Thôn Nghĩa Lộ có hai làng (còn gọi là miền): làng An Định và làng Thọ Vực. Các di tích lịch sử văn hóa của làng, trong đó có ngọn chùa thường được gọi theo tên làng: chùa An Định. Ngoài ra chùa còn được gọi là chùa Nghĩa Dưới. Chùa có tên chữ là Bảo An Tự.
An Định cùng với Thọ Vực là hai miền của thôn Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, Hà Tây. Đây là miền đất thuộc xã Nghĩa Lộ, tổng La Nội, phủ Hoài Đức, Hà Đông trước 1945. Sau cách mạng tháng Tám, các xã Do Lộ, Hòa Bình của tổng Phú Lãm, huyện Thanh Oai và Nghĩa Lộ, Yên Lộ của tổng La Nội, phủ Hoài Đức đã được đặt làm xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Từ 1965, Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Tây, 1975 thuộc Hà Sơn Bình. Năm 1979 chuyển về Hà Nội, đến 1991 lại thuộc về Hà Tây. Yên Nghĩa là một trong 22 xã của huyện Hoài Đức, nằm ở phía Nam huyện, tiếp giáp với huyện Thanh Oai. Năm 1965, theo Quyết định số 103/NQ-TVQII ngày 21/4/1965, sát nhập 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây thì An Định cùng với Thọ Vực thuộc tỉnh Hà Tây.
Năm 1976, sát nhập 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thì thôn An Định thuộc huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Sơn Bình.
Năm 1991, tỉnh Hà Sơn Bình được tách ra làm 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thì An Định cùng với Thọ Vực là hai làng lại thuộc huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũ nằm trong vùng đất cổ vốn nổi tiếng với nhiều danh lam cổ tích từ xưa trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay thôn An Định vẫn giữ được một ngôi đình có kiến trúc nghệ thuật đẹp. Ngôi đình ấy được gọi là đình An Định, ngoài ra đình không còn tên gọi nào khác.
Ngày 01 tháng 08 năm 2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây sát nhập với thành phố Hà Nội, thành phố Hà Đông Tỉnh Hà Tây được nhập về thủ đô Hà Nội. Ngày 08 tháng 05 năm 2009, Chính phủ ra nghị quyết thành lập quận Hà Đông trực thuộc thủ đô Hà Nội trên cơ sở toàn bộ diện tích, dân số của thành phố Hà Đông và thành lập 7 phường: Biên Giang, Đồng Mai, Dương Nội, Kiến Hưng, Phú Lãm, Phú Lương, Yên Nghĩa trên cơ sở 7 xã có tên tương ứng. Từ đó, Hà Đông trở thành quận nội thành thứ 10 của thủ đô, gồm 17 phường trực thuộc.
Ngày 01 tháng 07 năm 2025 quận Hà Đông giải thể để thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, không tổ chức cấp huyện. Phường Đồng Mai sát nhập với phường Yên Nghĩa lấy tên là phường Yên Nghĩa.
Ngày 1 tháng 7 năm 2025 tổ dân phố 5-6 (làng An Định) phường Yên Nghĩa cũ có tên thành tổ dân phố 5-6 phường Yên Nghĩa.
Ngày 1 tháng 7 năm 2026 tổ dân phố 5-6 phường Yên Nghĩa ( làng An Định) sáp nhập với nhau tổ dân phố gồm TDP An Định lấy tên thành Tổ dân phố An Định - phường Yên Nghĩa. Tên gọi An Định đúng với tên gọi làng cũ trước đây.
Miền An Định có lịch sử hình thành phát triển từ rất lâu đời. Nằm ven dòng sông Hát Giang cổ, vùng tự cư lập làng của người Việt cổ từ thời kỳ dựng nước đầu tiên. Cùng với việc tự cư, hệ thống kiến trúc tôn giáo làng xã truyền thống chắc cũng sớm được xây dựng để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng dân cư làng xã và bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Hệ thống tín ngưỡng thờ thần thành hoàng làng của An Định cũng giống như các làng xã lân cận xung quanh. Các vị thành hoàng làng được thờ ở vùng này hầu hết là các vị thần của buổi đầu thời Hùng Vương dựng nước và giữ nước, các vị tướng lĩnh tài ba của cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc ở thế kỷ I: cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
Bên cạnh đó, hệ thống chùa thờ Phật cũng được xây dựng. Phật giáo, với lịch sử xuất hiện ở Ấn Độ từ thế kỷ V trước công nguyên, đã được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ở những năm đầu thiên niên kỷ I và ngày một phát triển rộng rãi. Ngôi chùa ra đời, tồn tại cùng các làng xã, là nơi gửi gắm tâm linh của mọi người dân trong cộng đồng luôn hướng về điều thiện. Đồng thời nó cũng ghi nhận những đóng góp của các thiện nam tín nữ trong cộng đồng vào việc xây dựng tu bổ ngọn chùa làng. Ngọn chùa là nơi thực hiện mỗi nghi lễ tôn giáo của dân làng miền An Định, là nơi thực hiện với mục đích dùng giáo lý của Đạo Phật, đức Phật từ bi khuyến thiện, trừng ác, giáo dục lòng nhân nghĩa cho con người "Thương người như thể thương thân".
Căn cứ vào những tư liệu Hán Nôm còn lưu lại trong di tích và những tư liệu văn hóa vật chất của nó, có thể nói: Chùa Bảo An đã được xây dựng từ xa xưa. Trong quá trình tồn tại, chùa được trùng tu sửa chữa nhiều lần. Đến thời Nguyễn, quy mô chùa đã gần như hiện nay. Lần trùng tu lớn chùa Bảo An được thực hiện vào năm 1930 - 1931 triều vua Bảo Đại. Kế tiếp cho tới hiện nay, chùa Bảo An vẫn luôn được sửa chữa, bảo trì nhằm giữ gìn lâu dài cho di tích.
Chùa Bảo An miền An Định là một quần thể kiến trúc hoàn chỉnh trong một khuôn viên rộng lớn, khép kín với um tùm các cây lưu niên cổ thụ: nhãn, muỗm, bưởi, thị, ngọc lan... Các hạng mục công trình hiện nay gồm có: cổng tam quan, chùa chính, điện mẫu, nhà tổ và các công trình phụ trợ khác.
Đối diện với điện mẫu, ở về phía bên kia sân chùa là một ngôi nhà dọc 5 gian. Đây là nơi thờ các sư tổ của chùa. Ngôi nhà này cũng được xây dựng tường hồi bít đốc, với các cột trụ biểu làm tay ngai. Ngôi nhà tổ mới được trùng tu xây dựng gần đây, đã sử dụng những dạng nguyên vật liệu mới như: xi măng, sắt thép, cửa ô hoa sắt.
Cũng như nhiều ngôi chùa làng khác, chùa Bảo An miền An Định có các hạng mục công trình với kiến trúc được làm thiên về bền chắc, hầu hết được bào trơn đóng bén. Sự trang trí điêu khắc trên kiến trúc rất hiếm hoi. Đôi chỗ trên các con rường được chạm hoa lá lật cách điệu. Ở hai đầu xà hàng cột hiên chùa chính chạm hai đầu rồng với phong cách chạm khắc của thế kỷ XIX. Đầu rồng có trán nhô, mũi nở, mắt lồi, vây tóc đua ra sau. Các bức tường lửng, các cột trụ biểu được đắp vẽ các đề tài trang trí bằng vôi vữa.
Hầu hết những điêu khắc nghệ thuật trong chùa được tập trung vào hệ thống tượng tròn. Hệ thống tượng tròn chùa Bảo An, kể cả tượng mẫu và tượng Phật có số lượng hơn 30 pho với các kích thước tạo tác và niên điểm ra đời khác nhau. Có thể nói những pho tượng có thời gian tạo tác sớm có quy mô nhỏ hơn. Đó là pho tượng Phật Di Lặc đặt ở điện mẫu. Bộ Di Đà tam tôn có thời điểm ra đời ở thế kỷ XVIII, hoặc ba bệ tòa sen ở điện mẫu. Hầu hết những pho còn lại được ra đời ở thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
Thượng điện là một ngôi nhà dọc 3 gian nối với tiền đường ở gian giữa. Các bộ vì tam bảo có kết cấu dạng chồng rường con nhị, hạ kẻ kẻ tương tự bộ vì tiền đường. Hàng cột hiên đã được thay bằng tường xây. Các lá mái chùa chính lợp ngói ri mũi nhọn, bản mỏng. Bờ hồi, bờ nóc đắp bờ đinh. Các đầu hồi bờ nóc có dấu.
Sát liền tường sau tiền đường và ở khoảng giữa hai hàng cột xây của tam bảo được xây các bệ gạch cao dần từ ngoài vào làm nơi tọa lạc của các pho tượng Phật trong Phật điện.
Điện mẫu chùa Bảo An đặt về phía bên phải sân phía trước nhà tiền đường. Điện mẫu là ngôi nhà dọc 5 gian tường hồi bít đốc tay ngai. 3 gian giữa là nơi thờ tự gian buồng phía phải nối liền với bếp- công trình phụ khuất sau đầu hồi tiền đường. Gian buồng phía ngoài làm kho cất giữ. Sát mẫu có kết cấu đơn giản kiểu vì kèo quá giang. Các cột hiên được xây tròn. Các lá mái lợp ngói ri bản mỏng. Các cửa hình chữ nhật kiểu bản lề. Ở 3 gian giữa được xây bệ gạch cao để làm bệ thờ.
Trong khuôn viên của di tích chùa Bảo An, ngoài chùa ra còn có di tích văn chỉ và nhà lưu niệm những người con đã hy sinh cho quê hương An Định. Văn chỉ làng nằm ngay cạnh ngôi giếng cổ của làng. Ở những thế kỷ trước, văn chỉ được xây khang trang, có mái cong, trong đặt bia đá. Nhưng hiện nay văn chỉ chỉ còn là một bia thờ lộ thiên cùng với tấm bia đá nhỏ. Trên bia đá ghi rõ 3 vị tiên hiền của làng đã đỗ tiến sĩ ở thời Lê - thời kỳ của nền văn hiến phục hưng và thịnh vượng.
Từ giếng làng và bia văn chỉ nhìn sang phía phải đường làng là ngôi nhà 8 gian lưu niệm từ các bậc tiên hiền xưa tới các người con của quê hương có công với nước đã hy sinh. Đây là sự trân trọng đã được giữ gìn trong tình cảm làng quê An Định.
Trải qua nhiều năm tháng từ khi xuất hiện và tồn tại đến nay, với mục đích khuyến thiện, trừng ác, từ bi, bác ái chùa Bảo An gắn liền với cảnh sắc quê hương, với lịch sử làng quê qua các thời kỳ. Đây là một trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương, đồng thời cũng là một trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng làng xã. Nó mang đầy nét truyền thống văn hóa dân tộc, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần giáo dục các thế hệ về truyền thống dựng nước và giữ nước.
Hệ thống tượng tròn cùng các di vật khác trong chùa, chưa phải là độc đáo và chất lượng, về số lượng chưa nhiều, song đây là những pho tượng được tạo tác tỉ mỉ, chau chuốt, thể hiện được tài năng kỹ xảo của các nghệ nhân xưa.
Các pho tượng được ra đời trong những giai đoạn lịch sử nghệ thuật khác nhau. Tuy vậy chúng vẫn thống nhất trong những nét khái quát chung, bổ sung hỗ trợ nhau thể hiện được mục đích chung. Đồng thời mỗi pho lại có một vẻ đẹp riêng, tính cách riêng cho từng nhân vật.
Di tích chùa Bảo An là nơi bảo lưu truyền thống, là nơi giao lưu văn hóa truyền thống giữa các làng xã, góp phần tăng cường sự đoàn kết của cộng đồng cư dân, là nơi giáo dục những điều tốt đẹp cho các thế hệ mai hậu.