Đền thờ Nguyễn Trực
1.Cấp xếp hạng Đền thờ Nguyễn Trực xếp hạng cấp thành phố tại Quyết định số 174 QĐ/UB ngày 05/02/2002 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) nay là UBND thành phố…
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 19/10/2026
1.Cấp xếp hạng Đền thờ Nguyễn Trực xếp hạng cấp thành phố tại Quyết định số 174 QĐ/UB ngày 05/02/2002 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) nay là UBND thành phố…
Nguồn: Google
Cập nhật: 19/10/2026
1.Cấp xếp hạng
Đền thờ Nguyễn Trực xếp hạng cấp thành phố tại Quyết định số 174 QĐ/UB ngày 05/02/2002 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) nay là UBND thành phố Hà Nội
Bên cạnh ngôi đình cổ có đền làng là nơi thờ làng - vị Lưỡng quốc Trạng nguyên.
2. Giá trị di tích
Ngày 16/5 năm Đinh Dậu (1417) trước năm Lê Lợi khởi nghĩa một năm, tại am Long Đậu - núi Phật Tích, xã Thiên Phước, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai (nay là xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai) cất tiếng chào đời một danh nhân văn hóa làm vẻ vang cho đất nước ở thời Lê sơ, đó là Nguyễn Trực - tự Công Dĩnh, Hiền Vũ hiệu.
Ông sinh trong một gia đình có truyền thống văn học. Cha ông là Nguyễn Thời Trung, người làng Bối Khê, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên.
Mẹ ông là Đỗ Thị Chứng, quê ở làng Nghĩa Băng, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai (nay là xã Nghĩa Hương, huyện Quốc Oai).
Lúc mới sinh, dung mạo Nguyễn Trực kỳ vĩ khác thường. Được vào tuổi tứ chất thông manh lạ thường. Mới 12 tuổi đã thích làm thơ và làm thông kinh sử.
Năm Giáp Dần, niên hiệu Thiệu Bình nguyên niên (1435) mới 18 tuổi, ông dự hương thí và đỗ đệ nhị, đệ nhất sinh.
Ngày 12 tháng 5 năm Bảo Đại (1442), ông dự thi khóa Nhâm Tuất và đậu: Trạng nguyên. Nguyễn Trực được phong chức "Quốc Tử Giám Thị thư". Năm ấy ông mới 25 tuổi.
Đỗ Quốc Tử Giám, ông không nhận chức mà về xã Liêm Bàng dạy học tại thôn nhà (Đình Tú).
Ông sinh ra ở quê ngoại. Khi tạ thế mộ phần táng tại xã Nghĩa Hương. Sau khi cải táng đặt tại xã Hoà Thạch. Lúc đó ông mới có 58 tuổi, mất ngày 28 tháng 12.
Ghi nhớ công ơn và tôn vinh một nhà trí thức văn hoá. Từ đó làng ta lập đền thờ trạng, gọi là đền thờ "Lưỡng quốc Trạng nguyên" (Tức là Nguyễn Tung Trực).
Tưởng nhớ ngài hàng năm nhân dân lấy 2 ngày sinh và hoá của ngài làm ngày tế lễ:
Ngày sinh là ngày 16 tháng 5 âm lịch.
Ngày hoá là ngày 28 tháng 12 âm lịch.
Ngày tế lễ theo thời tiết (mùa thu) và mùa màng là ngày:
Mùa xuân: 18/2 âm lịch.
Tế thu: 18/8 âm lịch.
Nguyễn Trực sinh ngày 16 tháng 5 năm Đinh Dậu. Sinh ra tại am Long Đậu núi Phật Tích.
Cụ nội là Nguyễn Tử Kiên, thôn Bối Khê, phủ Thanh Oai.
Ông nội là Nguyễn Bính, bà là Ngô Thị Ân.
Bố là Nguyễn Thời Trung, mẹ: Đỗ Thị Chứng.
Khi lánh nạn nhà Hồ về trú tại làng Nghĩa Băng, Nguyễn Thời Trung đã kết duyên với bà Đỗ Thị Chứng. Hai vợ chồng sinh ra 4 người con: 2 trai, 2 gái. Nguyễn Trực là con trai cả.
Được nuôi và dạy dỗ trong một gia đình có truyền thống học hành khoa cử. Cụ thể là:
Cụ nội Nguyễn Tử Kiên làm quan triều đình.
Nguyễn Bính được vua cho làm là người đứng đầu Quốc Tử Giám.
Nguyễn Thời Trung làm quan huyện Thanh Oai.
Từ lúc nhỏ cho đến khi lớn lên khi đi học trong các kỳ thi ông thường có số điểm cao nhất.
Ông thi đỗ Trạng nguyên năm 1442 do triều đình mở, lúc đó ông 25 tuổi (25).
Năm 1444, ông được nhà vua cử làm Chánh sứ đi sang Trung Quốc, cùng đi với ông có Phó sứ tên là Trịnh Thiết Trường. Ông này cũng học giỏi nhưng chỉ đỗ Bảng nhãn.
Đất nước Trung Quốc lúc bấy giờ thuộc triều đại nhà Minh, vua Minh là Anh Tông.
Vua Anh Tông cho mở 1 khoa thi để thử tài sứ giả các nước. Nguyễn Trực và Trịnh Thiết Trường cùng tham dự khoa thi.
Khi chấm điểm, vua Anh Tông thấy số điểm của 2 sứ thần Việt Nam vượt trội so với sứ thần các nước nên vua phong cho Nguyễn Trực là Lưỡng quốc Trạng nguyên, Trịnh Thiết Trường là Lưỡng quốc Bảng nhãn.
Hết hạn đi sứ, ông trở về nước được nhà vua rất yêu quý, ông được mời vào cung để cùng vua tiếp sứ thần các nước.
Năm 1460, ông lâm bệnh nặng. Ông xin vua về nghỉ dưới chân núi Thầy, Mỹ Thôn, Đại Lại, xã Bạch Thạch để dưỡng bệnh. Sau khi khỏi bệnh, ông xin vua cho nghỉ để về quê dạy học. Học trò của ông có ông Kiều Phú đã thi đỗ Tiến sĩ.
Nguyễn Trực mất ngày 28 tháng 12 năm Quý Tỵ 1473 tại tràng phụ Thượng Tọa phủ Phụng Thiên. Đến ngày 21 tháng Giêng năm sau, thi hài ông được đưa về chôn tại thôn Khê Thượng.
Ngày 20 tháng 3, vua Trần Thánh Tông cho cải táng mộ ông về chôn tại thôn Đại Lại cho đến ngày nay (Thôn Đại Lại, xã Bạch Thạch, phủ Quốc Oai).
Nguồn: Google
Cập nhật: 19/10/2026