Chùa Đông Trù (Quan Âm tự)
Chùa Đông Trù hay tên chữ gọi là "Bảo Tháp tự", chùa được xây dựng vào khoảng thời Hậu Lê (1428 - 1789). Cùng thời gian với ngôi đình làng. Chùa được trùng tu lần gần đây vào năm 1998. Căn cứ các di vật đồ thờ còn lưu giữ ở di tích, có cơ sở để khẳng định ngôi chùa ra đời khá sớm, đã tồn tại tới vài trăm năm. Các di vật của chùa như các pho tượng niên đại thế kỷ XVIII, chuông Cảnh Thịnh và nhất là cây hương đá từ thời Chính Hòa, cho thấy chùa ra đời ít nhất cũng từ thời Hậu Lê (1428-1789). Năm 2022 - 2023, tổng thể các công trình chùa Đông Trù được trùng tu và giữ nguyên kiến trúc như hiện nay.
Tam quan chùa được thiết kế 2 tầng bằng gỗ, 4 góc uốn đao, bờ nóc trang trí đầu kìm hình lạc long thủy quái, các đầu đao trang trí cụm mây. Tầng dưới được làm 3 gian rộng, để trống phía sau, phía trước lắp cánh cổng, bên trong thiết kế cầu thang lên tầng 2. Tầng 2 được làm hệ thống lan can ở cổ diêm chạy xung quanh, giữa treo chuông lớn của chùa.
Chùa chính có bố cục mặt bằng kiểu chữ "đinh", thiêu hương và thượng điện nhập làm một. Tiền đường được xây 5 gian 2 dĩ, đầu hồi bít đốc tay ngai có trụ biểu, chính giữa nóc chùa đắp nổi tên chữ của chùa trên hình chữ nhật, hai bên trang trí văn triện lá giắt. Có tất cả 6 khung vì, các vì giữa làm đủ mối vì 4 cột theo kiểu 4 hàng chân. Kết cấu kiến trúc chùa làm theo lối chồng xà, kẻ chuyền, tiền kẻ, hậu bẩy. Gian giữa chùa có chống cốn trước sau miêu tả tứ quý. Kẻ phía trước làm tường gối trên hàng cột hiên.
Thượng điện cấu liền với gian giữa của tiền đường, nóc cao bằng, giáp mái làm xối chéo. Trong chùa xây các bệ gạch để bài trí tượng thờ. Chùa hiện có 6 pho của 2 bộ Tam Thế làm tương đối giống nhau, mang phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Chùa có 2 bộ Tam Thế đã từ lâu, sở dĩ có 2 bộ Tam Thế có nguyên do của việc chùa trong, chùa ngoài làng. Pho A Di Đà có niên đại của nghệ thuật thế kỷ XVIII làm bằng gỗ, sơn son thếp vàng, miêu tả kỹ về áo, tóc bụt ốc, vẻ mặt, thế tay, dáng ngồi. Riêng đài sen được sửa muộn hơn. Hai bên có hai pho tượng Bồ Tát có niên đại đầu thế kỷ XIX được miêu tả khác nhau về hình thể, trang trí, có lẽ là 2 tượng của 2 cặp tượng khác nhau. Tượng Di Lặc biểu thị cho sự phồn thịnh, ấm no và thái bình được miêu tả khá đặc sắc: tượng gỗ sơn son thếp vàng của nghệ thuật thế kỷ XVIII. Tượng Ngọc Hoàng được chạm khắc họa tiết hoa văn cầu kỳ trên áo long cổn, mũ, hia. Tòa Cửu Long và tượng Thích Ca sơ sinh. Hai gian của tiền đường bài trí tượng Đức ông - Thánh tăng bằng gỗ sơn son thếp vàng. Hai pho được miêu tả kỹ về kiểu dáng, nét ngồi, vẻ mặt, đặc biệt các họa văn trang trí trên áo khoác rất sống động, chi tiết. Tất cả đều được chế tác vào thế kỷ XIX.
Bên phải chùa là dãy nhà Tổ, nhà vong, nhà khách có 9 gian 2 dĩ, làm kiểu đầu hồi bít đốc tay ngai, ngoảnh hướng Đông trông lên sân chùa và tiền đường. Tượng Tổ có 3 pho làm bằng gỗ sơn thếp vàng của cuối thế kỷ XIX, tưởng niệm về các vị sư chùa đã viên tịch.
Bên trái chùa là nhà Mẫu với 5 gian xây kiểu tường hồi bít đốc, tay ngai có trụ biểu, bên trong xây bệ thờ. Tại điện Mẫu thờ vọng bà Chúa Liễu Hạnh, ngoài đến riêng mang về có tạc tượng bà Chúa và các thị giả đứng hầu. Các pho tượng làm nhỏ, đẹp, mang dấu ấn nghệ thuật thế kỷ XIX.
Bên cạnh tượng pháp, chùa còn một số đồ thờ khá đặc sắc như: Cây hương đá làm năm Chính Hòa thứ 18 (1697) có các hoa văn trang trí thời Hậu Lê được chạm khắc khá đẹp. Cây hương được dựng chính giữa trước tam quan của chùa, có bài văn minh khắc kể về công tích hưng công, quyên cúng cho tu bổ sửa chữa chùa của thập phương, trong đó có việc làm cây hương đá. Một quả chuông lớn được đúc năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800) là niên đại đặc biệt đáng lưu ý. Quả chuông có trang trí rồng cuốn chầu thời Tây Sơn, trong đó có bài minh kể sơ lược về lịch sử của chùa, chùa trước đã có chuông bị mất nên đã hưng công đúc lại. Trên cơ sở nội dung lịch sử ghi trên cây hương và chuông đã cho chúng ta đoán định được niên đại xây dựng chùa từ khá sớm và có quy mô to đẹp. 18 tấm bia đá chủ yếu là bia hậu ghi danh sách những người công đức sửa chùa. Niên đại bia có từ thời Hậu Lê đến Nguyễn, qua đó cho chúng ta biết được chùa đã được nhiều lần trùng tu, tôn tạo. Cũng trong gian nhà hậu đặt các bia hậu có 1 pho tượng hậu của 1 thương gia Hoa kiều đã công đức cho chùa tiền của trong thời gian ông đi lại buôn bán ở địa phương.
Đình chùa Đông Trù được xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia tại Quyết định số 65 QĐ/BT ngày 16/1/1995.