chùa Cả
Giới thiệu
Chùa Cả thuộc thôn Vân Lũng, xã An Khánh, thành phố Hà Nội. Chùa Cả cổ kính thờ Thánh Pháp Vân, một vị thần trong hệ thống Tứ Pháp gồm: Pháp Vân – thần Mây; Pháp Vũ – thần Mưa; Pháp Lôi – thần Sấm; Pháp Điện – thần Chớp. Đây là những vị thần tự nhiên thuộc tín ngưỡng bản địa của người Việt, có vai trò phù trợ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước. Mây, mưa, sấm và chớp mang đến nguồn nước, giúp cây cối và muôn loài sinh sôi, phát triển. Vì vậy, người Việt cổ suy tôn các vị thần này là những vị phúc thần.
Bên cạnh việc thờ Thánh Pháp Vân, Chùa Cả còn thờ Phật. Chùa còn bảo tồn nhiều tư liệu và hiện vật liên quan đến việc thờ Tứ Pháp như chuông đồng, khánh đồng, bia ký, ngọc phả, sắc phong và những đôi câu đối chữ Hán ca ngợi cảnh đẹp của chùa, đồng thời ghi chép sự tích về các vị Thánh Tứ Pháp.
Theo câu chuyện được ghi trong hồ sơ, khoảng hai nghìn năm trước, tại chùa Linh Quang, tức chùa Phật Tích ở Tiên Sơn ngày nay, có nhà sư Khâu Đà La đến lập am truyền đạo. Bên kia sông Đuống, tại làng Mãn Xá, gần sông Dâu, có vợ chồng ông bà Tu Định sống hiền lành, đức độ. Hai ông bà sinh được một người con gái, đặt tên là Man Nương. Khi Man Nương lên 12 tuổi, cha mẹ gửi nàng đến theo học nhà sư Khâu Đà La.
Một hôm, sau khi hành pháp trở về, Khâu Đà La thấy Man Nương đang ngủ trước cửa phòng. Vì không muốn đánh thức nàng, nhà sư bước qua người nàng để vào phòng. Sau đó, Man Nương mang thai. Nhà sư giải thích đây là kết quả của sự “nhân thiên hợp khí”, không phải chuyện dung tục của người đời.
Man Nương mang thai 14 tháng. Đến ngày 8 tháng 4, nàng sinh một người con gái. Do lo sợ sự chê cười của người đời, cha mẹ Man Nương yêu cầu nàng mang đứa trẻ đến giao lại cho Khâu Đà La. Khâu Đà La đem đứa trẻ đến một cây dung cổ thụ, gõ vào thân cây và đọc một bài kệ. Thân cây bỗng nứt làm đôi. Nhà sư đặt đứa trẻ vào trong, cây liền khép lại và nở hoa. Trước khi chia tay, Khâu Đà La trao cho Man Nương một cây gậy, dặn rằng khi gặp hạn hán, nàng chỉ cần cắm gậy xuống đất và cầu nguyện thì sẽ có nước. Theo sự tích, khi Man Nương làm theo lời dặn, từ mặt đất quả nhiên chảy ra một dòng nước ngọt.
Đến năm Giáp Tý, cây dung cổ thụ bị bão đánh đổ, trôi theo dòng nước về phía sông Dâu rồi dừng lại. Dân làng huy động trai tráng kéo cây vào bờ nhưng không thể kéo được. Khi Man Nương ra sông, cây bỗng nổi bập bềnh. Nàng lấy dải yếm buộc vào cây và kéo, cây liền theo sóng vào bờ. Sau khi vớt được cây, dân làng cưa thân cây thành bốn khúc và tạc thành bốn pho tượng. Khi làm lễ xin duệ hiệu, những hiện tượng tự nhiên lần lượt xuất hiện:
Pho tượng thứ nhất xuất hiện mây ngũ sắc, được đặt tên là Pháp Vân, thờ tại chùa Thiền Định – Diên Ứng, tức chùa Dâu.
Pho tượng thứ hai xuất hiện mưa, được đặt tên là Pháp Vũ, thờ tại chùa Thành Đạo, tức chùa Đậu.
Pho tượng thứ ba xuất hiện sấm, được đặt tên là Pháp Lôi, thờ tại chùa Phi Tướng, tức chùa Tướng.
Pho tượng cuối cùng xuất hiện chớp, được đặt tên là Pháp Điện, thờ tại chùa Phương Quan, tức chùa Dàn.
Từ đó, hằng năm vào ngày mồng 8 tháng 4, các chùa trong vùng Dâu, Kinh Bắc tổ chức lễ hội. Trong dân gian còn lưu truyền câu:
“Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.”
Khu trong gồm thượng điện và nhà vuông, tức tiền tế, được bố trí theo kiểu chữ Nhị. Khu ngoài có ngôi Tam bảo làm theo kiểu chữ Đinh, phần phía trước là đại bái, phần phía sau thờ Phật. Ngoài các công trình chính, trong khuôn viên chùa còn có nhà Tổ, nhà Ni và một số công trình phụ trợ. Xung quanh là vườn trồng cây lâu năm, cây cảnh và ao hồ chứa nước.
Thượng điện là công trình kiến trúc cổ kính nhất còn bảo tồn tại Chùa Cả. Mặt bằng thượng điện có dạng hình vuông. Ba phía được xây tường gồm phía hậu và hai đầu hồi. Mặt trước để thông thoáng, không làm cửa bao chắn, thuận tiện cho việc đi lại khi vào hậu điện lễ Thánh. Mái thượng điện lợp ngói mũi. Trên mái còn lưu giữ một số viên ngói mũi hài cổ có chiều dài khoảng 30 cm, rộng 20 cm và phần mũi dày khoảng 5 cm. Sau nhiều lần tu sửa, một phần ngói cổ thời Lê bị vỡ và được thay bằng loại ngói mỏng, nhỏ hơn. Phần mái có hai đầu đao cong, tạo dáng mềm mại. Trên đầu đao có con kìm và đầu rồng được đắp bằng vôi vữa trộn với giấy dó và mật. Lớp rêu phong trên mái góp phần tạo nên vẻ cổ kính cho công trình. Khung thượng điện gồm ba hàng cột chính, mỗi hàng bốn cột, đường kính khoảng 55 cm. Hai hàng cột giữa được dân làng gọi là tứ trụ. Các hàng cột liên kết với nhau bằng hệ thống xà ngang, xà dọc và các bộ vì kèo trên mái. Chân cột đặt trên các tảng đá xanh và đá sa thạch được đẽo gọt thành hình vuông, hình bát giác hoặc hình tròn. Thượng điện là công trình kiến trúc nghệ thuật thuộc thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVII. Một số nhà nghiên cứu bước đầu nhận định công trình được làm vào năm Hoằng Định, năm 1613.
Các cấu kiện kiến trúc được chạm khắc nhiều hình tượng và hoa văn như rồng, mây, hoa lá, hình người, võ sĩ đánh hổ và tiên nữ cưỡi rồng. Những đầu rồng có đặc điểm miệng há rộng ngậm ngọc, bờm vuốt nhọn về phía sau, mắt lồi tròn. Hồ sơ đánh giá: Đây là những đặc điểm tiêu biểu của nghệ thuật chạm khắc thời Lê.
Một tác phẩm được mô tả là hình ảnh võ sĩ lực lưỡng đang chiến đấu với hổ. Một tác phẩm khác thể hiện tiên nữ cưỡi rồng bay trên những tầng mây. Hồ sơ nhận định các tác phẩm này phản ánh trình độ thẩm mỹ và kỹ thuật chạm khắc tinh tế của người xưa.
Trong hậu điện có khám thờ đặt pho tượng Pháp Vân Bồ Tát. Khám thờ có dạng hình vuông. Phía trước làm cửa võng, chạm những họa tiết như mặt hổ phù, rồng, ngựa và chữ triện. Phía trên cửa võng là hình mặt trăng tròn tỏa sáng, hai bên có rồng chầu. Pho tượng Pháp Vân Bồ Tát được đặt ở giữa khám. Tượng ở tư thế ngồi, hai chân khoanh tròn tạo thế lưỡng nghi âm – dương. Khuôn mặt tượng bầu bĩnh, hiền hậu; tai lớn, mắt dịu hiền, cổ cao ba ngấn. Tay phải của tượng đưa lên với năm ngón tay chỉ thẳng lên trời, được hồ sơ giải thích là biểu tượng gọi gió, mây và mưa về, đem nước tưới cho cây cối và làm mát muôn loài. Căn cứ vào hình dáng tượng, khuôn mặt và kỹ thuật tạo tác, hồ sơ nhận định pho tượng mang những đặc điểm của nghệ thuật tượng tròn thời Nguyễn.
Trong hậu điện còn đặt hương án, bát hương, chân nến, hạc đồng, hộp và quả đựng sắc phong, thần tích. Những đồ thờ này được hồ sơ xác định chủ yếu làm vào thời Nguyễn.
Nhà vuông nằm phía trước Thượng điện, là nơi chuẩn bị các nghi thức tế lễ. Công trình có ba gian. Gian giữa để trống; hai gian bên dùng để treo chuông đồng và khánh đồng. Hai đầu hồi nhà vuông xây tường gạch. Phía trước và phía sau để thông thoáng. Mái làm hai mái chảy; bờ nóc và bờ hồi xây thẳng. Vì kèo nhà vuông được làm theo kiểu chồng rường con nhị. Hệ thống cột là bộ phận chịu lực chính. Bốn cột chính ở hai vì giữa có đường kính khoảng 35 cm, cao khoảng 320 cm. Chân cột đặt trên những tảng đá được gọt đẽo theo dáng trống đồng, thắt cổ bồng. Xung quanh có 12 cột xây hình vuông, kích thước khoảng 35 cm × 35 cm. Trên các cột gian chính có đắp những đôi câu đối chữ Hán ca ngợi công đức của Thánh và cảnh đẹp của khu vực thờ tự.
Khu chùa phía ngoài được bố trí theo kiểu “tiền Nhất, hậu Đinh”. Phía trước là năm gian tiền đường, phía sau là ba gian hậu Phật. Theo lời kể của các cụ cao niên được hồ sơ ghi lại, ngôi chùa được khởi dựng vào khoảng năm 1450. Đây là nội dung truyền miệng được ghi trong hồ sơ, không phải niên đại được xác định bằng văn bản hiện còn trong những ảnh được cung cấp. Trải qua thời gian dài, công trình bị xuống cấp. Đến thời Tây Sơn, chùa được tu tạo vào năm Cảnh Thịnh thứ bảy, tức năm 1799. Cuối thời Nguyễn, chùa tiếp tục được sửa chữa lớn và hình thành diện mạo còn lại tại thời điểm lập hồ sơ.
Chùa xây gạch bao quanh, hai đầu hồi bít đốc. Mái lợp ngói mũi, bờ nóc và bờ hồi xây thẳng. Phía trước có hai cột trụ vuông, trang trí hình đèn lồng, nghê chầu và những đôi câu đối chữ Hán. Hệ thống vì kèo trong chùa gồm bốn vì chính, làm theo kiểu chồng rường con nhị. Các cấu kiện gỗ được trang trí hoa văn mây, hoa lá, cánh sen, chữ triện và hình rồng. Hồ sơ nhận định công trình mang đặc điểm nghệ thuật thời Tây Sơn, cuối thời Lê, đồng thời có những phần được sửa chữa, bổ sung vào thời Nguyễn. Niên đại Cảnh Thịnh thứ bảy, năm 1799, được ghi trên câu đầu và được coi là mốc niên đại xác định của một lần tu tạo.
Nhà vuông của Chùa Cả còn lưu giữ một quả chuông đồng và một chiếc khánh đồng cổ có giá trị. Quả chuông được đúc vào năm 1613, niên hiệu Hoằng Định. Chuông có đường kính khoảng 73 cm, cao 129 cm và dày khoảng 4 cm. Chuông có dáng khum, các đường gờ và hoa văn rõ nét. Quai chuông đúc hình rồng, thân tròn có vảy, miệng há rộng ngậm viên ngọc. Thân chuông chia thành bốn khuôn, mỗi khuôn lại chia thành hai tầng trang trí. Phần trên thân chuông khắc các bài minh, nêu lý do đúc chuông, tên chùa và năm đúc. Nội dung trên chuông cho biết chùa trước đây có tên là Phúc Lâm Viên, sau đổi thành Đại Bi Tự.
Khánh đồng được đúc vào năm Cảnh Hưng thứ sáu, tức năm 1745. Trên khánh khắc dòng chữ Hán: “Phúc Lâm Viên tự linh bảo khánh”. Khánh cao khoảng 89 cm, dài khoảng 137 cm. Hai mặt khánh chạm nổi hình tứ linh gồm Long, Ly, Quy và Phượng. Hồ sơ đánh giá đây là một chiếc khánh cổ độc đáo tại Hà Tây. Phần số liệu ghi độ dày của khánh trong tài liệu là 0,02 cm. Con số này được chép theo đúng nội dung nhìn thấy trong ảnh, nhưng có thể cần đối chiếu lại bản gốc.
Chùa Cả còn bảo tồn nhiều pho tượng cổ thuộc thế kỷ XVII và XVIII. Các pho tượng được đánh giá có giá trị nghệ thuật cao, tạo thành một “bảo tàng mỹ thuật thu nhỏ”. Trong các trang ảnh được cung cấp có nhắc đến pho tượng Phật Bà Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, nhưng phần mô tả cụ thể pho tượng nằm ở những trang không có trong bộ ảnh, vì vậy không thể viết lại đầy đủ. Ngoài tượng thờ, chùa còn có nhiều đồ thờ như sập, hương án, bát hương, ống hương, đỉnh đồng, chân nến và các đồ thờ nhỏ khác.
Chùa Cả là một công trình có giá trị về lịch sử, tín ngưỡng, kiến trúc và mỹ thuật. Các pho tượng thời Lê, những tác phẩm chạm khắc trên kiến trúc, chuông đồng, khánh đồng, sắc phong, thần tích, bia ký và đồ thờ tạo nên một hệ thống di sản phong phú. Mỗi pho tượng được xem là một tác phẩm điêu khắc có kỹ thuật và phong cách riêng. Hồ sơ còn nhận định có những tác phẩm quý hiếm, ít gặp tại những di tích khác.
Chùa Cả đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 460/QĐ/BT ngày 18/3/1996 của Bộ Văn hóa - Thông tin.



