HanoiGo

Di tích lịch sử
Chùa Đặng Giang
★ 5,0 · 100 đánh giá
•
Đã đóng
Mở lại 8:00 mai
···
Miễn phí
Miễn phí
GIỚI THIỆU VỀ DI TÍCH CHÙA ĐẶNG GIANG (CỔ LOA TỰ)
Thôn Đặng Giang, xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội
 
Kính chào quý khách!
Xin mời quý khách cùng đến với một di tích lịch sử văn hóa tôn giáo của thôn Đặng Giang, xã Hòa Xá - chùa Đặng Giang
Ngôi Chùa ra đời trước hết là một sản phẩm văn hoá làng, gắn với làng và là một di sản vô giá do tiền nhân để lại, vẻ tôn nghiêm, tịch mịch, thể hiện ở nơi chùa toạ lạc, ở kết cấu kiến trúc, hệ thống tượng tròn trên Phật điện và các mảng chạm khắc tinh xảo trên các bộ vì mang đậm nét văn hoá dân tộc truyền thống.
Chùa Đặng Giang nằm nép mình trong không gian thanh tịnh, nơi đây không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng tôn nghiêm của người dân địa phương mà còn là điểm đến tâm linh mang đậm nét văn hóa truyền thống Phật giáo. Bước qua cánh cổng chùa, bỏ lại sau lưng những ồn ào của cuộc sống hàng ngày, quý vị sẽ đến với không gian thanh tịnh với tiếng chuông chùa ngân vang quyện cùng mùi hương trầm thoang thoảng giúp tâm trí trở nên nhẹ nhàng, buông xả mọi muộn phiền. Đến với kiến trúc truyền thống, nơi lưu giữ những nét đẹp nghệ thuật Phật giáo, mang lại cảm giác gần gũi, trang nghiêm và hoài cổ, tận hưởng cảm giác an lạc với những mảng xanh hiền hòa, tĩnh mịch tại chùa Đặng Giang, xã Hòa Xá. Đây là nơi lý tưởng để dạo bước, thiền định và cảm nhận từng nhịp thở của hiện tại, dưỡng tâm để hướng tới cuộc sống an lạc, thanh bình. Chàu được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa theo Quyết định số 2004/QĐ-UBND ngày 03/7/2008 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ).
Tên chùa Đặng Giang gắn liền với tên thôn là chùa Đặng Giang, ngoài ra chùa còn có tên chữ là Cổ Loa Tự 古螺寺 
Ngôi chùa toạ lạc gần ngôi đền Thượng tại thôn Đặng Giang, xã Hoà Xá, quay về hướng Tây trên một thế đất đẹp. Hướng của chùa quay về hướng Tây, đặt hướng chùa như vậy, các bậc tiền nhân mong muốn đức Phật từ bị nhìn chúng sinh trong làng, ban cho điều lành, ngăn ngừa điều ác, hướng con người làm nhiều điều thiện, hành nhân.
Chùa Đặng Giang cách thành phố Hà Nội khoảng 50km về phía Tây nam, cách xã Vân Đình khoảng 10km về phía Tây bắc, tới di tích bằng phương tiện đường bộ rất thuận tiện.
Đi từ thành phố Hà Nội theo đường quốc lộ 6 đến ngã ba Ba La thì rẽ trái vào quốc lộ 21B qua phố Bình Đà đến ngã tư Vân Đình đi về hướng Tế Tiêu đến đến cây số 38 quốc lộ 21B là tới thôn Đặng Giang. Từ đây rẽ vào làng khoảng vài trăm mét là tới di tích.
Cùng với ngôi đình, ngôi đền. Chùa Cổ Loa góp phần trở thành một trong những công trình công cộng quan trọng nhất ở đây và đạo Phật đã cùng tồn tại với những bước thăng trầm của lịch sử người Việt dùng giáo lý nhà Phật, đức Phật từ bi để khuyến thiện, trừng ác, giáo dục lòng nhân nghĩa cho con người. Đây cũng là nơi giới thiệu và phát huy truyền thống lao động sáng tạo của tổ tiên cho thế hệ hôm nay và mai sau
Chùa Đặng Giang trước ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của cộng đồng nhân dân thôn Đặng Giang. Những trí thức làng quê, những lão làng, hương ước và cả những nhà kiến trúc vô danh, suốt bao nhiêu đời nay, không hề liên hệ, thảo luận với nhau, cũng không có tài liệu nào khảo sát có sẵn mà nhất trí để ngôi chùa làng mình toạ lạc ở một nơi xứng đáng. Xứng đáng với cả không gian, thời gian và hơn nữa, thế hệ các bậc tiến nhân đã dày công tôn tạo tu sửa để ngôi chùa có những nét độc đáo riêng. Chùa Đặng Giang là một kiến trúc Phật giáo thờ Phật theo phái Đại thừa, xét theo giá trị nổi bật là di tích kiến trúc nghệ thuật dạng Chùa.
I. KHẢO TẢ DI TÍCH
Chùa Đặng Giang cũng như các ngôi chùa khác được dựng trên một thế đất đẹp nhất làng. Và xung quanh ngôi chùa là nơi có nhiều cỏ cây hoa lá, có nhiều cây cổ thụ và nhiều khi là cả một vườn thuốc... Đến chùa vãn cảnh lễ Phật, tự nhiên tình cảm con người như được bồi dưỡng, nâng cao, cũng hợp với khuynh hướng sống của nhà chùa là xa nơi trần tục. Trải qua thời gian, các nhà sư, khách thập phương đã và đang bồi đắp cho cảnh quan chùa, đẹp hơn và thanh u hơn.
Chùa Đặng Giang được hưng công khởi dựng từ khi nào không rõ, nhưng căn cứ vào thượng lương tại Tiền đường còn ghi: Hoàng triều Thành Thái thập nhị niên, tuế tại Canh Tý, bát nguyệt nhị thập nhất nhật Canh Dần tu bổ. Có nghĩa là: Triều vua Thành Thái thứ 12 (1900), năm Canh Tý, ngày Canh Dần tháng 8 tu bổ. Như vậy, so với thời gian trước khi tu bổ, chắc chắn ngôi chùa Đặng Giang ít nhất tồn tại đến nay đã vài trăm năm.
Hạng mục đầu tiên khi vào đất Phật phải qua Tam quan. Tam quan có ý nghĩa ba điều là: Nhìn, Xem và Quan sát (Không quan- nhìn vào sự vật, thật ra cái gì cũng là không, Đà quan - sự vật gì cũng có sự biến hoá, có đủ cả, cái gì cũng là có: Trung quan - không phải là không mà cũng không phải là có. Nó là giữa, vừa có vừa không, con đường đi vào đất Phật là đi vào cái chân thật ấy).
Tam quan chùa Đặng Giang được làm theo kiểu tam môn, gồm một cửa chính và hai cửa phụ, hai cửa phụ còn gọi là tả môn và hữu môn, làm theo kiểu cửa cuốn vòm, phần trên là bốn mái đao cong cách điệu từ lá lật, chính giữa nóc là hình ảnh một mặt trời. Tại cửa chính, phần trên chia làm hai tầng với tám mái dán ngói ống, phần cổ diêm đắp ba chữ Hán: 普濟門 Phố Tế Môn. Nối các cửa với nhau là hệ thống tường lửng với bốn trụ biểu đăng đối nhau. Tại cửa chính còn đôi câu đối có nội dung như sau:
 Chữ Hán:
登廣門心誠念善
入佳景志信思惟
Phiên âm:
Đăng quảng môn tâm thành niệm thiện
Nhập giai cảnh chí tín tư duy
Tạm dịch:
Qua cửa rộng này phải thành tâm, niệm thiện
Vào cảnh đẹp phải chí tín tư duy
Qua khoảng sân nhỏ vào chùa chính. Chùa chính được làm theo kiểu chữ Đinh bao gồm Tiền đường và Thượng điện, ngoài ra còn có các hạng mục công trình khác như nhà khách, nhà tổ, hệ thống sân vườn... Qua năm bậc vào Tiền đường.
Tiền đường chùa Đặng Giang là một ngôi nhà ngang gồm ba gian hai chái kiểu tường xây, hồi bít đốc. Mặt trước, hệ thống cửa làm theo kiểu "Thượng song hạ bản" tạo vẻ thông thoáng cho di tích. Nhìn phía trên, bờ nóc bờ chảy đắp bờ đinh, hai đầu bờ nóc đắp hai đầu đinh. Hai trụ biểu đăng đối hai bên gian chái, đỉnh trụ là búp sen với ý nghĩa đem đến sự trong sáng, thanh tịnh, tiếp đến là ô lồng đèn rồng, thân trụ soi gờ kẻ chỉ và để trơn. Vào bên trong, các bộ vì được làm theo hai kiểu thức khác nhau. Bốn bộ vì ba gian giữa có kết.
Các bộ vì đỡ mái được làm theo hai kiểu khác nhau, bốn bộ vì giữa làm kiểu "Thượng chồng rường, hạ chống rường, kẻ hiện"trên mặt bằng bốn hàng chân cột. Nối hai đầu cột cái là câu đầu to khoẻ, trên lưng câu đầu đỡ các con rường đỡ các hoành thượng và đội thượng lương qua đấu kẻ hình thuyền. Các rường cụt, một đầu ăn mộng vào thân cột cái, đầu kia vương ra đỡ các hoành hạ, kẻ hiên ăn mộng vào thân cột quân, đầu kia vươn ra hàng cột hiên đỡ các hoành và tàu mái. Hai bộ vì gian hồi làm kiểu vì kèo truyền thống. Các bộ vì thượng, vì hạ còn được liên kết với nhau bởi các xà thượng xà hạ chạy dọc năm gian nhà.
 
Gian giữa Tiền đường dành cho việc cúng lễ, hai bên cạnh đặt hai ông tượng Hộ pháp (Khuyến thiện và Trừng ác). Đây là hai vị thần canh gác và bảo vệ Phật, ông Thiện ở bên phải, ông Ác ở bên trái.
 Bên cạnh là bàn thờ đặt tượng Thánh tăng và Đức Ông. Tượng Đức Ông ngồi buông chân trên bệ, dưới dạng một ông quan văn đội mũ cách chuồn, mặt đỏ, nặng tính tượng trưng. Bàn thờ của Ngài thường được đặt ở bên trái nơi các khách hành hương cần phải tiếp cận trước khi vào lễ Phật, vì phải đi theo chiều quay chữ Vạn nhằm tinh tấn thiện căn. Lễ trước ban thờ ngài như một hình thức "xin phép" (kính bảo) trước khi tiếp cận với chư Phật và Bồ Tát. Tượng Thánh Tăng được đặt đối xứng với bàn thờ Đức Ông, ở phía bên phải toà Tiền đường, với hình tượng một nhà sư đội mũ Tỳ lư thất Phật, cũng thường ngồi buông chân, tay trái cầm chén nước cam lồ, tay phải trong tư thế thuyết pháp cứu độ.
 
 
 
 
 
Nối từ gian giữa Tiến đường vào là bốn gian Thượng điện được làm kiểu nhà dọc bít đốc. Phía dưới xây gạch giật cấp cao dần về phía sau là nơi toạ lạc của hệ thống tượng Phật.
* Vị trí cao nhất là bộ tượng Tam Thế gồm ba pho có kích thước và tạo dáng tương tự nhau. Tam Thế gọi một cách đầy đủ là "Tam Thế thường trụ điệu pháp thân" hay "Tam Thế Tam Thiên Phật”. Tượng được tạo tác trong thế ngồi âm dương lộ bàn chân phải trên đùi trái, tay kết định ấn đặt ngửa trên lòng đùi. Sọ tượng nở, mặt đầy đặn, cân phân. Huyệt vô kiến đỉnh được làm nổi cao. Tai to chảy dài, các cụm tóc vấn dày, kết hạt nhỏ. Áo tượng hai lớp, lớp trong kết múi trước bụng, la bào cánh sen khoác ngoài. Đài sen gồm hai lớp cánh ngừa, cánh sen đơn, to, dày, mũi nhọn.
* Lớp thứ hai là tượng A di đà. Đây là pho tượng lớn nhất tại thượng điện. Tượng có u nhục kháo nổi cao, giữa đỉnh là huyệt vô kiến được thể hiện dưới dạng xoắn ốc. Mặt tượng tròn đầy đặn, cằm xệ, dái tai to chảy dài. Tượng ngồi kiết già trên đài sen, hai tay kết định ấn đặt ngửa trong lòng đùi. Áo tượng ba lớp thả mềm mại. Bên cạnh là pho pho Quan âm toạ sơn. Quan Âm Toạ Sơn nhằm nói lên đức từ bì của Ngài đối với chúng sinh.
* Lớp thứ ba là tượng Thích ca niệm hoa trong tư thế ngồi kiết già trên đài sen, tay trái đặt ngửa trên lòng đùi, tay phải cầm đoá hoa sen giơ cao ngang mặt, cổ đeo tràng hạt, khuôn mặt bầu bĩnh, mắt khép hờ nhìn xuống, tai to, dái tai chảy dài, mái tóc dày xoắn hình ốc. Áo khoác ngoài chùng buông, áo khoác trong thắt múi trước bụng. Bệ sen ba lớp cánh ngửa, cánh sen đơn, mập. Hai bên là hai pho Ana và Ca diếp.
* Lớp thứ 4 là tượng Quan âm chuẩn đề, tượng được tạo tác ngồi kiết già trên đài sen (tượng còn có tên gọi là Thiên Thủ Thiên Nhân). Tượng Quan âm chuẩn để gồm 10 đôi tay, đôi tay chính kết ấn chuẩn đề, một đôi tay khác kết định ấn đặt ngửa trên lòng đùi, một đôi tay đặt trên gối, 7 đôi tay khác toả đều ra hai bên kết các thế ấn khác nhau và cấm pháp bảo nhà Phật. Tượng có ngực nở, mặt tròn, mất khép hờ nhìn xuống, miệng phảng phất nụ cười cứu độ, cổ cao ba ngấn, dái tai chảy dài, đầu đội mũ thiên quan, vành mũ cao có cần lưỡng long chầu nguyệt, lửa tam muội. Áo tượng hai lớp, lớp trong thắt múi trước bụng, lớp ngoài cà sa cánh sen thả mềm mại. Hai bên là tượng Nam tào và Bắc dấu.
* Lớp thứ 5 là tượng Ngọc Hoàngđược tạc trong tư thế ngồi trên bệ nhị cấp. Đầu đội mũ bình thiên, hai tay cầm hốt chỉ, chân đi hia mình mặc áo long cổn có cẩn rồng, mây, hổ phù, áo có đai trước bụng, các nếp áo rủ mềm.
* Lớp thứ 6 là toà Cửu long, chạm theo kiểu vòm cầu, trong vòm cầu có những tầng mây xoắn có 9 con rồng nhỏ đầu phun nước tắm cho Thích Ca sơ sinh. Thích Ca sơ sinh đứng trên toà sen, ngực để trấn, mặc váy, tay phải chỉ đất, tay trái chỉ trời theo tích của nhà Phật. Tượng Thích Ca sơ sinh không đơn giản chỉ để nói về sự xuất thế của một Thánh nhân, mà hầu như ở đó còn là một lời tuyên ngôn gắn với Phật đạo. Phật tích ghi rằng khi Thích Ca vừa lọt lòng bà mẹ trần gian, Ngài bước đi bẩy bước trên bảy bông sen (con số 7 là số nhiều của văn hoá ấn Độ và Đông Nam Á, ý nghĩa này nhằm nói lên Đức Phật bước vào toàn cõi vũ trụ và đem hạnh phúc đến cho muôn vạn chúng sinh đau khổ), rồi Ngài chỉ tay trái lên trời, tay phải xuống đất mà nói câu: Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn" (trên trời dưới đã chỉ có ta là cao quý hơn cả). Tại nhà Tổ còn có pho tượng Tổ và nhiều đồ tế tự khác.
 
 
 
II. CÁC DI VẬT TRONG DI TÍCH
Chùa Đặng Giang còn lưu giữ được một số di vật quý, khẳng định tôn vinh văn hoá truyền thống và cung cấp cho ta biết trình độ mỹ thuật, hội hoạ, kiến trúc qua các thời kỳ lịch sử:
- 01 quả chuông đồng. Cù lao chuông được làm theo kiểu hai con rồng đấu đuôi vào nhau để gồng sức nặng của quả chuông, thân chuông có các đường gờ nổi chạy dọc, ngang chia làm tám khoang, điểm cắt nhau của các đường gờ này được làm thành bốn núm đánh hình tròn nổi có cánh hoa chạy vòng quanh, phía trên có đúc nổi bốn chữ đại tự tên của chùa. Trên bốn khoang của quả chuông có bài minh về lai lịch xây dựng chùa và tên các nhà hảo tâm đã công đức cho việc xây chùa và đúc chuông. Chuông được treo tại gác chuông nhà tổ và có niên đại vào thời Lê.
- 01 cửa võng.
- 02 đôi lọ lục bình
- 03 bát hương.
- 01 mâm bồng.
- 03 dài nước gỗ.
- 02 cây nến đồng.
- 02 ống hương gỗ.
- 01 mâm bống bằng đồng khác...
Ngoài ra chùa còn lưu giữ trên gần 20 pho tượng cùng một số đồ thờ khác.
III. LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
Chùa Đặng Giang ra đời nhằm thoả mãn nhu cầu văn hóa tâm linh của nhân dân địa phương, mọi người cầu mong những điều tốt lành cho sức khoẻ con người, thuận hòa cho cây trồng và vật nuôi, cầu mong đời sống xã hội bình đẳng, công bằng và những điều chân, thiện, mỹ. Nhân dân đến chùa cầu Phật, lễ bái thường lấy những ngày âm lịch theo tiết mặt trăng. Cứ vào ngày đầu tháng, ngày trăng tròn mọi người đều sắm sửa lễ vật lên chùa lễ Phật với mong muốn rằng xuất phát điểm của một tháng làm một điều thiện theo lời Phật dạy mọi công việc sẽ xuôi dòng thuận ý. Ngoài các ngày tuần tiết trong năm, thì những ngày lễ vía Phật Di Lặc; lễ Thượng Nguyên và đặc biệt là lễ vía ngày sinh nhật của Phật gọi là ngày Phật Đản. Lễ Phật Đản là một ngày hội lớn, ở nước ta, từ thời Lý, Trấn, Phật Đản là ngày Quốc lễ. Ban ngày có tắm Phật và phóng sinh, ban đêm có lễ Phóng Đăng rất náo nhiệt. Trải qua các triều đại về sau thì không được xem là Quốc lễ nữa, nhưng ở các làng quê vẫn tiếp tục thực hành ngày hội này. Ngày 15 tháng 7, lễ Vu Lan (thuật ngữ này ra đời từ kinh Vu Lan Bồn- Ullambana) nên gọi là lễ báo hiếu. Ở nhiều kinh Phật, quan trọng nhất là kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân, đã nhắc nhủ con người phải biết báo ân cha mẹ “có hai việc làm cho phàm phu được công đức lớn, được quả báo lớn, đó là phụng sự cha và phụng sự mẹ". Do đó mà lễ Vu Lan, cũng gọi là lễ báo hiếu được tổ chức trọng thể cầu nguyện cho cha mẹ, ông bà được siêu độ. Vào những ngày lễ này, mọi người đến chùa bằng các lễ vật chay tịnh: hương hoa, oản quả và những vật phẩm nhà nông tùy theo từng mùa, thắp một nén tâm hương, xin một chút lộc chùa rồi trở về nhà với sự tĩnh tâm, thanh tịnh. Nhà chùa dâng lễ cúng Phật, dâng sở, tụng kinh, cúng Tổ, giảng giải các tích kinh Phật cho Phật tử nghe. Các Phật tử tin vào những điều mà họ cầu mong, hay những việc thiện mà mình đã làm cho các vong hồn. Đó cũng là một động lực thúc đẩy, động viên chính bản thân họ làm ăn, học tập, công tác. Ngoài các nghi thức tín ngưỡng, ở chùa Đặng Giang không có hiện tượng mê tín dị đoan. Các vãi già và nhà sư trụ trì trông nom chùa, kính Phật, đoàn kết, nhiệt tình phục vụ khách tham quan và nhân dân đến chùa lễ Phật, cũng như chiêm bái, nghiên cứu di tích.
IV. GIÁ TRỊ KHOA HỌC - LỊCH SỬ - VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT CỦA DI TÍCH
Chùa Đặng Giang ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tình thần tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng làng xã. Chùa có giá trị nhiều mặt của một kiến trúc Phật giáo truyền thống và có một vị trí đáng kể trong kho tàng di sản văn hóa của quê hương. Điêu khắc nghệ thuật trong chùa được tập trung biểu hiện qua hệ thống tượng trên Phật điện. Tượng chùa đều được tạo tác công phu, tỉ mỉ vì, có giá trị thẩm mỹ cao và xứng đáng là những tác phẩm điêu khắc nghệ thuật ở thế kỷ XIX - XX. Mỗi pho tượng ở đây đều mang những vẻ đẹp riêng, đặc trưng cho thời kỳ tạo tác ra chúng, đồng thời mỗi pho tượng lại mang những nét khái quát đặc trưng riêng, tiêu biểu cho từng nhân vật cụ thể. Trong suốt thời gian tồn tại của mình, chùa Đặng Giang đã góp phần đáng kể trong việc bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và di dưỡng lòng nhân ái, tình yêu quê hương đồng loại cho nhân dân địa phương. Trong cuộc sống hiện tại, vai trò của di tích vẫn được bảo tồn.
Chùa Đặng Giang, thôn Đặng Giang, xã Hòa Xá luôn dang rộng vòng tay chào đón quý khác thập phương và Nhân dân về chiêm bái. Nơi đây, mỗi nén nhang thắp lên sẽ là một lời cầu nguyện cho gia đạo bình an, mỗi bước chân chánh niệm là một lần chạm đến sự tự tại. Trân trọng kính mời quý Phật tử và du khách thập phương cùng cất bước quy hướng về Chùa Đặng Giang để cùng lễ Phật, vãn cảnh và gieo duyên lành./.
 
Mẹo từ An:
Biết trước khi đi
Vé & miễn giảm
Miễn phí
Cổng chính
Thôn Đặng Giang
Du khách nói gì
5,0
★★★★★
100 đánh giá Google
HanoiGo
Cổng du lịch chính thức của Hà Nội — điểm đến, ẩm thực, sự kiện và lưu trú trong một nơi.
Khám phá
Điểm đến
Ẩm thực
Sự kiện
Lưu trú
Hỗ trợ
Trò chuyện với An
Hotline: 0904910585
Cơ quan
UBND thành phố Hà Nội
Điều khoản sử dụng
© 2026 HanoiGo · UBND thành phố Hà Nội