Tọa lạc tại Tổ dân phố số 3 Đình Quán, phường Phú Diễn, thành phố Hà Nội (cách trung tâm Thủ đô khoảng 12km về phía Tây), Đình Đình Quán là một di tích cổ kính mang giá trị lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật đặc sắc. Nơi đây không chỉ là không gian sinh hoạt tâm linh của cộng đồng cư dân làng Đình Quán xưa mà còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa quý giá của vùng đất ven sông Nhuệ.
Đình Quán là vùng đất cổ có tục danh nôm là Kẻ Diễn – tên gọi dân dã có từ trước thời Bắc thuộc. Tên gọi "Đình Quán" xuất hiện vào khoảng thời Lê Trung Hưng (đầu thế kỷ XVIII). Theo truyền thuyết địa phương, khi Hoàng thân Trạc Quận công công đức xây dựng ngôi đình cho làng, do dân cư thưa thớt và còn nghèo nên ban đầu đình được gọi là Đình Quan, về sau đọc chệch thành Đình Quán và trở thành tên làng cho đến ngày nay.
Đình được Hoàng thân Trạc Quận công khởi dựng vào đầu thế kỷ XVIII dưới thời Lê Trung Hưng. Trải qua gần 300 năm tồn tại với nhiều lần tu sửa dưới thời Nguyễn (tiêu biểu như đợt sửa Đại đình năm 1889 và trùng tu Cung cấm năm 1925), ngôi đình vẫn giữ vững được quy mô kiến trúc bề thế cùng sức sống bền bỉ qua các thời kỳ lịch sử.
Đình Đình Quán có điểm độc đáo trong đời sống tâm linh khi phụng thờ hai nhân vật lịch sử - thần thoại quan trọng:
· Đức Thành hoàng làng Bạch Hạc Tam Giang (Thổ Lệnh Đào Trường): Vị danh tướng thời Hùng Vương thứ 18, người có công chỉ huy thủy quân đánh tan quân xâm lược, giữ yên bờ cõi đất nước Văn Lang và được phong làm Thổ Lệnh Thống Quốc Đại Vương. Ngài là biểu tượng cho tinh thần chống ngoại xâm và nguồn gốc Tiên Rồng của dân tộc.
· Vị Hậu thần - Hoàng thân Thái Bảo Trạc Quận công (Thân Ý): Người con của vua Lê, quê ở Đình Quán, lúc sinh thời có nhiều ân nghĩa, công lao đóng góp cho dân làng và ngôi đình. Sự tích và quy lệ phụng thờ ông được chính vua Lê Hiển Tông soạn bài ký khắc trên tấm bia đá "Hậu thần bi ký" dựng năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756).
Đình Đình Quán nằm trên khu đất cao ráo, thoáng rộng, quay hướng Nam, phía trước có hồ nước rộng bó vỉa gạch tạo nên cảnh quan sơn thủy hài hòa.
· Bố cục chính gồm: tòa Đại đình và Cung cấm.
o Tòa Đại đình: Gồm 5 gian xây gạch kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta mũi nhô gợn sóng. Bờ nóc đắp đôi rồng lớn chầu mặt trời lửa. Bộ khung gỗ gồm 6 vì kèo vững chắc, nâng đỡ bởi hệ thống cột cái lớn và cột quân. Các bức cốn hai vì giữa chạm khắc tinh xảo đề tài rồng mây, rồng lá, Tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng).
o Cung cấm: Gồm 3 gian chạy dọc nối liền với Đại đình, nơi đặt hương án, long ngai và bài vị thờ thần. Các con rồng và vì kèo tại Cung cấm được chạm đục hình các linh thú (hổ phù, chim phượng) cùng hoa văn mây lá rất sinh động.
· Các công trình phụ trợ: Ngoài phần kiến trúc chính, đình còn có nhà Tả mạc 4 gian cùng hệ thống sân vườn, ao đình tạo nên một quần thể kiến trúc đình làng đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Trải qua nhiều biến động, đình Đình Quán hiện vẫn bảo lưu được một sưu tập hiện vật vô cùng phong phú và đa dạng:
· Bia đá cổ: Gồm 3 tấm bia đá, nổi bật nhất là bia "Hậu thần bi ký" dựng năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756) do chính tay vua Lê Hiển Tông soạn văn bia.
· Đồ tự khí phong phú: Bộ ngai bài vị, tượng Phỗng gỗ, kiệu thờ, bức cửa võng chạm thủng rồng chầu mặt trời, chóe sứ men trắng hoa lam thế kỷ XIX, chiêng đồng, cùng bộ bát bửu, quán tẩy sơn son thếp vàng lộng lẫy.
Không chỉ là di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật giá trị, đình Đình Quán còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa, giáo dục truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" của cộng đồng địa phương. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đình từng là trụ sở truyền bá chữ Quốc ngữ, nơi tổ chức các lớp Bình dân học vụ diệt giặc dốt theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Hằng năm, lễ hội đình Đình Quán được tổ chức trang trọng với các nghi thức tế lễ truyền thống, rước kiệu, cùng nhiều trò chơi dân gian như đánh cờ, chọi gà, hát cửa đình... thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương về tham dự.