Đình Cống Sở thuộc thôn Đặng, xã Hồng Sơn, Thành phố Hà Nội.
Đình Cống Sở được UBND Thành phố xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp Thành phố, tại Quyết định số 1168/QĐ-UBND ngày 28/02/2026.
Đình Cống Sở tọa lạc ở vị trí giữa làng nhìn theo hướng Đông Nam, gồm các hạng mục: Nghi môn, đại bái, hậu cung.
Căn cứ vào lời kể của các cụ cao niên trong làng và cuốn Lịch sử cách mạng của Đảng bộ nhân dân xã Hồng Sơn (1930 - 2020) và các hiện vật như sắc phong có niên đại Duy Tân 3, Khải Định 9, Tự Đức 6, Đồng Khánh 02, Tự Đức 33 và cuốn thần phả chữ Hán thì đình Cống Sở có có từ lâu đời vào khoảng thời Lê và được nhân dân nơi đây trùng tu xây dựng đại bái vào năm 2014 và năm 2016 xây dựng nghi môn. Trải qua thời gian tồn tại, chính quyền và nhân dân đã bảo tồn, tôn tạo ngôi đình có quy mô, bố cục, hình thức như hiện nay.
Căn cứ vào lời kể của các cụ cao niên trong làng và bản thần tích - thần sắc sao tại Viện Thông tin Khoa học xã hội ký hiệu TT-TS và sắc phong, thần tích bằng chữ Hán do Viện Nghiên cứu Hán nôm dịch còn lưu giữ tại di tích thì đình Cống Sở là nơi thờ Đương cảnh thành hoàng Thái giám cảm ứng linh thánh đại vương Thượng đẳng thần và Thánh Mẫu Hoàng hậu Quế Hoa quận phu nhân là công thần thời Hoàng đế thái tổ nhà Lê cùng Tham hữu Hộ quốc chi thần, Đệ nhất Ngọc Dung Tiên chủ Đại vương.
Nghi môn trụ biểu là hạng mục công trình mới được xây dựng vào năm 2016, với một lối đi chính giữa. Hai trụ biểu chính được làm kiểu hình vuông, đỉnh trụ đắp tứ phượng chầu sơn màu vàng, đuôi chụm lại hướng thiên. Phía dưới là ô lồng đèn để trống không trang trí hoa văn. Thân trụ soi gờ kẻ chỉ để trơn, đế trụ thắt cổ bồng. Nối sang hai trụ biểu nhỏ là hai bức tường lửng, trên đỉnh tường lửng được trang trí hai tầng mái, đỉnh mái đắp hình tượng lưỡng long chầu nguyệt, phía dưới trang trí hoa văn. Tiếp xuống là lớp mái lợp giả ngói ống. Hai bên là hai trụ biểu được làm nhỏ hơn trụ biểu giữa, đỉnh trụ đắp hoa văn trang trí màu xanh, phía dưới ô lồng đèn để trống không trang trí, thân trụ soi gờ kẻ chỉ không trang trí, đế trụ thắt cổ bồng.
Từ nghi môn trụ biểu qua một khoảng sân láng xi măng là đến đại bái, đại bái là hạng mục gồm 3 gian, làm theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Giữa bờ nóc là hình tượng lưỡng long chầu nguyệt, áp đầu đốc là hai con kìm. Hai đầu đốc là hai đấu đinh đắp bằng xi măng, bờ dải dật cấp.
Vào bên trong gồm các bộ vì đỡ mái được làm theo kiểu “Thượng chồng rường, hạ bán giá chiêng chồng rường”, trên bốn hàng chân cột gỗ. Trên các bộ vì được trang trí hoa văn chạm khắc, đầu dư... Tại hạng mục đại bái để trống không có cửa.
Nối từ gian giữa đại bái là hậu cung, hậu cung là 3 gian nhà dọc làm theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Vào bên trong được kết cấu các bộ vì đỡ mái theo kiểu “vì kèo” gối lên hai bờ tường. Tại đây được bài trí hai ban thờ. Ban thờ ngoài hiên và ban thờ trong hậu cung, trên bài trí các đồ thờ tự có giá trị.
- Tại hạng mục đại bái: Bài trí 1 ban thờ: gồm hương án và bát hương sứ
- Tại hạng mục hậu cung:Hạng mục hậu cung được bài trí hai ban thờ:
Ban thờ phía ngoài hiên được bài trí hương án gỗ, trên đặt bát hương đồng, đôi hạc gỗ có niên đại nghệ thuật thế kỷ XIX, đôi chân nến đồng, mâm bồng gỗ, phía trên treo bức hoành phi đề 3 chữ Hán “Đại Linh từ”. Hai bên hương án bài trí bộ chấp kích, áp tường là đôi câu đối chữ Hán.
Ban thờ bên trong hậu cung được bài trí bằng một bệ thờ bằng gạch, trên bài trí các đồ thờ tự từ trong ra ngoài như: Trên cùng là bộ long ngai, trong là tượng mẫu, tiếp phía ngoài là một long ngai có niên đại nghệ thuật thời nguyễn cùng bát hương đồng, mâm bồng đồng, bát hương đá cổ, lư hương đồng, hòm sắc, bộ đài nước, khay đài nước...
* Những đóng góp trong Kháng chiến Cách mạng.
-Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 được sử dụng làm Trường học.
- Sau Cách mạng tháng Tám 1968 -1972; Bộ đội về đào hào khu kháng chiến.
- Trước Cách mạng tháng Tám có nuôi dấu cán bộ, cất dấu tài liệu tại gia đình Ông Hội Ngân (được Nhà nước tặng Huân chương).
-Số lượng thương binh, bệnh binh, liệt sỹ.
Liệt sỹ có 03 người, Thương binh có 02 người, Bệnh binh có 01 người
*Về những di vật tiêu biểu:Di tích đình Cống Sở hiện còn lưu giữ được những hiện vật tiêu biểu như hệ thống sắc phong có niên đại thời Nguyễn cùng thần phả chữ Hán, long ngai bài vị, tượng, bát hương đá, rùa hạc, đài nước, hương án... Bên cạnh đó còn một số đồ thờ tự có giá trị nghệ thuật thế kỷ XX.
GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HÓA, KHOA HỌC, THẨM MỸ CỦA DI TÍCH
Đình Cống Sở tuy không còn giữ được dáng vẻ kiến trúc của ngày đầu khởi dựng nhưng đây là một di tích lịch sử văn hóa, nằm trên vùng đất có bề dày lịch sử giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Nơi đây đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hoá tâm linh của dân làng, giáo dục tinh thần yêu quê hương cho các thế hệ hiện sinh. Trải qua thời gian di tích đã hội tụ được những giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, thẩm mỹ sâu sắc, mang đặc trưng của vùng miền. Hiện nay, sự hiện diện của các hạng mục kiến trúc, hệ thống di vật và những sinh hoạt văn hóa liên quan đến di tích đã góp phần bảo lưu và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của địa phương.
Đình Cống Sở là di tích nằm trên vùng đất có bề dày lịch sử và ra đời sớm vào khoảng thời Nguyễn. Trong quá trình lịch sử dân tộc, nhân dân Cống Sở, đã hun đúc tạo nên cho mình những truyền thống tốt đẹp, đó là lao động, cần cù, sáng tạo, bền bỉ, trong lao động sản xuất. Với truyền thống yêu nước kiên cường dũng cảm trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ làng xã, truyền thống văn hóa hiếu học mang đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc, đoàn kết gắn bó chung sức để tồn tại của cả cộng đồng dân cư.
Đình là nơi thờ thành hoàng làng là Hoàng Sơn Quan Lẫm đại vương và Quốc mẫu Quế Hoa đại vương cùng Ngọc Dung Tiên chúa và cũng là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng cư dân, nơi bảo lưu, gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của địa phương và cũng là nơi giáo dục hướng con người tới những điều tốt lành trong cuộc sống. Sự hiện diện của ngôi đình chính là biểu tượng không thể thiếu của mỗi làng quê, thể hiện sự khát vọng về một cuộc sống an lạc, bình yên của mỗi người dân lao động nơi thôn giã.
Những ghi chép trong sắc phong, thần phả, thần tích, về vị thần là những tư liệu quý góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về xã hội, đời sống tinh thần của nhân dân địa phương qua các chặng đường của lịch sử dân tộc.
* Về giá trị văn hóa - khoa học:
Làng Cống Sở, xã Hồng Sơn có nhiều truyền thống văn hóa và phong tục tập quán tốt đẹp, nhân dân cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, kiên cường góp sức cùng nhân dân cả nước chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước và xây dựng quê hương. Nét đẹp người dân trong cộng đồng làng được thể hiện theo bề dày lịch sử, trong quan hệ cộng đồng, lối sống thuần hậu, đoàn kết, thương yêu nhau, trong một làng quê có nhiều dòng họ.
Đình Cống Sở là trung tâm sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân địa phương, là nơi tổ chức lễ hội truyền thống hàng năm để tưởng nhớ công đức của vị Thành hoàng làng, nơi hội tụ mọi người dân trong cộng đồng để giao lưu văn hóa, bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống của cha ông từ ngàn đời lưu lại cho mai sau. Đồng thời cũng là nơi để người dân trao đổi kinh nghiệm trong nghề nghiệp sản xuất, đoàn kết để cùng nhau phấn đấu xây dựng quê hương Cống Sở ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Qua khảo sát trang trí trên kiến trúc đình Cống Sở hiện nay không còn bảo tồn được kiến trúc, chất liệu như ban đầu khởi dựng. Tuy nhiên ngôi đình đã bị xuống cấp nghiêm trọng, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn nên đến năm 2014 - 2016 nhân dân nơi đây đã đồng lòng cùng nhau tu sửa và xây dựng ngôi đình như hiện nay với lối kiến trúc truyền thống 3 gian xây kiểu tường hồi bít đốc, các bộ vì bằng chất liệu gỗ, chạm khắc hoa văn tinh xảo, tỉ mỉ…
Đặc biệt tại đình còn lưu giữ được hệ thống sắc phong, thần phả thời Lê - Nguyễn cùng một số các di vật có giá trị như long ngai, tượng thờ, bát hương đá, rùa hạc hoành phi, câu đối, cùng một số các đồ thờ tự khác có giá trị…. Hệ thống tư liệu này ngoài việc khẳng định sự ra đời của ngôi đình còn là nguồn tư liệu quý góp phần nghiên cứu về lịch sử xã hội, kinh tế, văn hoá, nghệ thuật trang trí để quản lý và tạo điều kiện cho việc bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá .