HanoiGo

Di tích lịch sử & Văn hóa
Chùa Dư Xá Thượng
★ 5,0 · 100 đánh giá
•
Đã đóng
Mở lại 8:00 mai
···
Miễn phí
Miễn phí
GIỚI THIỆU VỀ CÁC DI TÍCH CỦA THÔN DƯ XÁ THƯỢNG
Kính chào quý khách!
Chào mừng quý khách đã dừng chân ghé thăm mảnh đất Dư Xá Thượng - một "viên ngọc quý" nép mình bên triền sông Đáy hiền hòa, thuộc xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội.
Kính thưa quý vị, giữa không gian mướt xanh của những vườn cây và sự tĩnh lặng của dòng sông Đáy hiền hòa, chúng ta như đang ngược dòng thời gian trở về với hàng ngàn năm lịch sử. Dư Xá Thượng không chỉ là một ngôi làng bình yên, mà nơi đây từng là thủ phủ, là trung tâm sinh hoạt văn hóa truyền thống đầy kiêu hãnh của huyện cổ Hoài An xưa. Xin được kể cho quý vị nghe câu chuyện về Cụm di tích Đền - Chùa - Quán Thượng, của thôn Dư Xá Thượng nơi lưu giữ linh hồn, cốt cách và tinh hoa kiến trúc của các triều đại Lê - Nguyễn.
I. Di tích Quán Thượng - (thủ phủ của huyện Hoài An cũ)
Điểm dừng chân đầu tiên, mời quý khách cùng bước vào Quán Thượng - biểu tượng cao nhất về tư tưởng và tâm linh của vùng đất này.
Quán Thượng là di tích có giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, văn hoá: Quán Dư Xá Thượng thờ thần Tản Viên - Quý Minh đại vương, là công thần bậc nhất trời Nam là biểu tượng cao nhất về tư tưởng ở vùng này. Di tích được xây dựng từ lâu đời, đến triều Nguyễn xây dựng lại quy mô to lớn như ngày nay. Nhìn ngoài là công trình kiến trúc cổ dân tộc, phía trong có tiếp thu chọn lọc lối kiến trúc gô tích.
Quán Thượng thôn Dư Xá Thượng, xã Hoà Xá là thủ phủ của huyện Hoài An (cũ) thuộc loại di tích kiến trúc tôn giáo dạng đền. Quán Dư Xá Thượng thờ thần Tản Viên - Quý Minh đại vương, là công thần bậc nhất trời Nam. Theo thần tích ta hiểu thêm từ thời Hùng Vương dựng nước Văn Lang, vùng đất này đã có cư dân sinh sống. Cùng với những anh hùng hào kiệt như: Bột Hải đại vương, Quảng Xung đại vương.... Thần Tản Viên là biểu tượng cao nhất về tư tưởng ở vùng này.
          Tại Quán Thượng, thủ phủ huyện Hoài An (cũ), nay thuộc đất thôn Dư Xá Thượng còn lưu giữ được 9 sắc đạo phong và một cuốn thần phả ghi sự tích thần Quý Minh đại vương như sau:
Thần phả về sự tích Thượng Đẳng Thần, thờ tại Quán làng Dư Xá Thượng.
Hoàng Triều Bảo Thái năm thứ 6 (1725) ngày 25 tháng 9 - Nay thừa sao chính bản để toàn dân Dư Xá Xã, Thượng Thôn phụng sự thờ tự - Mãi mãi giữ niềm tôn kính, và truyền nhau câu:
Cảnh tiên chiêm ngưỡng uy linh thần tích.
Núi cao hướng vọng thánh thiêng liêng.
Quán Thượng được xây dựng từ năm 1431 năm Thuận Thiên thứ 3 - (theo dẫn giải của thần tích) đến thời Nguyễn, Quán Thượng được tôn tạo to lớn.
Khu di tích Quán Thượng, thôn Dư Xá Thượng toạ lạc trên vùng đất bãi cạnh sông Đáy, xa làng, xung quanh là vườn cây, ruộng trồng hoa màu.
Nhìn tổng thể di tích nằm trong khuôn viên đẹp phủ kín màu xanh của cây. Quán Thượng có những công trình kiến trúc thời Nguyễn: Cột trụ, ngôi Đại bái, ngôi nhà Hậu cung, hai nhà Tả mạc, Hữu mạc.
- Nhà Đại bái: có 5 gian, xây tường gạch xung quanh, hai đầu hồi bít đốc Nhà cao 2 tầng 8 mái dốc chảy lợp ngói ri. Tầng dưới ở trong nhà làm và trần kiểu mai cua theo lối Gô tích phương Tây. Tầng trên làm bộ vì đơn giản kèo cầu quá giang hai mái dốc chảy, lợp ngói ri. Trên bờ nóc, bờ hồi đắp vôi vữa và lưỡng long chầu nguyệt.
- Ngôi Hậu cung: có 3 gian. Kiến trúc cũng như ngoài Đại bái. Hai ngôi nhà này cách ở giữa là sân Rồng hình vuông. Trong sân có nhiều bồn hoa cây cảnh, núi non bộ thơ mộng.
- Hai bên nhà Tả mạc, Hữu mạc, mỗi nhà 3 gian đều xây tường gạch mái lợp ngói ri. Bộ vì gỗ của 2 nhà này làm kiểu xà vượt quá giang, không trang trí hoa văn cầu kỳ như các công trình kiến trúc cổ khác.
* Các hiện vật trong di tích:
Quán Thượng còn bảo tồn được những hiện vật có giá trị cơ bản như sau:
- 1 tấm bia đá, ghi những người công đức tiền của công sức làm nên Quán.
- 1 cuốn thần phả ghi sự tích đức thánh Quý Minh đại vương.
- 9 đạo sắc phong thần của các triều đại Nhà nước phong kiến Việt Nam.
- 1 cỗ ngai, thần vị. Trong lòng bài vị ghi mỹ tự đức thánh Quý Minh như: "Hiển ứng hùng lược, vệ tích khởi công, tả trị hậu trạch, trí nhân hoằng hưu... anh nghị quả đoán, hiến uy thịnh khởi, thái điệp cùng dân, vĩ liệt anh minh, chiêu ứng thống minh, linh kiệu ngô cát, tuấn lĩnh thượng đẳng tôn thần vị”.
- 2 bình hương đồng Ngũ Xã.
- 1 bình hương Thổ Hà.
Ngoài ra Đền còn lưu giữ 04 bức Đại tự 08 đôi câu đối.
1. Sự tích Thần Tản Viên được ghi trong sách như sau:.
Thời Vua Hùng Vương thứ 18, ngày 10 tháng giêng, nhân dân Dư Xá Xã được tiếp nhận sự tích; từ đây mở mang vùng đất sáng, để muôn đời có sự thờ phụng tôn vinh.
Trong thư tịch chính thống của nước nhà, Thần Viên Sơn Thánh là ở hàng bất tử (là một trong tứ bất tử của Việt Nam).
thần nguyên giữ bảo vệ cuộc sống của nhân dân ở 12 miền quê đó là:
1-"Lăng Xương" quê.
2-"Mông Hoá"quê.
3- "An lãng" quê.
4- "An Đức" quê.
5- "Long Phong" quê.
6- "Long Húc" quê.
7-"Mang bội" quê.
8- "Thủ Pháp" quê.
9- "Bùi Tục" quê.
10- "Trung Bì" quê.
11- "Ly Trúc" quê.
12- "Dư Xá" quê. (Dư Xá Thượng)
Các nơi trên đây đều dành loại đất hạng ưu gọi là "Hương hỏa điền" để các tiết kỵ nhật, cũng tùy nghi phong thổ mà giữ lệ cùng với "Lăng Xương" và "Thủ Pháp" quê.
Thánh Tản là bậc Thượng Đẳng Thần, cùng các vị tả hữu chư vị thần đã từng tung bay cờ xí, khí giới, cung tên, nô tài tung hoành ở Ly Trúc, Mật Trúc để trấn giữ các cửa sông, đánh 3 trận thì tiêu diệt được quân Thuỷ Tinh để giữ an cho triều vua, cho đất đai xứ sở yên bình, khởi vận cho quốc triều, để thiên hạ được thái bình; rồi sau đó chu du khắp nơi đến vùng đất Dư Xá Thượng mà dạy dân cày cấy đồng ruộng.
Khi Thánh Thượng hoá về trời thì các thôn xã lập đền thờ để lưu dấu tích.
Nguyên văn: "Tộ quốc triều thiên hạ thái bình, đồng du thế giới trí địa dư giáo dân canh nông, thánh thượng hoá thăng thiên các thôn xã lập tích".
Có thơ rằng:
Vài trận Tản Viên hổ cũng bại
Phủ Gia Hưng nổi trận phong hưng
Họ Việt tương ứng vừa ba trấn
Ba tiếng trống liền diệt bại Tần
Thánh tử nước Nam còn mãi mãi
Thái tử yên người dân được thái bình
Sơn khí tinh thần để vua chính vị
Xứng đáng An Nam thượng đẳng thần.
Nguyên gốc tổ tiên của đức Thánh Tản quê ở Lăng Xương. Năm Đinh Tỵ, thượng tuần tháng giêng, giữa ban ngày, ở vùng Thượng Thạch có một người ra đi... Người ấy hiệu tại là Nguyễn Tiến Lang, hiệu đạo uý Quý Minh, húy Tuấn đi khỏi vùng đất xứ sở mình, từ đấy xuân thu nhị kỳ, bát niên (8 năm sau) đắc đạo thành bậc tiên tích.
Ngọc Hoàng Sắc hạ, truy ân quân hiệu là "Tử vi tướng dã" (vị tướng tinh diệu anh hùng) đã từng được theo vương thượng làm vạn phép ở đời trong 31 năm liền.
Đến năm Đinh Hợi trung tuần tháng 5 thì biến hóa về trời.
Lập miếu điện ở đỉnh núi cao gọi là Tản Viên thần vị. Ngài luôn luôn đem phép màu nhiệm để cứu giúp muôn dân.
Đức Thánh lấy vợ là con gái Vua Hùng khi nàng 14 tuổi tên hiệu là Ngọc Hoa thần nữ, là con gái ở trong cung phi.
Tổ tiên bố mẹ của Đức Thánh là người xã Nhân Phủ, về sau xuất khỏi quê đến Mông Hoá, động Long Xương.
Bố là Nguyễn Cao Hành, mẹ là Định Thị Điền, vốn nhà nghèo.
Năm Thuận Thiên thứ 3 (1431) ngày 5 tháng 11 triều đình phụng sai đô đốc Nguyễn Hữu Công là người Dư Xá cùng với Nguyễn Minh Khai, từ vụ Nguyễn Công Chính, phụng mệnh của Hùng Vương lập Quán thần tích (tức là quán làng Dư Xá Thượng còn đến ngày nay).
Cuốn thần phả ở Quán làng Dư Xá Thượng không hề đề cập đến vấn đề giành giật nàng Ngọc Hoa của 2 vị Sơn thần và Thuỷ thần. Mà lại để cập đến những nét mới của hiện thực. Mà lại để cập những nét mới của hiện thực, đó là cuộc sống của vị Sơn thần. Một thực chất dân dã, gắn liền với cuộc sống bình dị của đời thường
Khác với nhiều nơi thờ Thần Tản Viên (Quý Minh Đại Vương) với những huyền thoại kỳ ảo, cuốn thần phả viết năm Bảo Thái thứ 6 (1725) tại Quán Thượng lại kể về Ngài như một "thường nhân". Sơn Tinh Tản Viên trước hết là: “Thường nhân". Trải qua 8 năm học hành, rèn luyện mới trở thành "Tài năng dũng việt". Rồi khi đã chiến thắng "Thuỷ thần" thì Sơn Tinh cùng các tả hữu "Chư vị thần" đi hành đạo phụng sự quốc triều Hùng Vương liền trong 31 năm - Nói là "Hành Đạo" nhưng thực chất các vị đã dạy dân cày cấy trồng trọt... Điều đó lý giải vì sao ở Quán thờ Dư Xá Thượng có các bức đại tự "Huệ thiên dân" (Trời ban ân huệ cho dân) hoặc là "Thần chi phúc dân" (thần đem phúc đến cho dân).
Qua bản thần tích “Tản Viên Quý Minh" còn tàng ở Dư Xá Thượng càng hiểu vì sao quê hương Dư Xá lại gắn liền với sự tích "Sơn thần núi Tản"
Cuốn thần phả ở Quán Dư Xá Thượng là một văn bản có giá trị phản ánh hiện thực Dư Xá Thượng là một miền quê mà từ xa xưa đã được quốc triều chú ý. Được Tản Viên Quý Mình đến và dạy dân làng làm nông nghiệp. Như vậy Thánh Tản ghi trong thần phả làng Dư Xá Thượng không là huyền thoại mà phản ánh thực tế một vùng đất sáng, vùng đất thiêng "Linh chi lai đã" là vì thế. Người dân nơi đây tôn vinh Ngài không chỉ là một vị tướng đánh giặc mà còn là người cha, người thầy khai sáng nghề nông, với những bức đại tự đầy ý nghĩa như: "Huệ thiên dân" (Ân huệ trời ban cho dân) hay "Thần chỉ phúc dân" (Phúc của dân là ở nơi thần).
II. Di tích Đền Bách Linh - nguyên là lỵ sở của huyện Hoài An cũ là "Trung tâm lưu trữ" di sản sắc phong của cả vùng Hoài An
Rời Quán Thượng, mời quý vị đi sâu về phía Tây làng, nơi tọa lạc của đền Bách Linh (Đền Dư Xá Thượng).
Tên gọi "Bách Linh" vốn mang nghĩa là nơi hội tụ linh khí của trăm vị thần thuộc 47 xã của huyện Hoài An xưa.
Đền Bách Linh, thờ tứ vị đại vương là gồm:
1- Đinh Tiên Hoàng Đế đại vương.(TK thứ X)
2- Bột Hải đại vương.(TK thứ ….)
3- Quảng Xung đại vương.(TK Hùng Vương thứ 8)
4- Đông Hải đại vương. (Thời Lê TK thứ ….)
* Sự tích những vị thần được thờ ở đây như sau:
1- Đinh Tiên Hoàng Đế
Họ Đinh tên húy Bộ Lĩnh, người động Hoa Lư châu Đại Hoàng (Ninh Bình). Bố là một nha tướng của Dương Đình Nghệ giữ chức Thứ Sử Châu Hoan. Bố mất sớm, theo mẹ về quê, thường đi chơi với trẻ chăn trâu, bày trận thường lấy bông lau làm cờ lệnh.
Lớn lên, nhờ thông minh có khí phách tài thao lược, Đinh Bộ Lĩnh tham gia sứ quân của Trần Minh Công. Trần Minh Công giao cho giữ quyền bình của sứ quân mình. Khi Trần Minh Công qua đời, Đinh Bộ Lĩnh đem quân về giữ Hoa Lư. Từ Hoa Lư, nghĩa quân luyện tập, mở mang lực lượng, hành quân ra Thượng Vệ (vùng Mỹ Đức ngày nay) lập doanh trại và đánh quân Đỗ Cảnh Thạch phá được thành Đỗ Động. Tại các vùng Thượng Vệ, Hoà Xá, Dư Xá Thượng là các bãi tập luyện và chiến đấu của nghĩa quân khi xưa.
Năm Mậu Thìn (896) Đinh Bộ Lĩnh xưng Vạn Thắng Vương, hiệu là Đinh Tiên Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Cổ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.
Để tưởng nhớ tới công lao của Đinh Tiên Hoàng và các binh sĩ thời đó, tại bãi binh dân làng Dư Xá Thượng lập đền thờ những anh hùng và sinh linh các binh sĩ đã chiến đấu cho nền độc lập, thống nhất của dân tộc thế kỷ X.
2- Bột Hải đại vương
Ngài là con trai của Chủ Bộ Sơn Nam, giỏi đường thủy được Hùng Duệ Vương giao cho kế nghiệp bố là Chủ Bộ Sơn Nam.
Ngài đã có công đánh giặc các bộ tộc Ai Lao, Hồ Tôn… xâm lược nước Văn Lang. Có ân nghĩa với nhân dân tổng Thái Đường và cả huyện Hoài An. Ngài dạy dân cày cấy trồng dâu, nuôi tằm làm điều hòa mục. Thần vị khai sinh ra vùng đất này thời buổi đầu dựng nước. Thần giỏi trị thuỷ, giỏi chống giặc ngoại xâm, giỏi chữa bệnh. Nên được nhân dân Tổng Thái Đường và toàn huyện Hoài An thờ làm thành hoàng ở đến Thái Bình (đền Đức Thánh Cả) và đền Bách Linh ở huyện Hoài An.
3- Quảng Xung đại vương
Ngài được thờ ở 172 nơi như đền Hữu Vĩnh, đền Ba Sa... cùng huyện Hoài An, tương truyền thần là con Vua Hùng thứ 8 là Huy Vương và Tiên Dung Châu.
Ngày 12 tháng giêng năm Giáp Thìn, đệ nhị Tiên Châu, xuất thần hiện ra, đó là tiên nhân giáng sinh. Nàng lớn lên sắc đẹp tuyệt vời không tử xiết. Ngược dòng thời gian khi có cuộc nhàn du ở Phong Châu duyên tốt lành. Vua Hùng thứ 8 là Huy Vương ưng ý liền phong nàng làm Cung Phi Chính Thất. Bà Tiên Dung Châu sinh được 5 người con trai. Khi trưởng thành 5 anh em đều lần lượt lập công lớn, dẹp giặc đem lại bình yên cho đất nước. Công tích được tuyên dương nổi tiếng trong thiên hạ. Vua mừng rỡ ban cho sắc phong và quan chức thật hiển vinh. Sau khi hoá, lại ban cho sắc chỉ vào hàng Thượng Đẳng Thần.
- Quảng Xung Linh Tế đại vương(đến Hữu Vĩnh và đền Bách Linh)
- Quảng Bác Uyên Dung đại vương
- Quảng Xuyên Linh Quang đại vương
- Quảng Tế Linh Ứng đại vương
- Quảng Hoá Cư Sỹ đại vương
* Vị thứ nhất: Quảng Xung Linh Tế đại vương được thờ ở đền Bách Linh.
4- Đông Hải đại vương
Đông Hải đại vương tên thực là Quang Phục, sinh thời thần sống vào Triều Lê, thần giỏi đường thuỷ, đã có công lao lớn với việc trung hưng. Đặc biệt, chiến công của thần giúp vua Lê đi chinh phạt quân Chiêm Thành. Vâng mệnh vua, thần chỉ huy một đoàn quân lương vận chuyển theo đường biển xuôi vào phía Nam nước Đại Việt để chi viện cho vua Lê. Giữa đường gặp sóng to bão lớn, đại vương quyết định cho thuyền lương trú vào eo biển tránh bão, để bảo tồn sinh lực và quân lương. Chính vì vậy khi đoàn thuyền lương của Nguyễn Phục cập bến đã cung cấp được đầy đủ vũ khí, lương thảo cho nhà Vua dẹp xong giặc Chiêm Thành. Tuy nhiên thần phải chịu tội vì đã sai thời gian tự ý dùng lệnh neo thuyền tránh bão. Thần mất, sau này Vua mới hiểu ra là phải bảo tồn được người và của trong chuyến vận tải đường biển ấy mới có binh lương để đánh giặc. Thương sót thần, nhà Vua truy tặng luận công ban thưởng, phong mỹ tự là Thượng Đẳng Phúc Thần.
* Giá trị lịch sử, văn hoá, kiến trúc nghệ thuật của Đền Bách Linh
Đền Bách Linh là Trung tâm lưu trữ tư liệu thần phả, sắc phong của nhiều ngôi đình, đến trong huyện Hoài An cũ, Di tích kiến trúc cổ thời Nguyễn còn bảo tồn được nhiều di vật cổ. Nơi thờ Đinh Tiên Hoàng và những vị thần được liệt vào hạng đệ nhất của xứ Sơn Nam (xưa).
Di tích nằm trên vùng đất bãi rậm, nơi khi xưa Đinh Bộ Lĩnh ở thế kỷ X đã lập đồn binh, tập luyện binh sĩ đánh trận dẹp loạn 12 sứ quân, góp phần vào thống nhất đất nước.
Ngôi đền có từ lâu đời, nơi thờ Đinh Bộ Lĩnh và các tướng sĩ, sinh linh của tướng quân trong cuộc chiến tranh thống nhất đất nước.
Đến Triều Nguyễn Gia Long năm thứ 1 (1802) thiên hạ gặp hạn hán, Vua cho lập đàn cầu mưa tại đền này được linh nghiệm. Vua cho phép huyện Hoài An xây dựng khu đền to lớn hơn có các tòa ngang dãy dọc: Thiêu hương, Đại bái, Hậu cung... Thời kỳ kháng chiến, ngôi nhà Đại bái bị hỏng nặng, nhân dân đã dải hạ. Xưa, nhà này 5 gian 4 mái, mái đao cong, kiến trúc thời Nguyễn Sớm. Hiện nay chỉ còn toà Thiêu hương, Hậu cung. Ngôi nhà Hậu cung (kiêm Đại bái). Nhà Thiêu hương hình vuông, xây tường gạch bao xung quanh, 2 tầng 4 mái đao cong. Ngói ống đắp bằng vôi vữa. Quanh tường áp 4 tấm bia, trong đó: 2 tấm bia làm năm Tự Đức - Ất Hợi niên (1875), 1 tấm bia làm năm Đồng Khánh - Mậu Tý niên (1888), tấm bia làm năm Đồng Khánh - Ất Dậu niên (1885).
- Nhà Đại Bái: có 5 gian, các bộ vì kèo làm theo hình thức chồng rường, bào trơn đóng bén không trang trí hoa văn. Trên treo 3 tấm hoành phi và những đôi câu đối viết trên cột trụ đắp vuông. Ngôi nhà này được tôn tạo vào Triều Nguyễn, đời vua Khải Định năm thứ 6 (1921).
- Ngôi nhà Hậu Cung:có 3 gian, tường gạch xây xung quanh, 2 mái dốc chảy lợp ngói ri, đầu hồi, bờ nóc đắp thẳng, đầu bờ nóc có đấu vuông. Kiến trúc phía trong, vòm mai cua, kiến trúc Gô tích theo lối của phương Tây. Trong Hậu cung có bàn thờ Thành Hoàng đặt ở vị trí gian giữa, hai bên là bàn thờ các Bách Linh Thần. ở đây có hòm sắc ghi "sắc Bách Linh Thần", nơi lưu trữ hàng trăm đạo sắc phong cổ của các vị thần trong huyện Hoài An (cũ).
Tại Đền có một số tấm bia cổ và đặc biệt là hòm "Sắc Bách Linh Thần", nơi lưu trữ hàng trăm đạo sắc phong cổ của các vị thần trong huyện Hoài An (cũ).
Ở Đền Bách Linh Từ còn bảo tồn được 60 văn bản Hán Nôm, trong đó có 15 bản thần phả và trên 200 bản sao sắc phong bản sao sắc phong của 4 tổng thuộc huyện Hoài An xưa. Xét thấy đây là những văn bản Hán Nôm có giá trị đặc biệt - Nhất là kể đến giá trị thần tích, lịch sử.
(Số thứ tự này đã được ghi sẵn ở trong từng văn bản) Danh mục như sau:
Quyển số 1
* Thần phả thôn Đình Xuyên (Quế Hoa công chúa)
Quyển số 2
* Thần phả thôn Đình Xuyên (Quyển số 2)
Quyển số 3
* Thần phả thôn Hồ Khê, thờ 3 vị:
1. Chiếu pháp Bóng Hình đại vương.
2. Bảo vật Trí Phách đại vương.
3. Bỉnh lộ Bồng Ngoại đại vương.
* Chùa phổ thông Thượng sĩ đại vương
(Phật các hậu phi)
Quyển số 4
* Thần phả tổng Trinh Tiết (nay là xã Đại Hưng - Mỹ Đức)
Quyển số 5
* Thần phả Đặng Xá (nay là xã Hoà Phú)
Quyền số 6
* Thần phả Tổng Trinh (Mỹ Đức).
Quyển số 7
* Thần phả làng Hòa Xá (nay là xã Hoà Xá - thờ các vị thần Phù Đinh)
Quyển số 8
* Thần phả đình thôn Thượng Quất.
Quyển số 9
* Sắc phong làng Dư Xá.
Quyển số 10
* Sắc phong của các làng như sau:
1. Làng Thụy Hiền.
2. Làng Phú Duy.
3. Làng Nông Khê.
4. Làng Đốc Tín.
5. Làng An Duyệt.
6. Làng Vạn Phúc.
7. Làng Trung Hoà.
8. Làng Thượng Tiết.
Quyển số 11
* Sắc phong của các làng:
1. Tế Tiêu.
2. Phù Lương Thượng.
3. Dư Xá Hạ.
4. Đông Mật (Nay là bình)
5. Kim Bôi (Nay là ngăm)
Quyển số 12
* Tóm tắt sự tích thần phả các làng:
1. Động Mật.
2. Yến Vĩ (Chùa Hương)
3. Đốc Hậu (Đốc Tín)
4. Thần vị Động Mật
5. Sắc An Đà.
6. Thần phả tổng Trinh Tiết (Thần phả xã Hoa Khê Lê Đại Hành sự tích)
7. Tóm tắt sự tích thờ ở An Duyệt
8. Tóm tắt sự tích thờ ở Thượng Tiết.
9. Tóm tắt sự tích thờ ở Bạch Độc (Bạch Tuyết).
10. Thần vị Bạch Độc.
11. Tóm tắt sự tích An Lạc.
12. Tóm tắt sự tích thờ ở Phú Duy xã.
13. Tóm tắt sự tích thờ ở Nông Khê.
14. Tóm tắt sự tích thờ ở xã Kim Bôi.
15. Tóm tắt sự tích thờ ở Thụy Hiền xã.
16. Sự tích thờ ở An Đà xã.
17. Tóm tắt sự tích thở ở Làng Sêu.
Quyển số 13
Thần phả thờ ở quán Dư Xá Thượng (thờ Tản viên Sơn Thánh và Ngọc Hoa phu nhân)
Quyển số 14
* Sắc của các đình làng
1. Thái Bình
2. Hoà Xá
3. Nội Xã
4. Nam dương
5. Đình Xuyên
6. Dư Xá Thượng
7. Dư Xá Hạ
8. Đặng Xá
9. An Phú (Đoàn Xá)
10 An Phú (Quán Xá)
Quyển số 15
* Sắc thở ở các đình làng:
1. Hữu Vĩnh (Tổng Phù Lưu Thượng)
2. Xã Hữu Vinh
Quyển số 16
Sắc của làng Hạ Lân (xã Lưu Phù Thượng)
Quyền số 17
* Thần phả: Đinh tướng đáng dẹp 12 sứ quân.
- Không bảng uy lĩnh đại vương của Hạ Lân (Phù Lưu Thượng)
Quyển số 18
* Sắc của làng. Phù Lưu Tế (tổng) - Phù Lưu Tế xã (Mỹ Đức)
Quyền số 19
1. Sắc của các làng xã Yến Vĩ (Chùa Hương)
2. Tóm tắt sự tích đại vương cứu tế Minh Hoàng cư sĩ (thời Lê Thánh Tông)
Quyển số 20
* Tóm tắt sự tích Quán Xá thôn, Quán Xá xã
* Thần phả thờ ở Đặng Xá - thờ 3 vị:
1. Rực Vận Cương Nghị Bao La đại vương
2. Tế thế an dân Quy Chân đại vương
3. Tuyên Khánh phổ Bát Nhã đại vương
- Thân phả Đặng Xá (quyển 2)
4. Sắc của Nam Dương
5. Tóm tắt sự tích Nội Xá
Quyển số 21
* Sắc của các làng:
1. Ngọ Xá xã
2. Phù Lưu Tế Tiêu xã
3. Lý do phong sắc Ngọ xá
Sắc của Ngọ xá, lý do sắc của Ngọ Sơn thôn.
Quyển số 22
* Lý do phong sắc của các làng:
1. Vạn Phúc
2. An Lạc
3. Trung Trọng
4. Nông Khê
5. Trinh Tiết Tổng - Thượng, Tiết Xã
6. Phú Duy xã (Tổng Trinh)
7 Thôn Hạ xã Minh Xông
8. Xã Hữu Vĩnh
9. Đông Mật xã
10. Phú Dung
11. Kim Bôi
Quyên số 23
* Lý do sắc:
1. Dư Xá Hạ (Tổng Thái
2. Dư Xá Hạ (Lân)
Quyển số 24
* Lý do phong sắc và sắc phong của các làng xã là:
1. Dư Xá Hạ
2. Diêm Khê
3. An Duyệt
4. Trung Trọng
5. Ngọ Xã
6. Nông Khê
7. Phù Lưu Thượng
8. Kim Bôi
9. Đông Mật
10. Vạn Phước
11. An Đà
12. Phú Duy
13. Dư Xá Hạ
14. Thượng Quất
15. Nam Dương
16. Thái Tường
17. Hổ Khê
18. Yến Vĩ
19. Hà Xá
20. Đốc Tín
21. Đốc Hậu
22. An Lạc
23. Trinh Tiết
24. Tụy Hiền
25. Ngoại Hoàng
26. Hội Xá
27. Phú An
28. Thượng Tiết
29. Hạ Lân
30. Hữu Vĩnh
31. Bài Lâm
32. Độc Khê
33. Thanh Bồ
34. Trù Nhan
35. Xuy Xá
36. Diêm Minh
37. Phùng Xá
Quyển số 25
* Lý do phong sắc của Thượng Vệ (Tổng Phù)
Quyển số 26
* Lý do sắc của Thượng Lâm
Quyển số 27
* Sắc của làng Nội Lưu
Quyển số 28
* Sắc của Thanh Bố
Quyển số 29
* Sắc của Phù Lưu Thượng, Xã thượng Lân
Quyển số 30
* Lý do sắc của Cam Lân xã - Thượng Tiết
Quyển số 31
* Sắc của Bài Lâm (thượng), Bài Lâm (hạ)
Quyển số 32
* Lý do sắc của Ngoại Hoàng (tổng phủ)
Quyển số 33
* Lý do sắc của các làng:
1. Thôn Hạ Phù Lưu
2. Minh Nông
3. Viên Minh
4. An Đà
5. Bạch Độc
6. Ngọ Xá
7. Thượng Tiết
8. Ngo Xá
Quyển 34
* Lý do sắc của Nội Lưu
Quyển số 35
* Lý do sắc của các làng:
1. Phù Lưu Hạ
2. Thanh Bồ
3. Nội Lưu
 
Quyển số 36
* Sác của Hoài An huyện các làng Trình Tiết, Bài Lâm
Quyển số 37
* Phù Lưu Thượng sắc
Quyển số 38
* Lý do sắc của Nội Lưu
Quyền số 39
* Lý do xác của Vạn Phúc, Đức Hâu, Trình Tiết
Quyển số 40
* Lý do sắc của Ngoại Hoàng
Quyển số 41
* Sự tích sắc phong làng Yến Vĩ
Quyển số 42
* Sự tích Vạn Phúc
Sắc của các làng:
1. Đinh Xuyên
2. Đốc Tin
3. Dư Xá Thượng
4. Phù Lưu Thượng
5. Nội Lưu Phong Tự
6. Bài Lâm (thượng, hạ)
7. Trinh Tiết
8. Thương Tiết
9. Đông Mật
10. Thái Bình
11. Đoàn Xá
12. Đặng Xã
13. Bạch Động
14. Yến Vĩ
15. Nam Dương
16. Đoàn Xá
17. Ngoại Hoàng
18. Thanh Bồ
19. Đục Khê
20. Đường An
21. Tế Tiêu
22. Ngọ Xá
23. Bài Lâm Thượng
Quyển số 43
* Sự tích sắc phong Đặng Xá
* Thần hiệu các vị anh hùng
Quyển số 44
* Tổng hợp sắc phong và lý do tôn thần của Tổng Thái
Quyển số 45
* Sự tích sắc phong Hổ Khê
Quyển số 46
* Sự tích Hồ Khê
Quyển số 47
* Lý do sắc của:
1. Thanh Bố
2. Phù Lưu Thượng
3. Hạ Lân
 
Quyển số 48
* Sắc của Phù Lưu, Thượng Lân
Quyển số 49
* sắc của các làng:
1. Thượng Vệ
2. Sắc Đinh Tiên Hoàng Đế
3. Tế Tiêu
4. Phùng Xá
5. Thượng Quất
6. Hồ Lưu Tế
7. Diêm Khê
8. Duy Xá
9. Hổ Khê
10. Ngọ Xã
Quyển số 50
* Tổng hợp sắc của 47 xã thuộc huyện Hoài An
Quyền số 51
* Tổng hợp sửa (chữ viết thảo)
Quyển số 52
* Tổng hợp sắc của 47 làng xã
Quyển số 53
* Sự tích sắc phong Phùng Xá
Quyển số 54
* Lý do sắc của Phù Lưu Tế - Xuy Xá
Quyển số 55
* Lý do sắc của Tế Tiêu
Quyển số 56
* Tổng hợp sắc Xuy Xá
Quyển số 57
* Tổng hợp sắc của 47 làng Hoài An
Quyển số 58
* Các vị thần hoàng ở Hoài an
Quyển số 59
* Sắc phong của Bài Lâm. Hữu Vĩnh
Quyển số 60
* Tập hợp sắc phong tản mạn
(Danh mục trên đã được đánh số quyển còn lưu ở Dư Xá Thượng - đền Bách Linh).
Ngoài ra Đền còn có các tấm Đại tự: Linh hành vũ thí - Mưa thiêng phải thời. Bảo ngã dân - Phù giúp bảo vệ dân ta.  Linh chỉ lai dã - Mọi sự linh hiển về đây. Cùng 04 câu đối, tàn, lọng, ngai, bát hương, cây đèn cổ…
Ngôi đền linh thiêng thờ chính Đinh Tiên Hoàng Đế, người đã chọn vùng đất bãi sông Đáy rậm rạp này để lập đồn binh, luyện quân dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn vào thế kỷ thứ X. Phối thờ cùng vua Đinh là các vị đại vương lừng lẫy như Bột Hải, Quảng Xung và Đông Hải đại vương.
Nét đặc sắc nhất khiến đền Bách Linh trở thành một di tích có giá trị lịch sử đặc biệt chính là vai trò lưu trữ tư liệu. Tại đây vẫn còn bảo tồn được một kho tàng khổng lồ với 60 văn bản Hán Nôm, bao gồm 15 bản thần phả và đặc biệt là hơn 200 bản sao sắc phong của các làng xã thuộc huyện Hoài An cũ. Những hòm sắc phong cổ kính này chính là "chứng minh thư" lịch sử, khẳng định bề dày văn hóa của cả một vùng đất rộng lớn.
Đền Bách Linh còn nổi tiếng với sự linh ứng qua câu chuyện nhà vua lập đàn cầu mưa tại đây và đạt được hiệu quả ngay lập tức, đem lại cuộc sống thái bình, ấm no cho muôn dân. Đền Bách Linh sự linh hiển trong tâm thức Nhân dân. Quý khách dâng nén tâm hương tại đây sẽ cảm nhận được hồng ân rộng khắp và khí thiêng dồn tích trong từng thớ gỗ, phiến đá, không khí nơi đây.
III. Chùa Dư Xá Thương (Duyên Khánh tự) – Huyền tích Công chúa nhà Trần và tinh thần Đông A
Từ Hà Nội đi về Bến Đục chùa Hương Tích hoặc đi chùa Tam Chúc, qua làng Dư Xá Thượng xưa ở trung tâm huyện đường Hoài An cổ (nay là thôn Dư Xá Thượng, xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội) một bên là ngôi đền Bách Linh linh ứng, một bên là ngôi chùa Duyên Khánh cổ kính. Di tích tọa lạc trên thửa đất cạnh đường quốc lộ số 21B. Tổng thể khu di tích gồm có những công trình kiến trúc sau: Cổng chùa, gác chuông, nhà Bái đường, nhà Thượng điện, nhà Tổ kiêm nhà Mẫu, ngoài ra có nhà khách, nhà ni và các công trình phụ khác.
Chùa Dư Xá Thượng là một công trình kiến trúc được phối kết hợp hài hòa giữa kiến trúc truyền thống dân tộc và chọn lọc sự tích cực của kiến trúc phương Tây (kiến trúc Gô tích). Nhìn phía ngoài ngôi chùa có những nét cổ kính độc đáo mang phong cách, giá trị văn hóa truyền thống, phía trong cuốn vòm mai cua để đảm bảo độ bền vững và thoáng đãng trong toà Thượng Điện. Công trình được làm vào triều Nguyễn đời vua Thành Thái năm thứ VIII (1896).
1- Cổng chùa: Hiện chỉ còn một công trình chính giữa, xưa Cổng chùa là cổng kiểu Tam quan đều có 2 tầng 8 mái cong thiết kế theo kiểu dáng cổng Ngọ Môn ở kinh thành Huế. Hiện nay, còn một cổng chính có quy mô to lớn và đồ sộ, xây tường dày vững trãi. Cổng hình vòm mai cua, trên có 2 tầng 8 mái đao cong, xung quanh có những ô hoa văn trang trí đắp vẽ tứ quý: trúc, cúc, thông, mai.
Phía dưới nền cách khoảng 3 m có một Rùa đá là để bia. Con Rùa này có phong cách nghệ thuật thời Lê với những đặc điểm: Hoạ tiết hình bút lông, mây mác trên đuôi và chân của Rùa. Đầu Rùa là một khối tròn có những độ nét thanh mảnh.
2- Gác chuông:Từ cổng qua một vườn cây là tới Gác Chuông. Đây là ngôi nhà hình chữ Nhất, phân thành 3 gian. Xung quanh nhà xây tường bao quanh, 2 đầu hồi bít đốc. Nhà có 2 tầng, 4 mái dốc phẳng lợp ngói ri. Phía trong là những bộ vì có 2 hàng chân cột làm theo kiểu chồng diêm cổ ngỗng nhô cao tạo thành 2 tầng. Bộ vì nóc có 2 dạng: Kiểu chữ Đinh và kiểu giá chiêng chồng rường. Phía tầng dưới là trụ trốn cột đứng trên xà nách với hệ thống chồng rường để tạo thành mái dốc chảy. Trên thượng lương. Công trình gác chuông này đã có từ lâu đời, đến triều Nguyễn đời vua Thành Thái năm thứ VIII (1896) được tôn tạo lại.
Trên tầng 2 của gác chuông treo quả chuông đồng ghi 4 chữ Duyên Khánh Tự Chung. Quả chuông có nhiều ô trang trí hoa văn rồng phượng hoa lá và những dòng chữ Hán. Niên đại quả chuông được tạo vào triều Nguyễn, đời vua Minh Mệnh năm thứ VI (1825).
Phía sau nhìn vào nhà Bái đường là khám thờ tượng A Châu công chúa thời Trần đã có công, tiền của để cung tiến xây dựng ngôi chùa này.
3- Ngôi Bái đường và Thương điện:
Qua một sân Rồng hình vuông có trồng những cây cảnh, hai bên là nhà giả ngũ là sang nhà Bái Đường và Thượng Điện. Đây là công trình chính của chùa Duyên Khánh. Ngôi nhà này làm theo kiểu chữ Đình.
Nhà Bái đường hình chữ Nhất có 3 gian. Ở gian giữa đấu hình chữ Đinh kéo dài về phía sau là Thượng Điện. Toàn bộ công trình kiến trúc này đều xây tường gạch báo xung quanh, kiểu đầu hồi bít đốc. Phía trên là 2 mái chảy lợp ngói ri, phía dưới lòng nhà đều cuốn hình vòm mai cua (ảnh hưởng kiến trúc Go tich phương tây).
Chùa Duyên Khánh thôn Dư Xá Thượng là ngôi chùa cổ còn bảo tồn được 25 pho tượng có nhiều kích cỡ và niên đại khác nhau, bài trí trên các bàn thờ ở những ngôi nhà có các chức năng khác nhau. Hệ thống tượng phật được bài trí ở trong từng công trình kiến trúc cụ thể như sau:
* Hệ thống tượng Phật ở tòa Thượng Điện chùa:
- Lớp thứ nhất: Là 3 pho tượng Tam Thế.
- Lớp thứ hai: Là tượng Phật Bà Quan Âm.
- Lớp thứ ba: là tượng Ngọc Hoàng ở chính giữa, hai bên là tượng Nam Tào và Bắc Đẩu.
- Lớp thứ tư: Là tượng tòa Cửu Long toạ ở dòng chính giữa, hai bên là tượng Thánh Tăng và Long thần.
* Hệ thống tượng ở tòa Bái Đường:
Nhà Bái Đường chùa Duyên Khánh với quy mô vừa phải, có bài trí 2 bàn thờ Đức Thánh Hiền bên hữu, bàn thờ Đức Ông bên tả. Trên 2 bàn thờ này tuy không có các Thị Giả, nhưng 2 pho tượng đều là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tiêu biểu của thời Nguyễn.
Tượng Thánh Hiền ngồi trên bệ vuông 2 cấp, 2 chân chống vuông góc.
Pho tượng Đức Ông ngồi trong ngai, 2 đầu rồng xung quanh ngại là những con tiện đều trạm khắc hoa văn rồng.
* Bài trí các pho tượng ở nhà Tổ và nhà Mẫu:
Ngôi nhà Tổ kiêm thờ Mẫu là công trình kiến trúc phía sau Thượng Điện, cấu trúc mặt bằng hình chữ Nhất, xây tường gạch bao quanh, đầu hồi bít đốc, Ngôi nhà này làm vào năm Khải Định thứ III (1919), đến những năm 80 của thế kỷ XX, nhân dân địa phương xây dựng lại.
Trên mặt bằng của ngôi nhà Tổ kiêm thờ Mẫu có bài trí bàn thờ Tổ và bản thờ Mẫu,đó là một ngôi nhà ngang hình chữ Nhất sau nhà Thượng điện có 2 bàn thờ: Thờ Tổ, thờ Mẫu.
- Bàn thờ Tổ có một pho tượng Tổ Bồ Đề Đạt Ma (Tổ tây).
- Bên gian thờ Mẫu có bàn thờ Tam toà Thánh Mẫu.
Đặc biệt trên tầng 2 của gác chuông có một chiếc khám thờ vị A Châu công chúa thời Trần. A Châu là một nàng công chúa, người đã có tâm, đức mang tiền của và trí tuệ về cho làng Dư Xá Thượng, cùng nhân dân xây dựng nên ngôi chùa này.
Đều này cho thấy, tinh thần quật khởi của hồn nước thời Đông A vẫn còn vọng lại ở làng Dư Xá Thượng cho tới ngày nay.
Điều khiến chùa Duyên Khánh trở nên khác biệt và đầy xúc động chính là sự hiện diện của khám thờ và tượng Công chúa A Châu thời Trần trên tầng 2 của gác chuông. Tương truyền, bà là người đã mang tiền của và trí tuệ về giúp dân làng xây dựng ngôi chùa. Pho tượng bà được tạc vô cùng đặc biệt: tay chắp trước ngực kiểu thiền nhưng thân lại khoác áo choàng tư thế như một Nữ Võ Tướng chuẩn bị ra trận. Hình tượng Nữ Võ Tướng A Châu Công Chúa là minh chứng sống động cho tinh thần quật khởi của hồn nước thời Đông A vẫn còn vang vọng mãi tại làng Dư Xá Thượng.
Phía trước nhà Tổ có một Cây hương xây theo kiểu tháp hình vuông, mái đao cong, trong có bát hương và thờ những pho tượng nhỏ. Hòn non bộ đắp ở ngoài với những cây hoa và chậu cảnh làm tôn vẻ đẹp thẩm mỹ khu di tích.
IV. Di sản phi vật thể Lễ hội truyền thống thôn Dư Xá Thượng
Lễ hội làng Dư Xá Thượng là di sản văn hóa phi vật thể cổ truyền. Hội làng Dư Xá Thượng có từ ngàn năm nay, từ xã hội phong kiến, trước cách mạng tháng 8.
Lễ hội diễn ra tại Đình Xuân vào Ngày 09 tháng 02 hằng, đây là ngôi đình nằm trong cụm di tích lịch sử: “Quán Thượng, Đền Bách Linh, chùa Duyên Khánh”. Đây là 3 di tích lịch sử được nhà nước công nhận và xếp hạng, tự hào là làng văn hóa; giúp Con cháu và dân làng nhớ về nguồn cội, nhớ về tổ tiên, các bậc anh hùng tiền bối; đồng thời đoàn kết chung sức chung lòng, đóng góp xây dựng, giúp đỡ nhau xóa đói giảm nghèo, xây dựng quê hương làng xóm, cùng gương mẫu chấp hành mọi chủ trương của Đảng chính sách, pháp luật của nhà nước.
 Rước thần điểm quân hay còn gọi là Củ soát vừa là rước các thần từ quán thượng - từ đền Bách Linh về một địa điểm chung là Đinh Xuân. Để dự Lễ Hội Xuân, được dân làng tế lễ trên đường đi rước là hình thức củ soát hay điểm quân, một sự chuẩn bị về dự lễ hội nghĩa tâm linh gọi là Rước điểm quân.
Xuất phát những cỗ kiệu không từ Đình Xuân  xuống quán thượng để rước một bát hương thần Quý Minh (tức là Thành Hoàng làng) trên đường rước xuôi dọc làng đến Đền Bách Linh được một kiệu nữa. Phụng nghinh một bát hương tại đền Bách Linh lên kiệu cùng trên đường về Đinh Xuân. Vậy là cả đoàn rước đã thực hiện việc rước đón thần về Đình chung, trên đường đi là việc điểm quân hay củ soát là việc của thần.
Thời gian Lễ Hội được diễn ra bắt đầu từ ngày 9/2 âm lịch gồm 2 phần chính của lễ hội:
- Phần lễ:
+ Sáng ngày mồng 09/2 tổ chức rước thần điểm quân từ quán thượng xuống đền Bách Linh. Cùng rước các thần Bách Linh về tại Đình Xuân ngự.
+ Chiều mồng 9/2 các cụ trong đội tế tổ chức tế yết, tế dâng hương.
+ sáng 10/2 khai mạc lễ hội và các cụ tổ chức đại lễ.
- Phần hội:
+ chiều 09/2 các trò chơi dân gian: Kéo co, đánh vật , buổi tối biểu diễn văn nghệ quần chúng.
+ Chiều 10/2  tiếp các trò chơi dân gian, các cụ bình thơ, buổi tối biểu diễn văn nghệ quần chúng.
- Sáng 11/2 kết thúc lễ hội – tổ chức cuộc rước thần hồi cung, được lặp lại như rước điểm quân, từ Đình Xuân rước bát hương thần về quán thượng và đền Bách Linh.
* Đội hình đoàn rước:
1. Đội cờ thần - cờ quốc kỳ
2. Đội Trống - Chiêng
3. Đội Bát Bửu
4. Đoàn rước kiệu Bác Hồ
5. Đội trống dậm
6. Đội cờ tín lão
7. Cỗ đòn hậu bềnh rước lễ
8.Đội Dâng Hương
9. Đội Bát bửu
10. Đội nhạc sênh tiền
11. Đội cờ thần
12. Cỗ đòn hậu bành rước thần
13. Đội tế nữ
14. Đội cờ thần
15. Đội nhạc công
16. Cỗ đón rước thần Hoàng
17. Đội tế nam
18. Các cụ ông
19. Toàn thể dân làng.
 Hàng năm, vào ngày mùng 9 tháng 2 âm lịch, người dân Dư Xá Thượng lại nô nức tổ chức lễ hội làng tại cụm di tích Quán - Đền - Chùa. Đây là dịp để con cháu nhớ về nguồn cội, tưởng nhớ các bậc anh hùng tiền bối như Đinh Tiên Hoàng hay Thánh Tản Viên.
Lễ hội là sự kết hợp giữa các nghi thức tế lễ uy nghiêm của giới nam phụ lão và sự thành kính lễ Phật của giới nữ phụ lão. Không gian di tích khi đó càng trở nên sống động với các sinh hoạt văn hóa dân gian, thắt chặt tình làng nghĩa xóm và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.
V. Võ Thiên Môn Đạo - Sức sống của di sản phi vật thể
Kính thưa quý khách, nhắc đến thôn Dư Xá Thượng không thể không nhắc đến một si sản phi vật thể truyền thống ở đây đó chính là Vĩ Thiên Môn Đạo. Dư Xá Thượng chính là nơi phát tích của một môn phái võ thuật cổ truyền danh tiếng Thiên Môn Đạo.
Quá trình hình thành Thiên Môn Đạo gắn liền với lịch sử luyện quân của vua Đinh Bộ Lĩnh từ thế kỷ X tại chính vùng đất này. Môn phái được dòng họ Nguyễn Khắc ở Dư Xá Thượng bảo lưu và truyền dạy qua 5 thế hệ.
Nền tảng võ học của Thiên Môn Đạo mang những nét đặc sắc riêng biệt, không chỉ rèn luyện sức khỏe mà còn giáo dục tinh thần thượng võ và lòng yêu nước. Hiện nay, dưới sự gìn giữ của Chưởng môn Nguyễn Khắc Phấn, võ phái đã phát triển mạnh mẽ với hàng chục nghìn môn sinh, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa phi vật thể độc đáo của làng quê Dư Xá Hạ.
Kính thưa quý khách!
Cụm di tích tại thôn Dư Xá Thượng thực sự là một "viên ngọc" quý trong kho tàng di sản văn hóa của Thủ đô. Dư Xá Thượng là nơi mà mỗi bước chân ta đi hôm nay đều chạm vào lịch sử, mỗi hơi thở hôm nay đều mang hương vị của sự bình an và lòng tự hào dân tộc. Với sự giao thoa kiến trúc Đông - Tây độc đáo, những pho tượng mang hào khí Đông A và kho tàng sắc phong, thần phả, bia đá, thư tịch đồ sộ cùng khung cảnh hữu tình bên dòng sông Đáy, nơi đây thực sự là một điểm đến không thể bỏ qua trên hành trình về với nguồn cội, tìm hiểu học tập về văn hóa, truyền thống về lịch sử địa phương của xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội.
Quý vị hãy một lần ghé thăm cụm di tích tại Dư Xá Thượng, để được lắng nghe tiếng chuông chùa Duyên Khánh, để chiêm ngưỡng vẻ cổ kính, trầm mặc của Quán Thượng, cảm được sự linh ứng của Đền Bách Linh và tìm thấy sự bình an dưới bóng những mái các công trình rêu phong bên dòng sông Đáy thơ mộng, để tìm thấy sự bình thản trong tâm hồn giữa một miền quê "địa linh nhân kiệt".
Dư Xá Thượng luôn rộng mở cánh cổng di sản để đón chào quý khách!
                    Phòng Văn hóa - Xã hội (VT)
Mẹo từ An:
Biết trước khi đi
Vé & miễn giảm
Miễn phí
Cổng chính
Thôn Dư Xá Thượng
Du khách nói gì
5,0
★★★★★
100 đánh giá Google
HanoiGo
Cổng du lịch chính thức của Hà Nội — điểm đến, ẩm thực, sự kiện và lưu trú trong một nơi.
Khám phá
Điểm đến
Ẩm thực
Sự kiện
Lưu trú
Hỗ trợ
Trò chuyện với An
Hotline: 0904910585
Cơ quan
UBND thành phố Hà Nội
Điều khoản sử dụng
© 2026 HanoiGo · UBND thành phố Hà Nội