
Di tích Quốc gia đền Thắng Trí
DI TÍCH QUỐC GIA ĐỀN THẮNG TRÍ – XÃ KIM ANH I.
i
Nguồn: Google
Cập nhật: 07/10/2026

DI TÍCH QUỐC GIA ĐỀN THẮNG TRÍ – XÃ KIM ANH I.
Nguồn: Google
Cập nhật: 07/10/2026
Ngôi đền được gọi là đền Thắng Trí theo tên gọi của thôn cũ (nay thuộc thôn Liên Thắng, xã Kim Anh, thành phố Hà Nội). Địa phương có nhiều lần thay đổi tên gọi:
Cổ xưa Thắng Trí là làng Thanh Hoa, sau cải sang Thanh Uyên và xưa hơn nữa là Kẻ Ổi hay Bổi, vùng đất đã có cư dân cư trú từ buổi đầu dựng nước. Thời phong kiến địa phương có nhiều lần thay đổi tên gọi và địa vực hành chính. Thời Lý, Trần và Lê sơ thuộc đạo lộ Thái Nguyên, cuối Lê là trấn Thái Nguyên. Thời Tự Đức chuyển sang trấn Sơn Tây, sau đó lại về trấn Thái Nguyên. Đầu TK 20 thuộc tỉnh Thái Nguyên. Thời Khải Định, Thắng Trí thuộc tỉnh Phúc Yên (Hay An), huyện Kim Anh. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Thắng Trí là xã thuộc tổng Thanh Trì, huyện Kim Anh, tỉnh Phúc Yên. Năm 1950, Phúc Yên sát nhập với Vĩnh Yên thành tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1968, Vĩnh Phúc sát nhập với Đa Phúc thành huyện mới với tên gọi là Sóc Sơn (thuộc Vĩnh Phú). Năm 1978, Sóc Sơn thuộc về Hà Nội. Tháng 7/2025, thôn Thắng Trí thuộc xã Kim Anh, thành phố Hà Nội. Tháng 6/2026, sáp nhập 02 thôn Thắng Trí, Thắng Hữu, đổi tên thành thôn Liên Thắng.
Đền nằm giữa thôn Liên Thắng, phí đông giáp hồ Cầu Dọc, phía Tây giáp thôn Lập Trí, phía Nam giáp Mỹ Ninh, phía Bắc giáp thôn Thanh Trí, Phú Hạ.
Thắng Trí cách đường Quốc lộ II hơn 2 km đoạn cây số 12 tính từ Phù Lỗ, khá gần với Phúc Yên và Xuân Hòa.
Từ Hà Nội, đi theo Quốc lộ I qua cầu Chương Dương hay Long Biên, qua cầu Đuống sang Quốc lộ III đến Phù Lỗ sẽ đi Quốc lộ II. Đi cầu Thăng Long đến Quốc lộ III ở thị trấn Đông Anh rồi đi theo hành trình trên. Nếu đi qua cầu Thăng Long rồi đi tiếp theo Quốc lộ 23 qua thị trấn Phúc Yên rồi đi Quốc lộ 2 đến thôn Trung (thuộc xã Thanh Xuân) rẽ theo đường đất qua thôn Cổ Bái, qua đập tràn Cầu Dọc qua thôn Mỹ Ninh là đền Thắng Trí. Đường đến đền Thắng Trí rộng rãi, tiện lợi cho các phương tiện giao thông bộ.
Đền Thắng Trí từ khi xây dựng đến nay vẫn thờ Cao Sơn – Quý Minh, hai vị tướng của thời Hùng Vương. Căn cứ vào thần tích của làng soạn năm Hồng Phúc thứ ba và sao lại năm Vĩnh Hựu thứ 6 có thể lược ghi công tích của hai vị thành hoàng làng như sau:
Thời Hùng Vương có hai ông bà là Sùng Công Hoàng và Lê Thị Tục làm nghề thuốc, chữa bệnh cho nhân dân giữ đức, tu nhân, làm điều thiện giúp người. Ông bà thường đi đến các nơi chữa bệnh. Đến trang Thanh Hoa, Kẻ Ổi vào trú gió mưa ở ngôi miếu thờ thổ thần, thường gọi là Ninh Ninh Sơn thần, được báo mộng có hiền nhân đầu thai. Từ đó bà có mang, đến kỳ sinh hạ được một bọc hai người con trai vào ngày 14 tháng Giêng. Hai anh em sinh đôi được đặt tên là Cao Sơn và Quý Minh, được ông bà chăm chút và cho đi học. Năm 15 tuổi hai anh em đã có sức khỏe, tài trí hơn người. Khi hai anh em 18 tuổi thì cha mẹ đều qua đời, hai anh em chôn cất, trở đến đoạn tang. Bấy giờ Hùng Duệ Vương kén người hiền tài giúp nước, nghe tin có hai người tài bèn mời về triều. Nhà vua thấy anh em văn võ song toàn, lấy làm ưng ý liền phong cho chức Tả, Hữu Tướng quân.
Lúc đó Duệ Vương tuổi cao, sức yếu, lại không có con trai nối dõi, xảy ra cuộc chiến tranh với nhà Thục Phán. Tả, Hữu tướng quân Cao Sơn, Quý Minh được cử giữ thành đô và sau đó lại cầm quân ra trận. Hai vị đem quân đóng tại vùng Thanh Hoa, trấn giữ mặt bắc cho Thành đô. Hai anh em cho dựng Thanh Hoa thành một khu đồn trú, làm lễ cầu khấn các thần linh trợ giúp, tuyển mộ thêm quân. Ra trận được âm phù nên hai ông đã thắng lớn ở chân núi Sóc Sơn, địch đại bại phải rút chạy. Thắng trận trở về hai ông khao thưởng quân sĩ, mở tiệc mừng công và cải tên làng sang thành Thắng Trí làm kỷ niệm. Hai người cho tu sửa đền miếu của vị thần đã âm phù.
Về triều, hai anh em được nhà vua phong thưởng chức tước và cho về đóng đồn tại Thắng Trí. Hai người xin và được nhà vua cho phép lấy Thắng Trí làm phần thưởng thờ cúng về sau. Khi anh em trở về Thắng Trí cho xây dựng hành cung làm nơi ở, đóng đồn. Việc xong mở tiệc khao quân, thưởng cho nhân dân. Tiệc tàn, bỗng thấy có một đám mây vàng giáng xuống và hai vị phi thân theo mây về thành Thăng Long hóa mất. Nhân dân kinh hãi, làm biểu tấu cho triều đình, nhà vua phong sắc cho nhân dân làm lễ tế tự, tu sửa miếu sở, phụng thờ hai ông.
Vua đã phong cho hai ông: Đệ nhất thánh cả Cao Sơn, Đệ nhị Quý Minh hiển ứng và cả đệ tam Cao Sơn uy ninh là vị sơn thần bản thổ. Cao Sơn, Quý Minh được nhân dân thờ làm thánh của làng, khi làm đình hai vị cũng được thờ làm thần hoàng làng. Nhiều đời vua sau cũng đã phong sắc cho hai vị.
Thôn Thắng Trí còn có một ngôi đền tục gọi là đền Mẫu thờ Nga Hoàng công chúa, hiển linh giúp Hai Bà Trưng. Trước kia, ngôi đền này ở riêng, sau vì hư hỏng đã được làng chuyển về khu đền hiện nay. Theo sự tích có ghi thì bà là dòng dõi công chúa con vua Hùng với tên gọi Nga Hoàng. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa đi đánh giặc qua vùng này đã đóng quân tại Thắng Trí. Đêm ngủ, Bà Trưng được báo mộng rằng sẽ trợ giúp, tỉnh dậy, quả nhiên có một tiên nữ giáng trần, xưng tên là Thiên tiên Nga Hoàng công chúa. Trận đánh đó, nhờ sự giúp đỡ của công chúa, Bà Trưng thắng lớn, khi lên ngôi vua, nhớ đến công lao của công chúa Bà đã phong sắc ghi công, cho dân Thắng Trí lập miếu đền thờ cúng. Đến thời Trần đánh quân Nguyên, Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn cũng được âm phù cho thắng lợi. Các đời vua sau cũng phong sắc cho bà.
Hàng năm làng có lệ mở hội lớn tưởng nhớ đến các đức thành hoàng ở khu đền. Vào thời kỳ kháng chiến cũng có một số sự kiện lịch sử đáng chú ý:
Tiền khởi nghĩa năm 1945, ngôi đền là nơi hội họp mít tinh của các đoàn thể Việt Minh, bồi dưỡng cán bộ và quần chúng.
Khi toàn quốc kháng chiến bệnh viện Hà Nội đã sơ tán về địa điểm ngôi đền. Cuối năm 1949, bệnh viện mới chuyển đi.
Tòa thượng thẩm cũng làm việc ở đây một thời gian.
Năm 1950 địch o ép mạnh, lập vành đai trắng. Đến tháng 5/1952 chúng đóng đồn bốt chiếm cứ ở đền Thắng Trí. Các đồ thờ tự, đồ lễ được nhân dân đấu tranh giữ gìn, cất giấu, chuyển về ngôi miếu làng.
Những năm tháng chống đế quốc Mỹ khu đền là nơi sơ tán của nhiều cơ quan: kho khí tài quân trang, quân dụng, máy bay của sân bay Nội Bài, Bộ thiết kế miền Đông Kim Anh, nhà máy xe đạp, Tổng kho của Bộ cơ khí luyện kim, kho thuốc cục quân y…
Năm 1969 đồng chí Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thái khi đi kiểm tra mặt trận đã đến làm việc tại đền.
IV. Loại di tích:
Đền Thắng Trí là một kiến trúc tưởng niệm. Đền là nơi tưởng nhớ ghi công các anh hùng tiên liệt của nhân dân địa phương. Bên cạnh đó đền là nơi ghi dấu các sự kiện lịch sử của thời cuối Hùng Vương và cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Xét riêng về loại hình có thể xếp loại đền là loại di tích lịch sử - nghệ thuật.
V. Khảo tả di tích:
Đền nằm ở một khu đồi cao giữa làng, cách biệt với khu dân cư xung quanh. Kiến trúc của đền là kiến trúc của ngôi điếm làng được sửa chữa, sử dụng lại.
Đền chính được làm hướng Đông Nam có bố cục mặt bằng kiểu chữ công và các công trình kiến trúc khác. Là chùa làng thờ Phật và đền thờ Mẫu. Đền gồm ba phần: kiến trúc nối liền nhau: đại tế, giải muống và hậu cung.
Đại tế có 7 gian hẹp lòng, hẹp gian làm kiểu đầu hồi bít đốc tay ngai có trụ biểu. Nền lát gạch làm cao vừa phải với hai bậc thềm, mái lợp ngói di. Có 8 vì kèo, 16 cột cái. Cột được kê trên chân tảng đá xanh chôn chìm xuống nền. Thiết kế các vì đơn giản: xà chồng khấn kê đấu, kẻ chuyền đè quá giang gối cột, tiền kẻ hậu bẩy, hai vì hồi làm vì kèo tuột. Năm gian giữa không xây còn hai gian đầu hồi được xây tường gạch, cửa sổ phía trước ghép chữ Triện, phía sau để thoáng, đầu hồi làm cửa đi ở giữa. Gian chính giữa bưng kín gỗ thành cửa cấm, có ba khuôn cửa: giữa làm hết lòng cột, hai cửa nách ở bên, cửa giữa ghép gỗ theo kiểu bức bàn, hai bên là cửa cánh.
Giải muống câu liền với đại tế và hậu cung ở gian giữa, có hai gian, hai vì kèo còn hai vì giáp chung với đại tế và hậu cung. Các vì kèo làm kiểu kèo tuột phía trên, hai bên xà kê đấu đón hoành, đè xà nách gối tường.
Hậu cung làm đầu hồi bít đốc tay ngai thò trụ biểu, có ban gian hai dĩ hẹp với bốn vì kèo. Kết cấu của hậu cung làm kiểu kèo tuột một trụ chống giữa có làm cột phụ thành ban thờ chính lát ván lập cấp, hai gian bên xây hai ban thờ sát tường hậu, làm thành ban thờ các tướng quân dưới quyền.
Bên ngoài có trụ biểu gạch, đắp vữa trước đại tế hậu cung. Hai trụ biểu trước đắp phượng hóa cuốn búp hoa sen dưới ô cổ là hệ tứ linh long ly, quy phượng chân cắt voi chầu. Hai trụ sau đắp kiểu quả giành giành là ly hóa chầu.
Kiến trúc chủ yếu được làm trơn ghép bén, có một số họa tiết trang trí cách điệu hình cúc dây, lan đằng, đan xen là hình triện trên thân các vì kèo. Đáng kể về trang trí có nhiều ở các đồ thờ, di vật của đền sẽ miêu tả ở phần sau.
VI. Thống kê hiện vật:
Đền Thắng Trí có một khối lượng di vật, hiện vật lớn có giá trị về nhiều mặt:
- Thần tích của đền viết dưới thời Hồng Đức thứ 3, sao lại năm Vĩnh Hựu thứ 6, ghi công tích của Cao Sơn, Quý Minh và Nga Hoàng công chúa.
- Một quyển sao lược sắc phong, có các sắc được sao lại vắn tắt niên hiệu ngày tháng các vua phong cùng một số mỹ tự.
- Tám đôi câu đôi gỗ sơn son thiếp vàng nghệ thuật thế kỷ 19, 20.
- Hương án bằng gỗ sơn son thiếp vàng được làm vào thế kỷ 19. Mặt trước và hai bên có nhiều họa tiết trang trí với các ô chạm trổ. Trên cùng là hình che riềm chạm long hóa ở 4 góc phía dưới là đường chân sóng chạy quanh. Mặt trước với các họa tiết đầu rồng, hổ phù, các họa tiết hệ tứ linh ở các ô, mỗi ô có một vẻ khác nhau: cả hệ tứ linh hoặc tả riêng từng loại, ô thì tả trúc lão hóa long, hổ phù… chủ đề theo truyền thống với kiểu chạm long vờn mây, cuốn thủy ly hóa, phượng hàm thư, rùa đội ấn… Che hai chân là hình tứ linh, long cuốn thủy kết hợp với chép hóa long, ao sen, đan xen là các hình tứ linh. Riềm dưới chạm cách điệu tả tứ quý thông, cúc, trúc, mai.
Ở hai bên hương án với các họa tiết gần cân xứng với nhau tả đầu rồng, hổ phù hàm ấn, kết hợp là hình cúc dây, hình triện. Các hình chạm tứ linh, tứ quý đan xen tả các hình chạm ao sen, cá chép, cúc dây lan đằng. Chủ yếu các hình chạm trên hương án được chạm lộng, bong kênh, trổ thủng thếp vàng trên nền sơn son.
- Kiệu của đền có 4 bộ với ba bộ kiệu bát cống và bộ kiệu tư. Các bộ kiệu làm bằng gỗ sơn son thiếp vàng. Một bộ kiệu có niên đại sớm hơn vào cuối Lê còn ba bộ kiệu có niên đại thời Nguyễn thế kỷ 19. Tập trung trang trí ở phần đầu và đuôi kiệu là đầu và đuôi rồng.
Bên cạnh đó là các mảng chạm gắn trang trí ở riềm, giá đỡ và các bành kiệu. Dáng rồng ở các kiệu thời Nguyễn được tạo tác khỏe, dữ với mũi sư tử, mắt lồi, bờm vểnh, râu dài. Rồng tạc ở kiệu cuối Lê có dáng dấp giống thời kỳ trước, nét chạm thô ít được chau chuốt kỹ, có các mảng chạm đẹp, cầu kỳ ở các bành kiệu: với các chủ đề tứ linh, long chầu nhưng cách thể hiện trên mỗi bành có dáng vẻ khác nhau. Các mảng chạm khắc tay với lối thể hiện sống động, uyển chuyển tạo cho các bành vừa có nét tương đồng lại vừa riêng biệt một cách sinh động.
- Cây quán tẩy dùng để chậu nước khi hành lễ làm bằng gỗ sơn sơn thiếp vàng của nghệ thuật thế kỷ 19, tập trung tả một thân trúc lão hóa long với một nét chạm tinh xảo, cầu kỳ, hài hòa giữa tả thực và cách điệu. Bên cạnh đó đặc tả hệ tứ linh đan xen, đây là một di vật có giá trị cao về mặt mỹ thuật.
- Bài vị gồm có 3 chiếc côn được gọi là long bài trong đó 2 chiếc để thờ Cao Sơn và Quý Minh, một chiếc thờ Ninh Ninh sơn thần, tức vị thần bản thổ. Các bài vị có bố cục bài trí giống nhau: với đường diềm cắt hoa lá, đình là một mặt trăng, xung quanh chạm nổi long chầu, tứ linh bao quanh khuôn gỗ nổi ở giữa. Trong ba bài vị thì có một bài vị có niên đại sớm hơn còn hai chiếc được tạo tác vào TK 19 – thời Nguyễn.
- Đền Mẫu có 4 pho tượng với hai pho nguyên bản còn hai pho mới được cung tiến. Hai pho tượng cũ có những nét rất đáng chú ý: kích thước tượng trưng trung bình giống như các tượng điện mẫu ở chùa thể hiện công chúa Nga Hoàng được dân làng thành tâm tưởng niệm. Pho tượng sau to hơn tạc ở tư thế ngồi cao 80cm, thể hiện một người phụ nữ bình dị, ngồi bằng, áo nhà nông, lộ cổ yếm, chân đi đất. Pho tượng đặt đằng trước nhỏ hơn tạc một nữ tướng đứng, theo cách thể hiện là hình ảnh của chúa Bà lúc ra trận hoặc một nữ tướng dưới quyền. Qua cách thể hiện tượng, nghệ nhân đã gắn chặt với sự kiện lịch sử của đền, sáng tạo một hình tượng nghệ thuật về người nữ tướng nông dân vì nước xông trận, bảo vệ non sông. Hai pho tượng được làm bằng gỗ sơn sơn thiếp vàng, nghệ thuật của TK thứ 19.
- Gươm thờ có 8 chiếc bằng gỗ sơn son thiếp vàng.
- Hoành phi có 4 chiếc bằng gỗ sơn son thiếp vàng.
- Cac binh khí trang trí làm vào TK 19 có: 1 bát xà mâu, 8 bát bửu, 3 biểu lệnh, 3 chùy.
- Y môn có 3 bức gỗ sơn son thiếp vàng nghệ thuật cuối TK 19 tả giống nhau với hình chạm nổi lưỡng long chầu, đan xen hình tứ quý, lá đề trên nền hồi văn.
- Bia đá làm năm Duy Tân Ất Mão (1915) làm trơn, được ghi vắn tắt nội dung, thần tích, các ngày tuần tiết, các lệ tế lễ.
- Chuông đồng đúc năm Khải Định Kỷ Mùi (1919) có ghi tên chữ của chùa là “Thanh Vân tự”, chuông có 4 núm, không có bài minh.
- Tượng Cửu Long của chùa có một pho, tượng hư hỏng nhiều và hiện là pho tượng còn lại duy nhất của chùa.
- Ngoài ra đền còn rất nhiều các di vật, đồ thờ tự khác như đỉnh đồng, cây đèn, nến, hạc gỗ, đài đồng, các tán quạt, bát hương, mâm đồng, quả lễ…
VII. Đánh giá giá trị của di tích:
1. Giá trị về mặt lịch sử và danh nhân:
Đền thờ Cao Sơn, Quý Minh, hai vị tướng từ thời Hùng Vương dựng nước mà nhiều làng xã xung quanh Thắng Trí và các nơi khác thờ làm thần thành hoàng. Xung quanh vai trò thay thế của Triệu Thục còn nhiều vấn đề cần phải tranh cãi, nhưng có đủ cơ sở để khẳng định hai vị thánh Cao Sơn, Quý Minh là hai nhân vật lịch sử có thật, đi vào tiềm thức nhân dân ở nhiều nơi.
Cao Sơn, Quý Minh là hai vị tướng đã nêu cao tấm lòng trung vua, yêu nước, bảo vệ sự bình yên của quốc gia. Hai vị tướng đã nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ bộ tộc, bộ lạc mình chung sống, vào buổi đầu lịch sử nước ta có ý nghĩa riêng.
Qua tư liệu của di tích góp phần đóng góp cho các sự kiện của thời cuối Hùng, đầu Thục, tạo điều kiền để chứng minh và tìm hiểu về thời kỳ lịch sử xa xưa của dân tộc ta.
Ở đền có thờ Nga Hoàng công chúa đã hiển linh đã hiển linh giúp cho cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đánh đuổi quân Tô Định. Nga Hoàng là hình ảnh tượng trưng cho lòng yêu nước, chí căm thù giặc của nhân dân ta, đó chính là tấm gương sáng cho đời. Qua phần thần tích nói về Nga Hoàng cũng cho thấy được nhiều tư liệu quý về lịch sử thời Hai Bà Trưng.
2. Giá trị về nghệ thuật, văn hóa và danh thắng:
Ở đền có một kho tư liệu di vật với số lượng lớn, có chất lượng và giá trị về nhiều mặt. Các di vật, đồ thờ như các bộ kiệu, hương án, cây quán tẩy là các tác phẩm nghệ thuật đẹp thể hiện nghệ thuật chạm khắc khéo léo của các nghệ nhân xưa. Với bản sắc văn hóa vừa truyền thống vừa địa phương, các bức chạm là những tác phẩm có giá trị cao về mỹ thuật, đóng góp cho kho tàng văn hóa của dân tộc ta. Ngôi đền nằm ở sát làng của một vùng dân cư đông đúc mà nơi lễ thánh cúng Phật và sinh hoạt hội họp chung của đông đảo nhân dân mỗi tháng đôi lần. Tại đây đã diễn ra các tập tục tế lễ, những nét đẹp của văn hóa dân gian. Những lễ hội lớn ở đền được đông đảo nhân dân tham gia là nguồn động viên tinh thần to lớn sau những ngày tháng lao động vất vả, mệt nhọc.
Các lễ hội làng còn có các trò vui, khỏe khoắn, là nơi giao lưu văn hóa góp phần tô đẹp thêm cho khung cảnh xóm làng và tăng cường tình đoàn kết, ý thức tương trợ thân ái giúp đỡ nhau. Đền Thắng Trí ở vào vị trí khá gần sân bay quốc tế Nội Bài, hồ Đại Lải, khu di tích Sóc Sơn, lại ở trên một khu đồi cao quang đãng rộng rãi là điều kiện thuận lợi để xây dựng, tôn tạo thành nơi vui chơi, nghỉ ngơi, thăm viếng, du lịch. Đồi cây của đền trên cơ sở được trồng trọt và quy hoạch gìn giữ tốt sẽ tạo cho đền một khung cảnh đẹp có giá trị danh thắng.
VIII. Lễ hội đền Thắng Trí
Thời gian: Ngày 15 tháng Giêng (Âm lịch) hàng năm.
Địa điểm: Đền Thắng Trí, thôn Thắng Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
Nhân vật phụng thờ: Cao Sơn, Quý Minh và Ngọc Hoa Công chúa – những vị thần có công với nước, che chở cho nhân dân.
Các hoạt động chính:
Phần lễ: Nghi thức tế lễ trang nghiêm, thành kính dâng lên các bậc phúc thần, cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.
Phần hội: Sôi nổi với các trò chơi truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc như thi vật tự do, đấu cờ người và các hoạt động giao lưu văn hóa.
Ý nghĩa: Lễ hội là dịp bảo tồn di sản văn hóa, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tôn vinh tinh thần thượng võ và thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng tại địa phương.
Nguồn: Google
Cập nhật: 07/10/2026