô lớn, không gian cảnh quan thoáng đãng, hướng ra sông Đáy, bao bọc xung quanh là làng mạc trù phú, đã tạo cho di tích một môi trường không gian kiến trúc hài hòa, uy nghiêm. Các công trình được phân bố hợp lý, nổi trội trên kiến trúc dân dụng làng xã, đáp ứng với khí hậu nóng, ẩm.
Các mảng chạm trên kiến trúc gỗ đã được thể hiện khá phong phú, đa dạng với nhiều đề tài khác nhau như tứ linh, rồng cuốn thuỷ, rồng chầu, lá hoá rồng, hoa lá, vân mây…trên hầu hết các cấu kiện của bộ khung gỗ như vì nóc, vì nách, ván dong, kẻ, bẩy… Tất cả những điều này đã tạo ra vẻ đẹp riêng cho ngôi đình nơi đây.
Trong đình còn lưu giữ được khá nhiều các di vật có giá trị như: hệ thống đại tự, hương án, ngai thờ… trên các di vật này đều được trang trí, chạm khắc đẹp, có giá trị nghệ thuật để cho các nhà khoa học nghiên cứu.
- Không gian cảnh quan di tích:
Đình nằm trong cụm di tích đình Thái Bình và chùa Diên Khánh (Diên Khánh tự), trong địa thế khá đẹp, thông thoáng, phía trước nằm sát với Quốc lộ 21B, quay hướng Tây thuộc khu vực trong đê, hướng ra sông Đáy. Bên phải của đình là chùa Diên Khánh (hiện nay đang được tôn tạo lại), xung quanh là khu dân cư đông đúc thuộc xóm Chùa và xóm Già. Quanh đình còn có các đền thờ Đức Thánh Cả, đền thờ Đức Thánh Thượng, đền thờ Đức Thánh Tiếu; đền thờ Đức Thánh Trung, đền thờ Đức Thánh Hạ…Với mật độ di tích tôn giáo, tín ngưỡng dày đặc được phân bố trong thôn, đã tạo nên sự liên kết trong không gian sinh hoạt văn hóa phong phú, đa dạng, tăng tình đoàn kết trong cộng đồng.
- Mặt bằng tổng thể:
Mở đầu di tích là cổng/Nghi môn đình được dựng kiểu tứ trụ, phía sau là sân đình lát đá, có diện tích khá rộng để tổ chức lễ hội. Giáp sau cổng đình ở bên phải là đài tưởng niệm liệt sĩ, để tưởng nhớ đến những người thôn Thái Bình có công với Cách mạng. Chính giữa sân là tòa Đại đình - công trình chính có quy mô tương đối lớn. Bên trái Đại bái là nhà khách được làm năm 2019, gồm 4 gian, vật liệu bằng gỗ xoan, bộ khung gỗ làm kiểu trốn hàng chân cột, quá giang gác lên tường bao.
Về bài trí nội thất
Đại bái là không gian văn hoá kiến trúc được bài đồ thờ với mật độ cao nhất. Ở khoảng lòng cột cái sau đến cột quân sau gian giữa đặt một hương án gỗ, trên đó đặt bát hương, bộ ngũ sự. Hai bên hương án đặt chóe bằng sứ và hạc thờ bằng gỗ. Dọc hai bên giữa hàng cột cái đặt bộ chấp kích, phía trên treo bức hoành phi và câu đối ca ngợi công đức của Thành hoàng. Hai gian bên đặt ban thờ, bài trí khá đơn giản thờ các vị tướng, Thổ công của vùng đất.
Hậu cung là nơi thâm nghiêm, bên trong đặt khám thờ, ngai thờ, bài vị, áo, mũ, hia của Thành hoàng. Bên trái, khám thờ đặt tượng ngựa tía. Phía trước khám thờ đặt hương án, bên trên đặt các đồ thờ tự như: bát hương, mâm bồng, bộ ngũ sự bằng đồng, chóe nước, lọ hoa… Trên hai cột cái treo đôi câu đối ca ngợi công đức của Thành hoàng.
Đền thờ Đức Thánh Trung là một trong những công trình thờ Đức Thánh Cả - Bột Hải Đại vương và phối thờ bộ tướng Minh Pháp. Đây là công trình kiến trúc tín ngưỡng, được dựng lên để thờ người có công với làng xã và là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người dân trong xã. Di tích này là một di sản văn hóa có nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử cần được bảo lưu, giữ gìn như một đóng góp có ý nghĩa vào kho tàng văn hóa dân tộc.
Thôn Thái Bình xã Hòa Xá thành phố Hà Nội là nơi có nhiều công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng. Tương truyền, làng thờ Bột Hải Đại vương - Đức Thánh Cả được người dân tôn thờ là Thành hoàng làng và trong các đền thờ ở làng đều phối thờ các bộ tướng của ngài.
Đền thờ Đức Thánh Trung được phối thờ Minh Pháp tôn thần. Trong bài vị và cuốn “Thần sắc, thần hiệu xã Thái Bình, phủ Ứng Hòa, huyện Sơn Lãng, tỉnh Hà Đông” có ghi mỹ tự: “Đương cảnh Thành hoàng Minh Pháp tôn thần”.
- Đền thờ Đức Thánh Hạ thờ Chiêu Pháp uy thông đại vương.
Sự nghiệp của hai vị thần này gắn liền với Đức Thánh Cả, nên mọi sinh hoạt tín ngưỡng của hai đền thờ đều có sự liên kết chặt chẽ với nhau, tạo nên không gian văn hóa đậm chất dân gian của người Việt cổ.
Trải qua các triều đại, công trạng lớn lao của Đức Thánh Cả đều được các bậc đế vương suy tôn là “Thượng đẳng thần”, tướng Minh Pháp được phối thờ ở đền Đức Thánh Trung cũng được gia phong mỹ tự “Đương cảnh Thành hoàng Minh Pháp tôn thần” xứng đáng để được lưu truyền, phụng thờ muôn đời.
- Không gian cảnh quan di tích:
Đền Đức Thánh Trung có diện tích 5.097m2 được xây dựng ở một vùng đất bồi của sông Đáy, mang phù sa tươi tốt của dòng sông tạo nên cây cối ở đây xum xuê xanh tốt. Đền nằm ở khu vực ngoài đê sông Đáy, quay mặt ra sông Đáy, tựa lưng vào đê, phía sau là quốc lộ 21B. Đền có thế đất đẹp, dốc, thoải dần theo triền đê. Đền nằm cách xa khu dân cư, càng làm cho khu di tích thâm nghiêm, huyền bí hơn. Xung quanh sân đền là ao hồ, nhiều cây xanh tạo không gian cảnh quan, bóng mát cho di tích. Đền mới được dựng lại trong những năm gần đây, nên tình trạng kỹ thuật hiện nay khá tốt.
- Mặt bằng tổng thể:
Mặt bằng tổng thể đền Đức Thánh Trung mở đầu là cổng đền được dựng kiểu tứ trụ, quay hướng ra Quốc lộ 21B theo hướng Đông. Cổng đền nằm sát với quốc lộ 21B, tiếp đến là khoảng sân rộng được lát bằng gạch bát. Bên phải cổng đền là nhà khách gồm 4 gian, bên trái là các công trình chính của đền. Công trình chính quay theo hướng Tây, phía trước đền chính là hồ nước, tiếp đến là bức bình phong, nằm cách nhà thờ chính một khoảng sân, với ý nghĩa giúp che chắn, khuất tầm nhìn đồng thời che chắn gió - những luồng khí từ bên ngoài vào trong đền chính. Đền chính với mặt bằng kiểu “tiền Nhất hậu Đinh” gồm Tiền tế, Trung tế và Hậu cung. Toàn bộ các công trình chính dài 22,765m, rộng 12,04m. Tiền tế và Trung tế nằm cách nhau một khoảng sân 3,64m, trên đó đặt các cây xanh để tạo không gian cảnh quan, độ thông thoáng cho ngôi đền.
về sự bài trí nội thất
- Bài trí nội thất ở Tiền tế:
Tiền tế là nơi tổ chức tế lễ, nên việc bài trí nội thất cũng được sắp đặt khá quy củ. Gian chính giữa đặt hương án, bên trên đặt bát hương, bộ đỉnh đồng, bát hương. Phía trước hương án đặt đẳng thờ, hai bên đặt lọ lộc bình và bộ chấp kích đều bằng gỗ. Bên trên treo bức hoành phi“Mậu chung anh tú”. Hai bên cột cái gian giữa treo đôi câu đối ca ngợi công đức của vị thần được thờ. Gian bên trái đặt kiệu bành mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 20, dùng để rước ngai thờ, bài vị Thành hoàng trong ngày lễ hội. Phía trên bên phải treo bức hoành phi “Hách quyết linh”; Bên trái là bức hoành phi “Ư nghiệp phù”. Các bức hoành phi, câu đối đều ca ngợi công đức của vị thần được thờ tại đây.
- Bài trí nội thất ở Trung tế
Gian giữa Trung tế đặt hương án gỗ, chạm khắc các hình tứ linh, tứ quý, bát quả mang phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ 20. Phía trên đặt bát hương, mâm bồng bằng đồng, đèn thờ, lọ hoa. Dọc hai bên hương án đặt hạc thờ, bình hoa bằng gỗ, tiếp là hai đẳng thờ và bộ chấp kích. Chính giữa phần tiếp giáp với Hậu cung treo bức hoành phi “Vạn cổ anh linh”, phía dưới treo hệ cửa võng chạm khắc hình tứ linh. Trên các cột cái và cột quân phía sau Trung tế treo đôi câu đối. Đây đều là những sản phẩm mới được đưa vào thờ tự trong giai đoạn gần đây.
- Bài trí nội thất ở Hậu cung
Trong Hậu cung đặt hương án, khám thờ, bên trong khám đặt ngai thờ, bài vị, đôi hài, mũ thờ…Trên bài vị khắc hình rồng chầu, hoa lá, hoa sen, mây, ở giữa thân bài vị khắc tên vị Thành hoàng được thờ “Đương cảnh Thành hoàng Minh Pháp tôn thần" . Các hiện vật trong Hậu cung đều được sơn son thếp vàng, các chi tiết trang trí chủ yếu là các hình tứ linh mang phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ 20.
B. DI SẢN VĂN HÓA PHO VẬT THỂ - LỄ HỘI THÔN THÁI BÌNH
Bên cạnh đó, tại đình, đền thôn Thái Bình còn lưu giữ các hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng với các lễ hội dân gian mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc.
Lễ hội chính của làng Thái Bình vẫn giữ theo lệ cũ từ xa xưa, diễn ra bắt đầu từ ngày mồng 2 đến mồng 6 tháng Giêng âm lịch. Theo qui định, lễ hội được tổ chức 2 năm một lần vào các năm chẵn. Bởi làng thờ chính là Bột Hải đại vương - Đức Thánh Cả có công lớn với dân làng, nên nghi thức cúng tế diễn ra với quy mô lớn, diễn ra trong nhiều ngày, quy tụ nhiều khách thập phương tham gia.
Lễ hội và hoạt động văn hóa dân gian diễn ra nơi đây, mang trong mình tinh thần dân tộc và đậm chất truyền thống. Cùng với đó là các hoạt động đánh đu, kéo co, vật, múa gậy, rước kiệu, và hát chèo. Đây là cách để duy trì và phát huy những giá trị văn hóa dân gian đã được hình thành từ hàng ngàn năm lịch sử xây dựng và bảo vệ quê hương. Đồng thời, nhân dân thôn Thái Bình, xã Hòa Xá cũng tận dụng những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới để xây dựng và phát triển quê hương ngày càng mạnh mẽ.
Lễ hội thôn Thái Bình là dịp để người dân địa phương và du khách thập phương bày tỏ lòng biết ơn tổ tiên. Các nghi thức rước kiệu, tế lễ và trò chơi dân gian tại đây phản ánh đậm nét bản sắc văn hóa vùng đất Thái Bình.
-Các công việc chuẩn bị và nghi lễ cúng tế:
Theo người dân địa phương cho biết, việc chuẩn bị lễ hội tiến hành từ trước Tết Nguyên đán, do trưởng thôn chủ trì, phân công nhiệm vụ cho các thành viên. Dân làng đã cùng nhau ra đình, đền để dọn dẹp, lau rửa đồ thờ, quét đường làng ngõ xóm. Trước khi mở hội, đội tế nam khoảng 20 người trong độ tuổi từ 60 tuổi trở lên tiến hành làm lễ mộc dục.
- Lễ mộc dục:
Lễ mộc dục được tổ chức 1 năm 4 lần, trong đó trước khi tiến hành lễ hội thì trước tết vào ngày 25 tháng Chạp làm lễ sấp ấn, thay quần áo, mũ mã để mời Đức Thánh Cả đón tết cùng người dân.
- Lễ vật dâng cúng:
Vào các ngày lễ hội, lễ vật dâng cúng Đức Thánh Cả - Bột Hải đại vương không thể thiếu là bánh giầy. Ngoài ra còn có xôi, gà để thành mâm, hương hoa, oản quả, tiền vàng. Sau khi ban tế đã tế xong thì dân làng mới được vào dâng lễ riêng cầu lộc cầu tài cho bản thân và gia đình.
- Văn tế:
Trong các cuộc tế lễ từ ngày 30 đến mồng 01 tháng Giêng, bao gồm đội tế nam là đội tế chính, có bài tế, nhạc, múa sinh tiền và văn tế. Đội nữ cũng có văn tế riêng, dâng hoa, dâng rượu lên Đức Thánh Cả. Văn tế được đặt ở gian chính giữa trước bàn thờ, có người chuyển chúc văn. Khi đọc xong do người đọc hóa tại chỗ.
- Ban tế, lễ tế: thường có khoảng ban tế nam (gồm 30 người) và ban tế nữ (khoảng 40 người). Chủ tế mặc trang phục áo, mũ, hia màu đỏ, các thành viên trang phục màu xanh. Lựa chọn người vào ban tế là những người am hiểu lễ nghi, đạo đức tốt, không vướng tang gia, gia đình hoàn chỉnh.
Sau khi rước kiệu, bài vị các bộ tướng (ở 6 đền trong thôn) về đền Đức Thánh Cả để tiến hành tế lễ trong khoảng một tiếng. Sau đó tiến hành rước kiệu, bài vị về đình để tiến hành tế lễ vào các buổi sáng từ ngày 2-6 tháng Giêng, buổi chiều các ngày diễn ra phần hội. Trong khi tế có ban nhạc tế, có thủ từ và người đón lễ. Sau khi tế xong thì dân làng cùng nhau thụ lộc cỗ mặn tại sân đình, cùng đóng góp theo nhân khẩu.
Các đội tế bao gồm 16 đội tế nam, tế nữ, đội dâng lễ như: Đội rồng; đội cờ; đội trống hội, đội tế nam, đội tế nữ, đội múa sinh tiền, đội nhạc công, đội nhân lực (phụ trách các công việc lo bàn ghế, phông bạt, loa đài, khi đội kiệu đi đến đâu là phải giải chiếu, kê gối), đội giã bánh, đội tu lễ - tiến lễ; đội khánh tiết; đội tiếp tân lo hậu cần; đội trật tự an toàn giao thông; đội múa gậy; đội trống rồng đi theo đội múa rồng; đội Phật tử - đội các già.
- Nghi thức rước thánh:
Sáng ngày mồng 2 tháng Giêng, tiến hành rước linh vị, nhang án, kiệu thờ của các đền trong thôn (đền Đức Thánh Trung, đền Đức Thánh Hạ, đền Đức Thánh Thượng, đền Thánh Tiếu, đền Thánh Phụ, đền Thánh Mẫu) đều tập trung ở đền Đức Thánh Cả để tiến hành làm lễ. Sau đó, mới rước các kiệu từ đền Đức Thánh Cả về đình Thái Bình.
Đình Thái Bình là nơi đón ngai thờ, bài vị, kiệu thờ Đức Thánh Cả và các bộ tướng về đình ngự. Khi rước linh vị Đức Thánh Cả từ đền về đình từ ngày mồng 2 - 6 tháng Giêng thì các ngai thờ, bài vị thờ vọng ở đình phải để sang một bên. Sau ngày mồng 6 mới đặt lại vị trí cũ.
Khi tiến hành rước Đức Thánh Cả được tổ chức quy mô lớn, trải dài hơn 1km, thu hút đông đảo khách thập phương tham gia. Đoàn rước bao gồm 9 đội kiệu khoảng 20 - 30 người, trong đó có: kiệu thứ nhất là đội kiệu bác Hồ; kiệu thứ hai là đội kiệu bát cống (kiệu chính của ngài Đức Thánh Cả); kiệu thứ ba là đội kiệu của cụ Quý Minh thượng đẳng (tham mưu đắc lực cho ngài Bột Hải); kiệu thứ 4 là kiệu cụ Tiếu (cụ Đức Thánh Tiếu, phụ trách về sản xuất nông nghiệp, cứu hỏa, cứu nạn đê điều); kiệu thứ 5 là kiệu của Đức Thánh Phụ và Thánh Mẫu; kiệu thứ 6 là kiệu rước nhang án 1 - rước bát hương của Đức Thánh Cả; kiệu thứ 7 là kiệu của Đức Thánh Trung (Minh Pháp tôn thần, người chuyên về pháp luật hiến pháp, tư pháp); kiệu thứ 8 là của Đức thánh Hạ (Chiêu Pháp uy thông, chủ yếu giữ về quân lực); kiệu thứ 9 là đội bát bửu rước các vũ khí của ngài.
Đến chiều ngày 6 tháng Giêng, các đội tế nam, tế nữ tiến hành tế lễ và tổ chức rước các Thánh hoàn cung về các đền.
2. Phần hội:
Song song với các cuộc tế lễ tại đình, thì buổi chiều các ngày từ 2 - 6 tháng Giêng, ngoài sân đình người dân tổ chức với các trò chơi dân gian diễn ra sôi nổi như: các hoạt động múa gậy, thi vật, đánh đu, kéo co, đánh cờ người, cờ tướng… với không khí chan hòa, cởi mở, phản ánh tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Một số hoạt động tổ chức văn nghệ tổ chức tại sân đình thu hút được đông đảo người dân tham gia.
Các ngày lễ khác và những hoạt động văn hóa trong di tích
Trong Hương ước của làng năm 1923 có ghi chép nhiều cuộc tế lễ được diễn ra theo từng tháng trong một năm. Ngoài lễ hội chính của làng, trong một năm tại các di tích của làng Thái Bình cũng tổ chức nhiều sinh hoạt văn hóa khác. Đến nay một số ngày lễ đã được lược bớt, chỉ còn giữ lại các ngày sau:
- Ngày 15 tháng Giêng là tết Thượng nguyên là kỳ lễ tổng kết xuân hội, chỉ tế lễ yên vị tại đình và các đền. Tương truyền, có những năm Đức Thánh Cả không về ngự tại đình, phải đến rằm tháng Giêng Ngài mới về, nên mới tiến hành tế lễ yên vị vào ngày này.
- Ngày 12 tháng 4 âm lịch là ngày sinh nhật của Đức Thánh Cả, dân làng chỉ tổ chức tại đền Đức Thánh Cả, không làm lễ ở đền khác. Trong ngày này, tại đền đã tiến hành làm lễ mộc dục, lễ vật có rượu, bột tẩy uế.
- Ngày 12 tháng 11 âm lịch là ngày mất của Đức Thánh Cả, được gọi là ngày “cơ thần bái xá” (ngày của nhà Thánh). Dân làng tiến hành làm lễ mộc dục, thay áo ở 6 đền trong thôn, tổ chức làm bánh giầy tại đền Đức Thánh Cả. Ở đình Thái Bình và các đền trong làng chỉ dâng lễ tế Thánh.
Ngoài ra, trong năm còn tiến hành các lễ tiết khác như: ngày Sóc, ngày Vọng hàng tháng, tết Hàn Thực, tết Nguyên tiêu, tết Đoan Ngọ…Ban khánh tiết của làng đều cho mở cửa đình để nhân dân địa phương đến thắp hương Thành hoàng.
Làng Thái Bình, xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội đã hình thành từ thời Hùng Vương xây dựng nước và ngay từ thời điểm đó đã trở thành một địa điểm dân cư phát triển về kinh tế - xã hội. Trong thời kỳ Bắc thuộc, làng Thái Bình có tên là Đại Đường Châu, sau đó, vào thời vua Lê Đại Hành (980 - 1005), nó được đổi thành Thái Đường, và từ năm 1885, lại thay đổi thành Thái Bình.
Cùng với quá trình lịch sử kéo dài hàng ngàn năm trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, người dân xã Vạn Thái đã tạo ra những truyền thống quý báu. Truyền thống tương thân, tương ái và tinh thần lao động cần cù cùng tình yêu nước sâu sắc là những giá trị quan trọng trong cộng đồng nơi đây.
Tinh thần yêu nước là một nét đặc trưng quan trọng trong truyền thống của người dân thôn Thái Bình nói riêng và xã Hòa Xá nói chung.
Cụm di tích Đền Đức Thánh Cả, Đình, Đền, Chùa thôn Thái Bình không chỉ là nơi thờ tự mà còn là "trái tim" sinh hoạt văn hóa, nơi gắn kết tình làng nghĩa xóm và gìn giữ những phong tục tập quán tốt đẹp của người dân thôn Thái Bình xã Hòa Xá, là biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần thượng võ và là kho tàng nghệ thuật kiến trúc dân gian cần được gìn giữ, phát huy..
Mời quý vị và các bạn hãy cùng đến thăm Cụm di tích Đền Đức Thánh Cả, Đình, Đền, Chùa thôn Thái Bình - Chiêm bái vùng đất "Địa linh nhân kiệt" thôn Thái Bình, xã Hòa Xá - nơi dòng chảy lịch sử hội tụ cùng hồn quê Việt để tìm hiểu về cuộc đời oai hùng của vị tướng Đức Thánh Cả Bột Hải Quan và cảm nhận dòng chảy lịch sử thời vua Hùng Huy Vương đánh giặc Ân để được Chiêm ngưỡng những nét chạm khắc gỗ tinh xảo, nơi thời gian như ngưng đọng trên từng mái ngói, cột đình, để tìm thấy sự bình an trong tâm hồn khi thắp nén nhang thơm giữa không gian văn hóa linh thiêng ngàn năm tuổi.. Về với thôn Thái Bình xã Hòa Xá, để hiểu thêm, yêu thêm những giá trị văn hóa bất tận của Thủ đô ngàn năm văn hiến!
Nguồn: Google
Cập nhật: 13/10/2026