HanoiGo

Di tích lịch sử
Chùa Rừng Nhạn Tái (Tĩnh Minh Tự) thôn Đường Nhạn, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội
★ 5,0 · 100 đánh giá
•
Đã đóng
Mở lại 8:00 mai
···
Miễn phí
Miễn phí
CHÙA NHẠN TÁI (TĨNH MINH TỰ)
Thôn Đường Nhạn, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội
Di tích Chùa Nhạn Tái được xếp hạng di tích Quốc gia tại Quyết định số 95/1998/QĐ-Bộ VHTT ngày 24/1/1998.
Chùa có tên chữ là “Tĩnh Minh Tự” – nghĩa là “Chùa Tĩnh Minh”. Gọi theo tên nôm là chùa Nhạn Tái. Đây là tên gọi theo tên của làng Nhạn Tái. Tương truyền trước kia dân làng ở trên mảnh đất hình con chim nhạn, trong thế đang sải cánh bay về hướng Đông, đầu quay trở lại. Do vậy, người xưa lấy thế đất đặt cho tên làng. Ngoài ra chùa còn có tên gọi “Chùa Rừng”. Vị trí nơi chùa tọa lạc trước đây là khu rừng Nguyệt Lâm giáp đê (phía Nam) của sông Nguyệt Đức, nên chùa mới có tên là Chùa Rừng.
Chùa Nhạn Tái hiện nay thuộc thôn Đường Nhạn, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội. Vào thời Nguyễn, Xuân Nộn nguyên là đất các xã Đường Yên, Lương Quy, tổng Cổ Loa và xã Nhạn Tái, Xuân Nộn, tổng Xuân Nộn, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1905 thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. Năm 1946 xã mới được thành lập, lúc đầu gọi là Đào Nguyên (Đào Thục và Nguyên Khê). Đến năm 1946 thành lập xã mới lấy tên là xã Tự Do. Năm 1995 tách ra xã Tự Do làm hai xã: Phúc Thịnh và Tự Do. Năm 1961 Đông Anh nhập về Hà Nội. Năm 1965 xã Tự Do đổi thành xã Xuân Nộn và từ đó tên của địa danh này được giữ nguyên cho tới ngày lập hồ sơ.
Chùa Nhạn Tái được xây dựng trên đất làng Nhạn Tái – một vùng đất cổ có cách ngày nay trên dưới 2000 năm lịch sử. Nơi đây, xưa kia có rừng, có suối, có đồi và đủ loại chim muông cầm thú trú ngụ. Đó là rừng thông làng Bẽ, có con suối từ khe Vạn Khê chảy về (Nguyên Khê), có rừng ổi bạt ngàn ở bãi ông Thiều thường gọi là Đồng Đế, có rừng cỏ gà bên bờ sông Nguyệt Đức kéo dài đến tận đầu cầu Phủ Lỗ bây giờ, có sông Nguyệt Đức uốn lượn quanh co bao quanh phía Bắc và có con đường cái lớn từ ngã ba Lương Quy đến núi Vũ Dương (Núi Sái) đi về Kinh Bắc (Bắc Ninh). Theo truyền thuyết, con đường này có từ thời Âu Lạc do An Dương Vương sai dân đào đắp để hàng năm vua về lễ thần núi Vũ Dương có công giúp An Dương Vương diệt yêu Kê xây dựng được Loa Thành.
Xuân Nộn là vùng đất cổ có truyền thống yêu nước. Theo thư tịch của làng quê này thì từ đời Hùng Duệ Vương (thế kỷ thứ VI trước công nguyên) ở trang Lương Quy có ba ông Thống, Duy, Giang cùng 49 trai đinh, theo ông Gióng đánh giặc. Năm 40 – 43 (thế kỷ I sau công nguyên) ở Đường Yên có bà Lê Thị Hoa cùng Hai Bà Trưng đứng lên đuổi giặc Hán. Năm 1860 – 1884 ở Nhạn Tái có cụ Đại Tấu, cụ Chánh Tiên nổi dậy đánh Pháp. Năm 1884 – 1910 có phong trào Cần Vương, nhân dân Nhạn Tái có 36 người theo nghĩa quân, nổi tiếng dũng cảm là Đốc Biều, một dũng tướng của nghĩa quân cụ Đề Thám. Phía Bắc của làng Nhạn Tái là khu rừng Nguyệt Lâm chạy dọc bờ phía Nam của sông Nguyệt Đức. Vào thời nhà Lý, đây là phòng tuyến thứ hai chống quân xâm lược nhà Tống. Bãi Đồng Đế, bãi già thuộc làng Nhạn, thời nhà Trần là nơi diễn ra cuộc tập kích tiêu diệt một đạo quân Nguyên.
Truyền thống lịch sử vẻ vang của làng Nhạn Tái có sự gắn bó chặt chẽ với sự phát triển thăng trầm của ngôi chùa. Cuốn sách “Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ nhân dân xã Xuân Nộn thời kỳ 1945 – 1990” do Ban Chấp hành Đảng bộ xã Xuân Nộn biên soạn, cùng các tài liệu và lời kể của các cụ cao tuổi trong làng cho biết: trước đây chùa Rừng là nơi trú ngụ và chữa chạy các vết thương cho các nghĩa quân. Các nhà sư trong chùa đều là người tu hành đắc đạo và có nhiều công lao trong việc giúp dân bảo vệ và xây dựng miền quê này, như hai nhà sư Thuần Hóa và Đại Hùng. Cụ Đại Hùng đã cho dựng quán, bắc cầu bằng đá qua các ngòi, lạch để dân đi lại, hội họp. Do có công lao to lớn nên cụ được nhà vua phong tặng: “Đại Hùng, đại lực, đại từ bi”, được ghi trên bức hoành phi mạ vàng treo ở nhà Tổ của chùa, nhưng khi chùa bị phá thì hoành phi cũng bị thất lạc.
Tháng 2/1941, ATK (An toàn khu trung ương Đảng) thành lập ở làng Chài (Võng La), Ngọc Giang (Vĩnh Ngọc) và phát triển mạnh trên khắp các tổng xã trong đó có Xuân Nộn. Ở Nhạn Tái, đầu năm 1944 có đồng chí Trần Văn Thiện và Hai Chụp là cán bộ Việt Minh về gây cơ sở. Cuối năm 1944, đồng chí Trường Chinh về nói rõ mục đích của cách mạng Việt Minh và âm mưu phá lúa trồng đay của phát xít Nhật. Từ đó các đội thanh niên cứu quốc được thành lập và hoạt động tích cực.
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, chùa Rừng và khu vực trước chùa là địa điểm rộng rãi, thuận lợi cho việc hội họp, luyện tập. Năm 1946 – 1947, đại đội của đồng chí Khiêm đóng quân tại chùa và tiến đánh bốt Gia Thượng và bốt Cầu Đuống. Cũng trong thời gian này, tường chùa được quét vôi trắng để kẻ khẩu hiệu “Trường kỳ kháng chiến nhất định thành công, toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến”. Khu vực chùa Rừng còn dùng lập trại tiếp cư trên 40 gian lán trại cho ngót 1000 hộ về đây tản cư. Năm 1947, quân đội ta chiến thắng địch ở Cao Bằng, huyện Đông Anh tổ chức đại hội mừng công; buổi tối tại chùa đã tổ chức diễn kịch, vui văn nghệ.
Khi địch trở lại chiếm đóng, chúng cho phá chùa. Lúc bấy giờ sư cụ trụ trì chùa là cụ Thanh Thảo và Thanh Phúc vẫn tiếp tục ủng hộ cách mạng, che chở và nuôi giấu cán bộ hoạt động nằm vùng. Các cụ giúp đỡ đơn vị C476 về trinh sát để chuẩn bị đánh địch ở bốt Nhạn Tái. Chính vì vậy, sau ngày hòa bình lập lại, sư cụ Thanh Thảo đã được huyện biểu dương và đưa vào Ban Chấp hành Hội Phật giáo huyện, ghi nhận chùa Nhạn Tái là cơ sở có nhiều công lao giúp cuộc cách mạng nhanh tới thành công.
Cũng như nhiều ngôi chùa cổ của làng xã Việt Nam, sự ra đời của ngôi chùa Nhạn Tái là để phục vụ tín ngưỡng về Phật giáo của người dân lao động. Chùa Nhạn Tái là loại hình tôn giáo tín ngưỡng cổ thờ Phật. Dựa vào các giá trị của di tích còn bảo lưu được hiện nay, chùa Nhạn Tái thuộc loại hình di tích có giá trị lịch sử - nghệ thuật.
Chùa Nhạn Tái được xây dựng ở thời điểm nào hiện nay chưa tìm thấy tài liệu chữ viết hay văn bia ghi nhận. Theo các thư tịch của địa phương, chùa có từ thời nhà Lý (thế kỷ XI). Hầu hết các tài liệu nói về di tích đã bị thất lạc trong thời gian kháng chiến. Dù vậy, chùa Nhạn Tái còn bảo vệ được 13 ngôi tháp mộ cao ba đến bốn tầng. Theo các cụ cao tuổi trong làng kể lại, mỗi ngôi tháp mộ đặt tới bốn đến sáu hài cốt.
Sách “Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ nhân dân xã Xuân Nộn thời kỳ 1945 – 1990” có viết: “Ngôi chùa ở xóm Đường (dưới Đường) thường gọi là chùa Rừng... được xây dựng từ đời Lý, đến đời Lê (hậu Lê) chùa được tu bổ mở rộng phát triển quy mô kể tới trăm gian trên một khu đất rộng đến bảy, tám mẫu”. Chùa có đầy đủ tượng Phật, phần nhiều sơn son thếp vàng. Cứ liệu quan trọng hiện nay còn dựa vào các pho tượng Phật của chùa. Căn cứ vào hoa văn trang trí, kiểu dáng và kích thước, pho tượng Phật Niêm Hoa mang phong cách nghệ thuật khoảng thế kỷ XVII; tượng Văn Thù, Phổ Hiền, bộ tượng A Di Đà, bộ Tam Thế thường trụ diệu pháp thân đều có phong cách nghệ thuật khoảng thế kỷ XVIII. Từ đó có thể khẳng định ngôi chùa đã tồn tại trước thế kỷ XVII – thời nhà Lê.
Chùa Nhạn Tái trước đây là ngôi chùa có quy mô kiến trúc, cảnh quan bề thế, đẹp đẽ. Theo các cụ cao tuổi trong làng kể lại, chùa gồm có tiền đường, thượng điện, tam quan, gác chuông, nhà Tổ, hai dãy nhà ngang, sân gạch lớn và vườn tháp mộ, tất cả tạo thành một khuôn viên khép kín. Bên ngoài phía trước là rặng cây quéo cổ thụ; xung quanh chùa là khu rừng Nguyệt Lâm, phía Bắc là dòng sông Nguyệt Đức. Phía sau chùa là một khoảng đất rộng được dùng làm đài hỏa táng cho các vị sư trụ trì có công tu hành đắc đạo.
Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, do chùa là cơ sở cách mạng, địch đã cho đốt chùa. Đến năm 1993 nhân dân địa phương mới xây dựng lại ngôi chùa. Chùa Nhạn Tái tọa lạc ngay trên khu đất cũ của chùa. Các công trình kiến trúc gồm khu chùa chính cấu trúc hình chuôi vồ, quay theo hướng Nam, vườn tháp mộ ở phía bên trái của chùa, nhà khách và nhà bếp. Tòa tiền đường xây dựng trên nền cao 0,30m so với mặt sân, mái lợp ngói ri. Giữa bờ nóc đắp bức đại tự đề ba chữ Hán “Tĩnh Minh tự” – có nghĩa là “Chùa Tĩnh Minh”. Cửa ra vào được làm cửa bức bàn ở ba gian giữa; hai gian bên xây tường bao trổ cửa sổ.
Trải qua thời gian, ngôi chùa cổ không còn. Nhân dân dựng 5 gian chùa thờ cúng, do làm bằng vật liệu không bền chắc nên đã bị xuống cấp nặng; nhà Tổ, nhà Mẫu xây kế bên cũng bị xuống cấp. Năm 2013, nhân dân và sư trụ trì đã trùng tu chùa trên nền ngôi chùa cổ với kết cấu mặt bằng tiền chữ nhất, hậu chữ đinh. Nhà Tổ và nhà Mẫu được dựng về phía bên đông của chùa.
Cách bố trí, sắp đặt tượng và các đồ thờ trong chùa giống như nhiều ngôi chùa trên đất Việt. Nơi cao nhất của Phật điện tam bảo là bộ tượng Tam Thế, còn gọi là Tam Thế Thường trụ diệu pháp thân, đại diện cho ba thời: quá khứ, hiện tại và tương lai. Các pho tượng mang nhiều dấu ấn nghệ thuật thế kỷ XVII, XVIII và XIX. Trong đó, pho tượng Phật Niêm Hoa được tạo tác công phu; tượng Di Lặc được tạo tác khá chuẩn và đẹp. Theo chỉnh lý của hồ sơ, các bộ tượng trong chùa đã bị mất vào những năm trước đây; hiện còn bảo lưu được 4 pho tượng Tổ, 1 pho tượng Mẫu, pho Thánh Tăng, 4 pho Tứ Thiên Vương và 1 pho tượng Thổ địa cổ.
Chùa Nhạn Tái mới được khôi phục lại năm 1993, kiến trúc đơn giản, nhưng các di vật quý còn lại trong di tích giữ vai trò quan trọng, xứng đáng được bảo tồn. Hồ sơ ghi nhận hệ thống các pho tượng Phật, tượng Tổ, Mẫu gồm 27 pho tượng gỗ, sơn son thếp vàng; một chuông đồng; bát hương gỗ chạm hình bông sen nhiều cánh; 10 bát hương sứ trang trí rồng chầu mặt trời; một đôi cây đèn; hai đôi lộc bình sứ vẽ lam xanh; hai mâm bằng gỗ; giá đựng đài rượu chạm nổi hình rồng, hoa lá và vườn tháp mộ gồm 13 tháp cao từ ba đến bốn tầng.
Chùa Nhạn Tái có lịch sử xây dựng từ rất lâu đời. Nguồn thư tịch cho rằng chùa có từ thời nhà Lý; các cứ liệu hiện có trong chùa khẳng định sự tồn tại của ngôi chùa ít nhất từ thời nhà Lê. Trong khoảng thời gian dài tồn tại, di tích vẫn bảo lưu những giá trị về lịch sử và nghệ thuật. Chùa tọa lạc trên một vùng đất cổ, từng ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa Nhạn Tái đã đóng góp đáng kể cho cách mạng: là cơ sở cất giấu tài liệu, che chở cán bộ hoạt động, khu tập kết các đơn vị bộ đội và nơi tổ chức các hoạt động phục vụ kháng chiến.
Về giá trị nghệ thuật, trải qua những biến đổi, thăng trầm của lịch sử và chiến tranh, kiến trúc cổ của chùa không còn nguyên vẹn, nhưng các di vật còn bảo lưu cho thấy giá trị đích thực của ngôi chùa. Nhiều pho tượng mang dấu ấn nghệ thuật cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII; các bộ Tam Thế, A Di Đà, Tứ vị Thiên Vương là những tác phẩm được tạo tác công phu, chau chuốt. Đáng chú ý là pho tượng Di Lặc có giá trị nghệ thuật cao. Bên cạnh đó, chùa còn bảo lưu 13 ngôi tháp mộ cao ba đến bốn tầng trong một khu vườn tháp riêng biệt, cho thấy phần nào sự bề thế của ngôi chùa cổ trước đây và dấu ấn của các bậc thiền sư từng tu hành tại đây.
Ngoài những giá trị kể trên, di tích chùa Nhạn Tái còn bảo lưu một số hiện vật khác như bia đá gắn trên tháp mộ, bát hương, trong đó có một bát hương bằng gỗ chạm hình bông sen và bát hương bằng sành với các đề tài trang trí truyền thống. Toàn bộ các di vật còn lưu giữ đã góp phần khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật của Chùa Nhạn Tái – Tĩnh Minh Tự, một di tích Quốc gia trên địa bàn thôn Đường Nhạn, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội.
Mẹo từ An: Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Biết trước khi đi
Vé & miễn giảm
Miễn phí
Khả năng tiếp cận
Thuận tiện di chuyển bằng taxi hoặc xe buýt.
Cổng chính
Thôn Đường Nhạn
Du khách nói gì
5,0
★★★★★
100 đánh giá Google
HanoiGo
Cổng du lịch chính thức của Hà Nội — điểm đến, ẩm thực, sự kiện và lưu trú trong một nơi.
Khám phá
Điểm đến
Ẩm thực
Sự kiện
Lưu trú
Hỗ trợ
Trò chuyện với An
Hotline: 0904910585
Cơ quan
UBND thành phố Hà Nội
Điều khoản sử dụng
© 2026 HanoiGo · UBND thành phố Hà Nội