Chùa Đông Lao tọa lạc tại thôn Đông Lao, xã An Khánh, thành phố Hà Nội. Chùa có tên chữ là “ĐẠI BI TỰ”. Nhân dân địa phương và quanh vùng quen gọi là chùa Bi hoặc chùa Đồng Lao.
Chùa Đại Bi là một ngôi chùa cổ, được xây dựng ở phía Đông - Nam của làng, phía trong đê sông Đáy để thờ Phật theo phái Đại Thừa.
Chùa Đại Bi được xây dựng ở phía tây nam của làng. Chùa nhìn về hướng Tây. Trước cửa chùa có một cổng Tam quan, được xây dựng theo kiểu chồng diêm hai đầu tám mái với các đầu đao cong vút. Ở cổ diêm phía mặt tiền có ba chữ đại tự “ĐẠI BI TỰ”. Trên tam quan treo một quả chuông lớn, có sàn và cầu thang đi lên để thỉnh chuông.
Qua cổng tam quan là đến sân chùa. Ở sân chùa có một “Thạch trụ thiên hương”. Thạch trụ được tạc bằng đá xanh, cao 1,8 m, được chia làm ba phần: đế hoa sen, thân bốn mặt vuông vức chạm hoa văn và khắc bài minh, đỉnh trụ là một bông hoa lớn để thắp hương. Thạch trụ được làm vào năm Chính Hòa thứ hai (1681) bằng đá xanh mua ở Đông Triều mang về.
Chùa Đại Bi, phần kiến trúc chính để thờ Phật được làm theo kiểu chữ Công (J) gồm tòa Bái đường, Trung cung và Thượng điện. Bái đường gồm 5 gian 2 dĩ. Phía trước có hàng cột hiên bằng đá xanh, xẻ vuông vức. Nghệ nhân đã tạc đá khá công phu: chân cột có bồng, thượng thu hạ thách, trên có đấu. Tất cả liền một khối.
Tòa Bái đường được xây đầu hồi bít đốc, có hai cột trụ, đắp nổi đèn lồng, các họa tiết “Tứ linh” và đỉnh trụ là chim phượng. Với hệ thống cột trụ và hàng cột hiên bằng đá, nhìn bên ngoài chùa đã thấy khang trang.
Cấu trúc vì kèo tòa Bái đường được làm theo kiểu giá chiêng - tiền kẻ, hậu bẩy. Chùa có không gian nội thất khá thoáng rộng, hệ thống cột cái khá cao 4,8 m. Ở câu đầu, các cốn - nơi tiếp giáp bái đường với trung cung, người xưa đều chạm nổi “Tứ linh” (Long, Ly, Quy, Phượng). Nội thất bái đường cũng được trang điểm bằng hệ thống hoành phi, câu đối, cửa võng sơn son thếp vàng rất lộng lẫy.
Cửa võng ở gian giữa được chạm trổ khá công phu, với các đề tài “Lưỡng long chầu nguyệt” và hoa lá cách điệu. Chính giữa cửa võng chạm nổi dòng chữ tên chùa “ĐẠI BI TỰ”.
Với hệ thống kẻ góc, Trung cung là hạng mục kiến trúc nối liền Bái đường và Thượng điện. Ở Trung cung và Thượng điện, người xưa đã dùng gỗ tứ thiết để xây dựng, kỹ thuật thiên về bền chắc, bào trơn đóng bén. Ở một số chi tiết con rường có chạm nổi hoa văn hoa lá cách điệu. Nghệ thuật điêu khắc tập trung vào việc tạc tượng.
Sau chùa chính là nhà hậu Phật. Nhà hậu Phật được xây dựng ba gian hai dĩ, kiến trúc theo hướng chùa chính. Đối với các chùa khác, nhà hậu Phật thường thờ các vị để hậu hoặc là tượng hậu, bia hậu. Nhà hậu Phật chùa Đại Bi Đồng Lao được giành riêng thờ Tướng công Nguyễn Công Triều. Gian chính giữa có một sập thờ bằng đá xanh, cao khoảng 30 cm, chạm trổ hoa lá, trên sập thờ bài trí tam sự, thất sự và bệ đá hoa sen với tượng chân dung Nguyễn Công Triều đã nói ở phần trên. Tại đây, trước cửa ra vào đề ba chữ “Bất du nhân”. Câu này ý nói làm điều đức lớn không nên coi thường. Gian giữa có hai câu đối bài trí ở khu vực thờ tướng công Nguyễn Công Triều:
Thiết thạch nhất tâm lưu chính khí
Vương hầu vạn cổ hoán anh thanh
Dịch:
Sắt đá một lòng bền chính nghĩa
Vương hầu muôn thuở tiếng thanh cao
Trước cửa án thờ có câu:
Bồ tát hiện chân hình tướng tướng huân lao thủy vũ trụ
Danh lam truyền cổ tích hầu vương cảnh thắng dật ân ba
Dịch:
Bồ tát hiện chân dung giúp nước an dân vang bờ cõi
Thiên nhiên in dấu cựu hầu vương cảnh quý đượm ơn sâu
Gian bên trái có một tấm bia trụ 4 mặt ca ngợi công lao của Nguyễn Công Triều, ghi lại tấm lòng của dân muốn thờ ông tại nhà hậu Phật và ý kiến cảm tạ của tướng công với thịnh tình của dân. Bia dựng năm Chính Hòa thứ hai (1681).
Nhìn chung, nội thất nhà hậu Phật được bài trí trang nghiêm, các chất liệu quý và sang trọng, có giá trị lớn về tư liệu và mỹ thuật, đó là bia trụ tượng đá với bệ đá hoa sen, sập đá. Hoành phi câu đối đều được sơn mài thếp vàng rực rỡ. Sự bài trí này vừa đẹp vừa trang nghiêm.
Một sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ: Từ năm 1944 - 1945, chùa Đại Bi là cơ sở hoạt động của Xứ ủy Bắc Kỳ. Xứ ủy đã đặt điện đài tại chùa Đại Bi để liên lạc và hoạt động. Nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và xứ ủy đã về làm việc tại đây. Hiện chùa còn dấu tích hầm bí mật. Các cuộc hội thảo về lịch sử địa phương vẫn đề cập đến vị trí, ý nghĩa lịch sử tại chùa này.
Trước năm Chính Hòa thứ 2 (1681), chùa là nơi thờ Phật. Từ năm Chính Hòa thứ hai, nhân dân Đồng Lao thấy công đức của tướng công Nguyễn Công Triều rất lớn với dân với nước, nên đã có lời thỉnh cầu tới tướng công. Nhân năm đó, Nguyễn Công Triều bỏ tiền ra tu sửa. Văn bia nhà hậu đường có đoạn: “...có một điều lo lắng nghĩ xa về sau, ngày qua tháng lại, gió táp mưa sa, lâu ngày trở thành biến dạng, Tướng công xuất tiền mua vật liệu, làm hàng rào sửa sang, trồng cây gây rừng, mua trồng những cây gỗ quý... Trong chùa đứng vàng ngọc 10 tượng, quần thể Phật thành xếp đặt quy mô thành lễ luật, thay cũ đổi mới trong làng xóm những khuôn khổ, phép tắc. Tướng công có tấm lòng muốn khuyên dân quan tâm phụng Phật để cầu phúc. Duy còn một cách lập đền thờ (sống) sau nhà hậu Phật cùng hướng thanh trừ, phổ hiền hương hoa mãi mãi để báo ơn. Tướng công lượng thấy tình cảm của dân như vậy, lắng lặng ít lâu sau xin với nhân dân và nói rằng: Dân quý lập nhiều nơi để thờ tôi kham sao nổi? Các cụ già cao tuổi thưa rằng: “Có công mà thờ phụng là đúng từ xưa tới nay.”
Vẫn theo nguồn tư liệu văn bia nói trên, vào những năm tiếp theo của Triều Lê Chính Hòa, dân làng Đồng Lao đã nhận được sự trợ giúp tiền, ruộng của tướng công Nguyễn Công Triều, đã xây dựng thêm nhà hậu Phật sau chùa Đại Bi để thờ phụng Nguyễn Công Triều và tấm niệm ông là Bồ tát hiện hình. Người xưa đã ra Đông Triều (Quảng Ninh) mua đá xanh về tạc tượng chân dung Nguyễn Công Triều, lập bia trụ bốn mặt, lập thạch trụ thiên hương ở sân chùa. Các di vật này hiện nay còn đầy đủ.
Và như vậy, từ năm đó, chùa Đại Bi được kiến trúc theo kiểu tiền Phật hậu Thần. Lịch sử chùa Đại Bi được xây dựng từ thời Trần, năm 1681 lại được xây dựng thêm nhà hậu Phật.
Về bài trí, thượng điện chùa Đại Bi hiện nay gồm các lớp tượng:
Trên cùng thượng điện là ba pho Tam thế. Cả ba pho đều được tạc bằng gỗ sơn son thếp vàng ngồi trên tòa sen. Lớp thứ hai, chính giữa là pho Quan âm Thiên Thủ. Đây là một pho tượng gỗ, sơn son thếp vàng, gồm 12 cánh tay. Mỗi bàn tay Phật cầm một báu vật: ngọc lưu ly, bông hoa sen. Phật được tạc ngồi liền trên tòa sen bằng gỗ cũng được chạm trổ và sơn thếp. Hai bên tượng Quan Âm Thiên Thủ có tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí được tạc đứng, mỗi pho cao 1,30 m. Lớp thứ ba là tượng Thích Ca giáo chủ. Tượng được tạc đứng, tay phải giơ lên như đang thuyết giảng. Tượng cao 1,05 m. Lớp thứ tư là tượng Ngọc Hoàng. Tượng mặc triều phục, đội mũ bình thiên. Lớp thứ năm, ở giữa là tòa Cửu Long, hai bên có tượng Nam Tào và Bắc Đẩu. Lớp cuối là hai tượng Mục Liên và Địa Tạng.
Ở Thượng điện, hai bên hành lang còn có các tượng Tuyết Sơn - mô tả Phật Thích ca đang tu khổ hạnh ở núi Tuyết (Himalaya). Đây là một trong những pho tượng được tạo dáng và điêu khắc đẹp của Đại Bi Tự. Tiếp đó có tượng Long Thần, các tượng Quan Âm và Bồ Tát. Hành lang Thượng điện chùa Đại Bi còn có hai dãy Thập điện diêm vương (Tần Quảng Minh Vương, Tống Đế Minh Vương, Sở Giang Minh Vương...)
Nhà Bái đường có tượng Khuyến thiện, Trừng ác, tượng Thổ địa và Thánh tăng.
Trong chùa có một sưu tập tượng đá. Đó là tượng hậu, cao trung bình 60–80 cm. Đây là những pho tượng rất cổ, mang phong cách dân gian đậm nét, được tạc bằng đá.
Điều đáng lưu ý ở đây: Các pho tượng ở Thượng điện phần lớn đều được tạc bằng gỗ (mộc), được sơn son thếp vàng lộng lẫy, được điêu khắc công phu: áo quần được tạc liền vào thân tượng, các tòa sen với những cánh sen, lớp cánh rất đều đặn. Đó là dấu tích nghệ thuật thế kỷ XVII.
Đặc biệt, ở nhà hậu đường có một pho tượng quý: Tượng chân dung Nguyễn Công Triều bằng đá xanh. Tượng cao 1,82 m cả bệ. Chân dung tướng công Nguyễn Công Triều được tạc lúc này khoảng 68 tuổi (1614 - 1681). Ông có sức vóc to lớn, nét mặt hồn hậu, rạng rỡ nhưng cương nghị. Nghệ nhân đã tả thực miệng, mũi, gò má của tướng công có những đường khối rõ và đôi mắt tinh nhanh, rõ ràng không phải theo lối tạc tượng Phật mang tính ước lệ. Tướng công ngồi theo lối tọa thiền, tay phải đặt lên đầu gối, tay trái để ngửa ra như đang bấm tính một việc gì đó. Tượng tạc hiền trang phục triều phục bằng đá, sau đó phủ vải sơn son thếp vàng. Toàn bộ thân tượng, tòa sen và bệ tượng được tạc bằng đá liền một khối. Với pho tượng tướng quân Nguyễn Công Triều ở nhà hậu Phật, chùa Đại Bi Đồng Lao, cổ nhân đã bài trí theo kiểu “Tiền Phật hậu Thần”.
Chùa Đông Lao (Chùa Đại Bi) đã được xếp hạng là Di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 1460-QĐ/VH ngày 28/6/1996 của Bộ Văn hóa - Thông tin.