Đình Đại Phu được xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 772/QĐ-UBND ngày 27/01/2014 của UBND thành phố Hà Nội
1. Giới thiệu tổng thể:
Đình Đại Phu toạ lạc ở ngã ba Liệp Tuyết trong không gian thoáng đúng, bên tả là trụ sở hợp tác xã nông nghiệp Liệp Tuyết, bên hữu là khu dân cư, phía trước là cây đa cổ thụ rêu phong, tạo sự thâm nghiêm cho di tích.
Đình Đại Phu bao gồm các hạng mục: Nghi môn trụ biểu, đại bái và hậu cung
2. Mô tả kiến trúc:
2.1. Nghi môn trụ biểu:
Nghi môn trụ biểu là hạng mục đăng đối và cân chỉnh. Chính giữa hai trụ biểu là hai lối đi dẫn vào trong. Đỉnh trụ đắp tứ phượng chầu ép thân hình chái dành cách điệu, đuôi hướng thiên, đầu ngoảnh ra bốn hướng. Phía dưới tứ phượng chầu là hình hổ phù diễn tích "khuấy biển sữa" của Bà La Môn giáo, gắn với tín ngưỡng nông nghiệp của cư dân Châu Á, cùng ô lồng đèn đắp long, ly và hoa sen, cây cỏ. Thân trụ soi gờ kẻ chỉ theo tiết diện hình học, thân trụ khắc những đôi câu đối chữ Hán ca ngợi công lao của đức thành hoàng làng.
Đế trụ thắt cổ bồng.
Nối từ trụ biểu sang hai bên là những bức tường lửng, cổng pháo và hai trụ nhỏ cùng tường bao quanh khuôn viên. Trên tường lửng là những ô gạch hoa chanh, phía dưới là hổ, long chầu vào trụ biểu. Cổng pháo gồm hai tầng 8 mái đao cong. Đỉnh nóc là hình tượng mặt trời với những tia lửa bay vút lên phía trên.
Phía ngoài cùng là hai trụ nhỏ. Đỉnh là đôi nghê chầu mang ý nghĩa kiểm soát tâm linh. Ô lồng đèn để trống. Phần thân và để trụ tạo tác tương tự như phần trụ biểu, tường lửng bao quanh toàn bộ khuôn viên của ngôi đình.
2.2. Đại bái:
Từ nghi môn trụ biểu bước qua khoảng sân lát gạch Bát đỏ kích thước 30x30cm là tới đại bái. Đại bái nằm trên nền tam cấp, gồm 3 gian 2 chái với 4 mái đao cong
- Nhìn từ ngoài vào, phần trên bờ nóc là hình tượng lưỡng long chầu nguyệt nằm trên bờ gạch hoa chanh, hai đầu bờ nóc là hai con kìm trong tư thế phun ngọc nhà châu. Tại các khúc nguỳ là các con số trong tư thế chạy xuống phía dưới, đầu ngước cao. Tại bốn đầu đao trang trí khá cầu kỳ các linh vật theo thế "Long quài phượng mớm".
Vào bên trong là 6 bộ vì đỡ mái được làm thống nhất theo hai dạng cách:
"Thượng giá chiêng chồng rường, trung kẻ ngồi, hạ kẻ bẩy" trên sáu hàng chân cột, hai bộ vì gian chái được làm theo kiểu "Thượng ván mê, hạ kẻ xố" trên sáu hàng chân cột. Khoảng cách từ cột cái - cột cái là ... m, cột cái - cột quân là ....m.
Từ hai đầu cột cái là câu dầu bụng lợn chạy ngang. Trên câu đầu là các con nhị được lớt bởi các đấu kê ở hai đầu xếp cao dần đón đỡ đầu kê hình thuyền và thượng lương cùng hệ thống hoành xà đỡ mái.
Cũng từ cột cái là những xà hạ, xà thượng chạy ngang ăn mộng vào cột quân đỡ những trụ trốn, tạo thành hình tam giác. Tại vị trí này là một kẻ xó chia đều ăn ra bốn góc tạo thành bốn mái đao cong. Toàn bộ lực của mái dồn toàn bộ khung và hệ thống cột, xà của đại bái.
2.3. Hậu cung:
Từ đại bái bước qua khoảng sân lọng chừng 5m lát gạch Bát đỏ 30x30cm là tới hậu cung. Hậu cung làm theo kiểu tiền đao hậu đốc. Hạng mục này là ngôi nhà dọc chia làm hai phần: Phần ngoài và phần trong.
Phần mái phía trước hậu cung là hai đao cong cùng phần mái, tạo thành hiên rộng chừng 2m. Bộ vì phía ngoài làm theo kiểu "kẻ xó" trên hai hàng chân cột. Mô típ kiến trúc này in đậm dấu ấn thời Nguyễn.
Ngăn cách giữa phần ngoài và phần trong là ba cửa. Cửa giữa làm theo kiểu bản lề, chỉ mở khi làng vào đám. Hai cửa nách nhỏ hơn, làm theo kiểu bức bàn bản lề. Phía trên ba cửa đắp những linh vật như hổ phù và long cuốn thủy.
Vào bên trong là bộ vì đỡ mái làm theo kiểu "Thượng chồng rường, hạ kở" trên bốn hàng chân trốn hai cột. Các con rường ở đây chồng khít lên nhau, trang trí các họa tiết hoa văn lá lật sinh động, thể hiện bản tay khéo léo của nghệ nhân.
Tại đây bài trí ba ban thờ. Ban thờ giữa cao và to nhất thờ Triều Lang, hai bên là hai ban thờ nhỏ thờ Thần Lang và Gia Lang. Các đồ thờ tại đây in đậm phong cách nghệ thuật thời Lê, thời Nguyễn như bát hương gồm Thổ Hà, long ngai thời Nguyễn, giá văn, hòm sắc...
Đình Đại Phu là một công trình văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần tín ngưỡng, tôn giáo của một cộng đồng làng xã. Trải qua thời gian, ngôi đình đã hội tụ được những giá trị lịch sử, văn hoa, khoa học thẩm mỹ sâu sắc. Trong quá trình hiện hữu, đình Đại Phu đã góp phần đáng kể trong việc bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
* Giá trị lịch sử:
Di tích nằm trong vùng đất có bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng lâu đời. Đình Đại Phu từng là nơi nhân dân về sơ tán. Đây là vùng đất của phủ Quốc với những giai thoại, truyền thuyết phản ánh quá trình đấu tranh, khai phá đất đai của người Việt Cổ để tạo lập xóm làng trù phú. Cụm di tích đình - chùa Đại Phu sẽ trở thành một quần thể di tích hoàn chỉnh của thôn Đại Phu và là bằng chứng cho bề dày và truyền thống văn hóa, lịch sử, phản ánh nét đặc trưng cơ bản của văn hóa vùng đồng bằng Bắc bộ. Đây chính là tiền đề quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Không những thế di tích còn để lại dấu ấn đậm nét trong trong quá trình hình thành truyền thống lịch sử của quê hương Liệp Tuyết.
* Giá trị về kiến trúc nghệ thuật:
Đình Đại Phu là công trình kiến trúc nghệ thuật mới được phục dựng. Với các hạng mục kiến trúc như hiện nay vẫn bảo lưu được phong cách kiến trúc truyền thống. Đó là các bộ vì làm theo kiểu "Thượng giá chiêng chồng rường, kẻ ngồi, trung hạ kẻ bẩy" trên trên sáu hàng chân cột, hai bộ vì gian chái được làm theo kiểu "Thượng ván mê, hạ kẻ xố".
Hệ thống di vật của di tích phong phú và đa dạng như long ngai bài vị, bát hương gốm Thổ Hà có niên đại thế kỷ XVIII, hoành phi, câu đối, cùng các đạo sắc phong... Những di vật ở đây không những có giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật mà còn trở lên linh thiêng hơn cho di tích.
* Giá trị văn hóa - khoa học:
Có thể nói rằng, đình Đại Phu, xã Kiều Phú là một trong những điểm hội tụ tỏa sáng tâm linh của dân làng. Hiện nay những di tích như đình, chùa...
là minh chứng cho quá trình phát triển, văn hóa tinh thần của vùng đất này.
Việc phụng thờ ba vị đại Vương là Triều Lang, Thần Lang và Gia Lang còn thể hiện ở tục lệ từ xa xưa, hàng năm cứ vào ngày 10 tháng 7 âm lịch, dân làng Đại Phu lại tổ chức lễ hội, để tưởng nhớ tới công ơn của đức thành hoàng và giáo dục con cháu truyền thống đánh giặc giữ nước và xây dựng quê hương.
Đây cũng là nơi nhân dân thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần đã che chở, âm phù cho dân làng được bình yên. Đó cũng là cách mà các thế hệ đi trước giáo dục lòng nhân đức, truyền thống uống nước nhớ nguồn cho các thế hệ mai sau.