GIỚI THIỆU CHÙA HƯƠNG TRẦM
Thôn Bằng Lâm, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội
Chùa Hương Trầm, tên chữ là “Viên Thành tự”, hiện thuộc thôn Bằng Lâm, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội. Đây là một công trình tín ngưỡng, tôn giáo gắn bó lâu đời với đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân địa phương. Trước năm 1945, Hương Trầm (Râm Trầm) là một thôn của trang Bằng Lâm, sau đổi là Thư Lâm. Tên gọi Thư Lâm có nghĩa là “rừng chữ”, biểu hiện truyền thống hiếu học của vùng đất gắn với Thám hoa Nguyễn Khắc Kiệm. Làng Thư Lâm trước thuộc tổng Phương La, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1905, làng Thư Lâm tách khỏi tổng Phương La, cùng với Thụy Lôi, Đào Thục lập thành tổng Thư Lâm thuộc huyện Đông Ngàn, sau là huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. Năm 1946, làng Thư Lâm và làng Thụy Lôi hợp nhất lấy tên xã Đức Hợp; năm 1949 xã Đức Hợp nhập thêm làng Đào Thục lập thành xã Tiến Bộ, sau đổi là xã Thụy Lâm. Năm 1961, huyện Đông Anh được nhập về thành phố Hà Nội.
Theo những tư liệu được lưu lại trong hồ sơ di tích và truyền thuyết dân gian, Chùa Hương Trầm có mối liên hệ với sự tích Quý Minh. Khi ấy, ở đạo Ái Châu có ông Cao Hoằng và người vợ họ Lê. Hai ông bà làm nghề bốc thuốc chữa bệnh, thường làm phúc, chữa bệnh cho người nghèo nên được nhân dân quanh vùng kính trọng. Tuổi đã cao mà chưa có con trai, ông bà bàn nhau tìm nơi truyền nghề làm thuốc, tin rằng tích thiện sẽ gặp điều lành. Khi đến khu Hương Trầm, trang Bằng Lâm, phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bắc, ông bà thấy đây là khu đất quý, địa thế hình vòng cung, có chùa, miếu tụ hội một nơi.
Vợ chồng ông vào chùa và nhìn thấy ba chữ “Viên Thành tự”. Trời tối, hai ông bà nghỉ lại một đêm tại chùa. Đến canh tư, ông Cao Hoằng nằm mơ thấy một người mũ áo chỉnh tề từ miếu bước vào, tự xưng là con của Lạc Long Quân, là thần núi ở miếu sở tại, vâng mệnh trời đầu thai làm con ông bà. Cùng đêm ấy, người vợ cũng mơ thấy một ngôi sao sáng rực rơi vào miệng rồi nuốt mất. Sau đó bà mang thai và đến ngày 12 tháng 11 năm Nhâm Ngọ sinh được một người con trai khôi ngô tuấn tú, được đặt tên là Quý Minh.
Quý Minh lớn lên thông minh, học hành giỏi giang; năm 15 tuổi đã giỏi binh thư, võ lược. Khi trưởng thành, Quý Minh ứng thí theo chiếu chiêu hiền đãi sĩ của vua Hùng, thể hiện tài văn võ hơn người và được phong làm Chỉ huy sứ, Hữu lộ tướng quân. Khi quân Thục tiến đánh, Quý Minh được giao nhiệm vụ đem quân chống giặc. Trên đường xuất binh, Quý Minh đến khu Hương Trầm, trang Bằng Lâm và cho quân sĩ nghỉ lại. Theo truyền thuyết, nơi đây gợi lại dấu tích cha mẹ ông từng truyền nghề thuốc và cũng là nơi gắn với điềm lành trước khi ông ra đời. Sau chiến thắng, Quý Minh được vua Hùng ban thực ấp tại trang Bằng Lâm, Hương Trầm. Sự tích này trở thành một phần ký ức văn hóa, tín ngưỡng được lưu truyền qua nhiều thế hệ ở địa phương.
Chùa Hương Trầm là nơi thờ Phật theo dòng Đại thừa, một dòng Phật giáo được truyền vào nước ta từ sớm ở vùng Kinh Bắc. Trong quá trình phát triển của đời sống tín ngưỡng dân gian, bên cạnh Phật giáo còn có sự giao thoa với Nho giáo, Lão giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu. Vì vậy, Chùa Hương Trầm không chỉ thờ Phật mà còn có không gian thờ Mẫu, thể hiện đặc trưng dung hợp tín ngưỡng của cộng đồng cư dân Việt.
Theo hồ sơ di tích, từ xa xưa người dân Hương Trầm có ý niệm bố trí các không gian thờ tự gần nhau. Chùa chính về sau bị phá hủy, nhân dân chuyển tượng Phật từ chùa chính về công trình vốn là nhà Tổ, sau sửa lại thành chùa hiện nay. Không gian chùa vì thế vừa đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, vừa gắn bó mật thiết với sinh hoạt văn hóa truyền thống của làng.
Chùa Hương Trầm có diện tích xây dựng khoảng 50m², gồm một tòa năm gian. Kiến trúc tương đối giản dị, làm theo kiểu thượng kèo, tiền kẻ, hậu bẩy. Để lòng chùa rộng hơn, công trình sử dụng hai hàng cột cái đỡ quá giang thay cho tường; hàng tường tiền, hậu được đẩy lùi ra hiên. Cột, kèo đều làm bằng gỗ xoan, bào trơn, mộng bén; mái lợp ngói ta. Ba bề tường chùa xây gạch, trát vôi; mặt trước có hệ thống cửa, các gian hồi xây tường và trổ cửa sổ.
Mỗi gian trong chùa được xây bệ gạch để bài trí tượng thờ. Gian giữa đặt ba cấp bệ. Trên cùng là tượng A-di-đà trong tư thế ngồi trên tòa sen, hai tay đặt trên đùi, lòng bàn tay nâng báu vật – ngọc Minh Châu. Pho tượng mang những nét đặc trưng của tượng Phật như tai to, dài, cổ cao, trước ngực có chữ nhà Phật, trên mình khoác áo thanh y, đầu tạo kiểu tóc ốc; được xác định thuộc nghệ thuật thế kỷ XX.
Bậc thứ hai là tượng Ngọc Hoàng cao khoảng 0,80m trong tư thế ngồi, hai tay cầm quyển sổ. Tượng có tỷ lệ cân đối, đầu đội mũ bình thiên, mình mặc áo đại trào, chân đi giày, mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XX. Bậc thứ ba là tượng Thích Ca sơ sinh với hình dáng bụ bẫm, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, gắn với câu “thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn”; pho tượng cũng thuộc nghệ thuật thế kỷ XX. Phía ngoài là bình hương gốm tráng men, trang trí đề tài lưỡng long chầu nguyệt.
Gian bên phải đặt tượng Thánh Tăng cao khoảng 0,80m, trong tư thế ngồi, đầu đội mũ tỳ lư, mình mặc áo thanh y. Tượng có tỷ lệ cấu trúc cân đối, những nếp thủy ba trên áo mềm mại; một tay giơ lên để ấn quyết, một tay cầm cốc nước cam lồ. Gian bên trái đặt tượng Đức Ông cao khoảng 1,80m, trong tư thế ngồi, mình mặc giáp phục, tay cầm kiếm với ý nghĩa bảo vệ Phật pháp; theo quan niệm truyền thống, Đức Ông là vị cai quản tài sản của nhà chùa. Các pho tượng này được xác định thuộc nghệ thuật thế kỷ XX.
Tại gian đốc có tượng Mẫu cao khoảng 0,60m, trong tư thế ngồi, chân để thoải mái trên sập gỗ. Pho tượng có tỷ lệ cân đối, đường nét mềm mại, thuộc nghệ thuật thế kỷ XX. Theo tư liệu của hồ sơ, sự tích Mẫu còn gắn với tên gọi Liễu Hạnh hay Bà Chúa Liễu, một nhân vật được dân gian xếp vào hàng “Tứ bất tử”. Hồ sơ cũng dẫn sách “Nam Hải dị nhân”, xuất bản năm 1988, trong phần nói về sự tích Liễu Hạnh Tiên Chúa.
Một trong những di vật đặc biệt quý của Chùa Hương Trầm là chiếc khánh đá đặt trước chùa. Khánh có kích thước khoảng 1,50m x 0,80m x 0,18m. Giữa khánh có lỗ thủng để lồng quai treo, đồng thời tạo hình như mặt nguyệt; hai bên chạm hai rồng chầu. Hai mặt khánh khắc chữ Hán, trong đó một phần ghi tên những người có lòng công đức và đứng ra hưng công tạo khánh, phần khác ca ngợi cảnh đẹp của Hương Trầm, thể hiện mong ước của cộng đồng làng xóm và sự linh thiêng của khánh đá.
Bài minh khắc trên khánh nhắc đến “Viên Thành tự”, đất huyện An Phong, ca ngợi quang cảnh thanh tịnh, việc tạo tác ngọc thạch thành hình mặt nguyệt, việc cúng thờ Tam bảo, tu nhân tích đức, cầu mong phúc lộc, gia đình hòa thuận, gái trai đầy đủ, hương thôn vui vẻ, người vật ngày càng đông, đời sống no đủ và văn nghiệp phát triển. Bài minh còn ghi “Tục gọi làng Trầm – Tên xã Bằng Lâm”, là dấu tích văn tự có giá trị đối với việc tìm hiểu lịch sử tên gọi và không gian văn hóa của địa phương.
Mặt bên của khánh đá còn có đoạn văn nói về việc dựng khánh, đề cao đạo lý, đức hạnh và tinh thần sùng đạo Phật. Nội dung nhấn mạnh quan niệm “trời một lý, đạo một tâm”, lấy đạo và tâm làm nền tảng; đồng thời liên hệ việc tạo khánh với việc chiêu hiền, chăm lo cho muôn dân, trị nước và đạo làm tôi. Khánh đá được xác định là hiện vật nghệ thuật thế kỷ XVIII.
Giá trị nổi bật của Chùa Hương Trầm còn nằm ở chính chiếc khánh đá có chữ “Viên Thành tự”. Theo hồ sơ di tích, số lượng khánh đá còn tồn tại tại các chùa không nhiều; khánh vừa có khả năng phát ra âm thanh, vừa có kiểu dáng đẹp và mang giá trị nghệ thuật, lịch sử. Về sau, dù khánh được chế tạo bằng đồng hoặc các chất liệu khác, kiểu dáng truyền thống vẫn có sự kế thừa từ hình thức của khánh đá xưa.
Không chỉ là nơi thực hành tín ngưỡng, Chùa Hương Trầm còn là không gian sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng. Qua nhiều thế hệ, người dân đến cửa Phật để bày tỏ lòng thành kính, gặp gỡ, giao lưu và tiếp nhận những lời răn dạy hướng con người tới điều thiện. Đây cũng là môi trường góp phần giáo dục con cháu sống có ích cho xã hội, vun đắp tình làng nghĩa xóm và giữ gìn thuần phong mỹ tục.
Trong quá trình bảo tồn, di tích được cộng đồng địa phương quan tâm trông nom, khi có hư hỏng thì báo cáo chính quyền và các tổ chức liên quan để có phương án sửa chữa, đồng thời vận động nhân dân cùng tham gia. Phương án bảo vệ và sử dụng di tích trong hồ sơ cũng đề cập việc chỉnh trang cảnh quan, trồng cây bóng mát, xây dựng tường rào và bố trí chiếc khánh đá ở vị trí thích hợp nhằm bảo vệ di vật quý hiếm.
Ngày nay, Chùa Hương Trầm – Viên Thành tự tại thôn Bằng Lâm, xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội là một địa chỉ văn hóa, tín ngưỡng chứa đựng nhiều lớp giá trị. Từ câu chuyện dân gian gắn với vùng đất Bằng Lâm, hệ thống tượng thờ mang dấu ấn Phật giáo và tín ngưỡng dân gian đến chiếc khánh đá quý có niên đại nghệ thuật thế kỷ XVIII, mỗi yếu tố đều góp phần phản ánh đời sống tâm linh, lịch sử và truyền thống văn hóa của cộng đồng cư dân địa phương. Việc gìn giữ và phát huy những giá trị của Chùa Hương Trầm không chỉ góp phần bảo tồn một công trình tín ngưỡng lâu đời mà còn giúp các thế hệ hôm nay và mai sau hiểu thêm về lịch sử, văn hóa và bản sắc của quê hương Thư Lâm.