chùa An Hạ
Giới thiệu
Chùa An Hạ tọa lạc tại thôn An Hạ, xã An Khánh, thành phố Hà Nội (Trước đây, thuộc thôn An Hạ, xã An Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũ). Từ thủ đô Hà Nội, thị xã Hà Đông cũ theo quốc lộ số 72A - Hà Đông - Quốc Oai, đi khoảng 9 km, gần tới đê Thanh Quang, ngay bên đường, rẽ tay phải đi khoảng 500–600 m là tới chùa An Hạ.
Chùa An Hạ có tên chữ là “An Lạc Tự”. Nhân dân địa phương và quanh vùng quen gọi di tích theo tên làng, đó là chùa An Hạ.
Chùa An Hạ được xây dựng ở phía tây nam của làng, ngay cạnh đình làng.
Chùa An Hạ (An Lạc Tự) được xây dựng từ lâu đời để thờ Phật theo phái Đại Thừa. Chùa được xây dựng gần đình, trở thành một quần thể kiến trúc, sinh hoạt văn hóa và lễ hội của nhân dân địa phương. Từ cổ xưa, người dân theo đạo Phật có thể ra đình rồi lại vào chùa rất thuận tiện.
Chùa An Hạ là loại di tích kiến trúc tôn giáo. Chùa An Hạ là một công trình kiến trúc cổ với hạng mục chùa chính được xây dựng theo kiểu chữ đinh (T). Ngoài hệ thống chùa chính có bái đường và thượng điện, chùa An Hạ còn có nhà tổ, nhà khách, nhà ở của sư ni. Chùa được xây dựng đứng nhìn về hướng Tây, phía trước và hai bên chùa có khoảng không gian rộng rãi là vườn chùa, ao và sân chùa, có hệ thống cây xanh râm mát.
Nhìn tổng thể, đây là một công trình được tu bổ lớn vào thời Nguyễn. Tòa Bái đường được xây dựng dài 9,60 m, rộng 5,80 m, được chia làm ba gian. Cấu trúc kiến trúc vì kèo theo kiểu chồng rường kẻ bẩy. Về điêu khắc, nghệ nhân xưa lại chú trọng vào việc tập trung cho các chi tiết kẻ bẩy với các họa tiết dân gian quen thuộc như lá lật, lá ngô đồng. Nội thất chùa còn tập trung vào các bức cửa võng. Chùa An Hạ có hai bức cửa võng lớn, một bức ở gian giữa bái đường, một bức ở giữa thượng điện. Đề tài chủ yếu khi trang trí các bức cửa võng này là: “Tứ linh” và “Tứ quý”. Cả hai bức cửa võng đều được chạm nổi bằng gỗ, sơn son thếp vàng. Ngoài hai bức cửa võng, chùa còn một bức hoành phi lớn chạm nổi ba chữ Hán “An Lạc Tự”, nghĩa là chùa An Lạc - chữ trong kinh bổn của nhà Phật với khát vọng yên vui. Về xây dựng, nhìn tổng thể, bái đường được xây dựng bền chắc, hai đầu xây bít đốc, có khung bảng và đầu hiên xây hai cột trụ vuông vức. Trên cột trụ đắp nổi đèn lồng, rồng phượng, gờ chỉ… nay đã phủ rêu phong. Trên mái bái đường đắp nổi bờ nóc và lợp ngói ri cổ.
Tiếp với bái đường là tòa thượng điện. Thượng điện dài 7,50 m, rộng 5,10 m và cũng được chia làm ba gian. Về kiến trúc cũng như nhiều ngôi chùa làng khác, tòa thượng điện được người xưa xây dựng với tường gạch kiên cố, trên mái lợp ngói ri cổ. Sự điêu khắc tập trung vào hệ thống các lớp tượng.
Người Việt Nam quan niệm chùa là một đơn vị kinh tế độc lập, vì vậy người xưa đã quy hoạch ở nơi đây ngoài hệ thống chùa chính còn có các hạng mục công trình khác phục vụ cho nhà chùa như nhà tổ, nhà khách, nhà ở của sư ni. Cổng chùa được xây dựng theo kiểu cổ, đắp nổi 4 trụ, các họa tiết trang trí vân triện, câu đối ca ngợi cảnh Phật, cảnh chùa… Vì vậy, nhìn từ đường làng vào hoặc nhìn từ đình sang, du khách thấy hiện lên bóng dáng của một công trình cổ.
Chùa An Hạ còn lưu giữ một số di vật, đó là: 42 pho tượng, 4 bát hương, 8 mâm, 1 chuông, 1 chiêng, 1 mõ, 6 cây nến gỗ, 1 cỗ ngai, 4 lọ lục bình, 2 cửa võng, 3 đôi câu đối, 2 ống cắm hương gỗ.
Trước cửa chùa có một tấm bia đá ghi công người đã hưng công cung tiến khu ruộng trước cửa chùa. Ngày nay, khách đến thăm qua cổng chùa, vào sân nhà tổ cũng có cửa vào chùa chính.
Chùa An Hạ, nhìn tổng thể, các lớp tượng ở đây đều được tạc vào thời hậu Lê (thế kỷ XVI–XVII). Thượng điện gồm 4 lớp tượng chính. Trên cùng là 3 pho Tam Thế. Tượng được tạc bằng gỗ cao 0,96 m. Cả ba pho tượng đều được tạc ngồi trên tòa sen có kích thước khá giống nhau, với vai tượng 0,34 m, ngang đầu gối 0,57 m. Người xưa đã tạc những pho tượng này với vẻ đẹp được quy định theo kinh bổn: đỉnh đầu để lộ nhục khiếu, tóc xoắn, tai và tay dài, tay để theo thế định ấn. Cả ba pho đều được sơn son thếp vàng, còn rất nguyên vẹn, quần áo với những nếp mềm mại, tự nhiên được tạc liền vào thân tượng.
Lớp thứ hai: Chính giữa là pho tượng A Di Đà. Đây là một pho tượng bằng gỗ có kích thước lớn nhất so với các pho tượng ở thượng điện. Tượng được tạc cao 1,19 m, ngang vai 0,39 m, ngang đầu gối 0,60 m. Người xưa miêu tả tượng A Di Đà ngồi, mắt nhìn xuống chúng sinh, ngực có chữ “Vạn”.
Theo giáo lý nhà Phật, A Di Đà Phật nghĩa là vô lượng thọ (sống lâu vô cùng). Hai bên cạnh A Di Đà là tượng nhị bồ tát được tạc ngồi trên tòa sen. Hai pho tượng được tạc với kích thước giống nhau: cao 1,17 m, ngang vai 0,38 m, ngang đầu gối 0,56 m. Có thể nói đây là hai pho tượng vừa cân đối về hình dáng vừa có nét đẹp về thể khối. Đầu tượng đội mũ kim Phật, nét mặt hiền hậu, tay nâng báu vật. Cả hai pho đều được tạc bằng gỗ, sơn son thếp vàng.
Lớp thứ 3 gồm ba pho tượng. Chính giữa là tượng Ngọc Hoàng. Tượng được tạc quần áo liền vào thân theo kiểu triều phục. Hai bên tượng Ngọc Hoàng là tượng Nam Tào và Bắc Đẩu, mỗi pho đều được tạc cao 1,02 m.
Lớp thứ tư ở tòa thượng điện. Chính giữa là tượng Thích Ca sơ sinh, hai bên có tượng Thánh tăng và Long thần. Tượng Cửu long được tạc Thích Ca sơ sinh đứng dưới vòm bốn con rồng đang phun nước. Bên cạnh những thân rồng là tượng các chư Phật, chư tiên, thiên nữ, nhã nhạc, kim cương… cộng lại có tới 18 pho tượng nhỏ mà chính giữa là Thích Ca sơ sinh một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất. Đây là một tòa cửu long đẹp còn khá hoàn chỉnh. Bên cạnh tòa cửu long có tượng Thánh tăng và Long thần. Mỗi pho đều được tạc cao 0,91 m, vai tượng 0,33 m, ngang đầu gối 0,43 m.
Ở nhà Bái đường có hai nhóm tượng chính là Thổ địa và Thánh tăng, tượng Khuyến thiện và tượng Ác. Hai pho tượng này do người xưa đắp bằng đất, tượng thế. Mỗi pho cao 2,54 m. Nghệ thuật điêu khắc, đắp vẽ nhìn chung rất sinh động, hài hòa.
Chùa An Hạ - An Lạc Tự là một ngôi chùa của một làng quê được xây dựng từ lâu đời, có đầy đủ hệ thống tượng Phật ở chùa chính. Ngoài hệ thống tượng Phật chính nói trên, chùa An Hạ còn có nhà tổ với hệ thống tượng mẫu bia hậu để ghi nhớ công lao của những người đã hưng công tu bổ chùa từ xưa đến nay.
Chùa An Hạ được xếp hạng Di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 2233-QĐ/BT ngày 26/6/1995 của Bộ Văn hóa - Thông tin vào năm 1995.



