Chùa Du Nội tọa lạc tại thôn Du Nội xã Mai Lâm, nay là thôn Mai Lâm, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội. Vào thời Lý, các thôn Du Ngoại, Du Nội, Du Bi đều nằm trong vùng Hoa Lâm Viên, trong đó thôn Du Nội nằm ở trung tâm ly cung nhà Lý. Từ thời xa xưa chùa có tên gọi là chùa Hoa Lâm, hiện nay gọi là chùa Du Nội hoặc gọi theo tên chữ là “Phúc Lâm tự”. Năm 1957 đê Mai Lâm bị vỡ, dân làng thôn Du Nội đã chuyển chùa Phúc Lâm ở ngoài bãi sông vào trong đê ở vị trí hiện nay. Căn cứ vào một số di vật là lan can sấu đá và chân đá tảng hoa sen chạm khắc hoa văn thời Lý có thể đoán định chùa Du Nội được xây dựng từ thời Lý (1009 - 1025). Dựa vào tấm bia “Hậu Phật văn minh vĩnh tuyền” niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710), tấm bia “Ký kỵ bản thôn” niên hiệu Minh Mệnh thứ 7 (1826) cho biết chùa Phúc Lâm có lịch sử lâu đời và được trùng tu nhiều lần. Chùa được xây dựng trên khu đất rộng và thoáng, quay hướng nam. Chùa có kết cấu kiểu chữ “đinh”. Tiền đường có 3 gian, 2 dĩ, xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, ngói lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bở đinh, chính giữa bờ nóc đắp nổi ba chữ Hán “Phúc Lâm tự” (chùa Phúc Lâm), hai bên đầu hồi đắp hình đấu nắm cơm, bờ dài đắp giật cấp. Hai đầu tường hồi xây vượt khỏi hiên khoảng 1,5m, kết thúc bằng một trụ biểu cao ngang nóc mái. Phía trước tiền đường mở 3 cửa ván bưng. Bộ khung đỡ mái gồm 4 bộ vì kèo làm kiểu vì kèo quá giang. Trang trí kiến trúc đơn giản, gian giữa tiền đường có bức đại tự “Phúc Lâm Thiền tự”, bên dưới có bức cửa võng chạm lưỡng long chầu nguyệt, đầu rồng. Hai gian bên có ban thờ Thánh Tăng và Đức Ông. Thượng điện hai gian chạy dọc nổi với gian giữa tiền đường, tạo thành chữ “đinh”, bộ khung đỡ mái gồm 3 bộ vì có kết cấu kiểu “vì kèo quá giang”. Bên trên treo bức đại tự "Đại hùng bảo điện” (điện thờ Phật). Sát hai bên tường hồi xây bệ cao đặt ban thờ tượng Đế Thích Vương và Phạm Thích Vương. Nhà Mẫu nằm bên phải chùa chính, có 4 gian xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lớp ngói ta, bờ nóc đắp ngói bỏ, bờ dải đắp bở đinh, bộ khung đỡ mái gồm 5 bộ vì làm kiểu vì kèo quá giang, phía trước mở ba cửa ván bưng, 2 bên xây tường kín. Gian giữa có ban thờ Tam tòa thánh mẫu, bên trên treo bức hoành phi: “Mẫu nghi thiên hạ”. Hai bên có đôi câu đối. Gian bên phải thờ chúa Sơn trang, bên trên treo bức hoành phi “Sơn nhạc chung linh”, bên dưới treo bức cửa võng nổi, chạm thủng hình hoa cúc mãn khai, lưỡng long chầu nguyệt. Chính giưa đặt tượng Mẫu thượng ngàn trong khám gỗ, phía trước đặt đồ thờ tự. Gian bên trái thờ đức thánh Trần triều, bên trên treo bức hoành phi “Trần triều hiển thánh”; Bên dưới treo bức cửa võng chạm nổi, chạm thủng hoa cúc mãn khai, lưỡng long chầu nguyệt. Chính giữa đặt tượng đức thánh Trần triều trong khám gỗ, phía trước bày đồ thờ tự. Nhà Tổ 4 gian ở phía sau bên trái chùa, mái đổ trần, hiên rộng khoảng 2m, có 4 hàng chân cột hiên tạo vòm, phía trước mở ba cửa, cửa gian giữa phía bên trên cửa hoa sắt, bên dưới chạm hình hoa mai, hươu, roi, hai gian bên trổ cửa sổ, gian bên phải trổ cửa nách. Gian giữa là ban thờ Tổ, bên trên có bức hoành phi “Tổ ấn trùng quang”, hai bên có câu đối chữ Hán.
Hệ thống tượng Phật tại chùa khá phong phú, mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XX. Tiêu biểu là các pho Tam thế. Di đà, Thiên thủ thiên nhãn, Cửu long Thích ca sơ sinh, tượng Đức ông… Đặc biệt chùa còn lưu giữ được lan can sấu đá thời Lý, miệng thành giếng, chân tảng hoa sen, hệ thống bia đá có niên đại thời Lê đến thời Nguyễn cùng với các di vật đồ thờ như: Đỉnh đồng, bát hương, lục bình gốm men trắng vẽ lam, hương án, ngai thờ, khám thờ cùng nhiều hoành phi câu đối cửa võng, được sơn son thếp vàng đang được bảo quản giữ gìn cẩn thận tại di tích. Chùa Phúc Lâm hàng năm diễn ra các kỳ lễ chính của Phật giáo (theo âm lich). Ví dụ như Rằm tháng Giêng tổ chức lễ Thượng Nguyên, ngày 08/02 lễ vía đức Phật Thích Ca xuất gia, ngày 15/2 âm lịch lễ vía đức phật Thích Ca nhập niết bàn,...Ngoài ý nghĩa thờ Phật, chùa Phúc Lâm còn mang trong mình giá trị về mặt lịch sử quan trọng: ngôi chùa là chứng tích của sự kiện Hoa Lâm Viên quê mẹ Lý Thái Tổ với Bãi Đá Sập, Lý Gia Lăng là một dấu tích lịch sử quan trọng cho việc nghiên cứu tìm hiểu về lịch sử thời Lý cũng như nghiên cứu về lịch sử Thủ đô Thăng Long - Hà Nội.