Chùa Hưng Phúc thuộc thôn Văn Quang, xã Kiều Phú, thành phố Hà Nội được xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 3480/QĐ-UBND ngày 07/8/2020 của UBND thành phố Hà Nội
Theo lời kể của các cụ cao niên trong tiểu ban quản lý di tích, chùa Hưng Phúc được xây dựng cách ngày nay đã lâu.
Theo đó, xưa kia cư dân xóm Bương sống ở dọc bờ phía hữu ngạn con Ngòi (tức khúc sông Văn của dòng sông Hoàng lịch sử), từ gò Cộ Quéo đến Cống Đá Gãy, gọi là khu "Bên Trại", "Bên Thần". Gắn với xóm Bương là ngôi chùa Cả (chùa Hưng Phúc). Chùa xưa tọa lạc trên một gò đất bên cạnh khu "Bên Trại", "Bên Thần".
Đời vua Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức năm Canh Dần (1470) bị trận đại hồng thủy, nước ngập triền miên. Chùa cũng bị ngập nên dân xóm phải chuyển vào khu đất chùa ngày nay.
Dân làng Văn Quang lúc bấy giờ có 5 xóm: xóm Bương, xóm Tròn, xóm Nội, xóm Trại Ro và xóm Đồi Muôn.
Các cụ và nhân dân đã đào chuôm ở khu đất bên bờ con Ngòi, gần Cống Đá Gãy, lấy đất đắp lên chùa cao hơn mặt ruộng 1m70 để tránh ngập lụt.
Hiện nay, tại chùa Hưng Phúc còn lưu giữ một tấm bia đá có tên Hưng thiên địa trường tồn, niên đại Thành Thái (1889-1907). Văn bia ghi về công việc tu tạo lại chùa vào năm Tự Đức nguyên niên (Mậu Thân 1848), việc tham gia đóng cóp cho cảng trình lAm chủa của các cu, các ông, các bà, đân làng Văn Quang và quý khách tháp phương, tiền công đức của các quan chức địa phương và nhân dân 5 xóm.
Tại chùa Hưng Phúc còn lưu giữ một quả chuông đồng niên đại 1848.
Căn cứ các tài liệu thành văn hiện còn tại di tích như bia đá, chuông đồng và các đạo sắc phong cho Lưỡng quốc Trạng nguyễn Nguyễn Trực có niên đại thời Nguyễn; căn cứ tư liệu hoành phi, câu đối và đặc biệt là hệ thống tượng tròn mang phong cách thời Nguyễn, có thể đoán định di tích được hình thành từ thời Nguyễn trở về trước (trước khi chùa được tu tạo - năm 1848).
* Những lần trùng tu sửa chữa:
Theo nội dung văn bia, chuông đồng cho biết, chùa được tu bỗ, tôn tạo năm Tự Đức nguyên niên (1848).
Năm 1991, chùa được phục dựng và giữ nguyên từ đó đến nay.
Nghĩa Hương là vùng đất cổ có truyền thống lịch sử lâu đời, nơi còn lưu lại những dấu tích, truyền thuyết xa xưa về lịch sử tạo dựng quê hương từ thời
Hùng Vương dựng nước và giữ nước. Nghĩa Hương với những tên gọi từ khi còn là Kẻ Bương, là Nghĩa Bang Trang, gồm những động, ấp, trại. Những nghề thủ công truyền thống vẫn gắn liền với tên làng cổ như Bương Rổ, Bương Cót.
Những di tích lịch sử gắn liền với tên làng cổ như Bương Đá Gãy, chùa Bương... Nằm trên mảnh đất Nghĩa Hương, Văn Quang là một vùng đất cổ của người Việt trên đường thiên di từ miền núi xuống đồng bằng châu Thổ nên sớm có cư dân dừng lại rồi quần tụ hai bên Ngòi Bương khoảng 2.870 năm trước Công nguyên (theo quy ước làng Văn Khê sưu tầm).
Văn Quang là một địa phương có truyền thống văn hóa tốt đẹp lâu đời, với những công trình văn hóa cố kính. Chùa Hưng Phúc và từ chỉ thôn Văn Quang là một trong những điểm đến văn hóa, tín ngưỡng của người dân địa phương.
Như bao ngôi chùa khác, chùa Hưng Phúc ra đời trước hết là nơi thờ Phật theo Phật giáo phái Đại thừa. Phật giáo là một tôn giáo được Thích Ca Mâu Ni (Shakvamuni) truyền giảng ở miền bắc Án Độ vào thể kỉ VI trước công nguyên.
Cụm di tích chùa Hưng Phúc và từ chỉ thôn Văn Quang toạ lạc trong một ngỡ nhỏ bình yên, tĩnh lặng. Chùa bao gồm các hạng mục: Tam quan, tiền đường, thượng điện, nhà Tổ, nhà Mẫu. Từ chỉ là một hạng mục làm theo hình nhà khách...
chữ Nhất. Bên cạnh đó, còn có các hạng mục công trình bổ trợ cho di tích như:
Nhìn tổng thể, kiến trúc chùa Hưng Phúc vẫn còn tốt, từ chi đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Về dất đai, chính quyền và nhân dân địa phương đã phối hợp với cơ quan chức năng phân định ranh giới, xây tường bao xung quanh, nên không có tình trạng xâm lấn hay tranh chấp.
* Tam quan: Đến với bao ngôi chùa trên đất Việt Nam, điều dễ nhận biết trước tiên đối với du khách chính là Tam quan của chùa. Tam quan gồm một cổng chính và 2 cổng phụ với hình thức hai tâng xây gạch, cửa cuốn vòm. Cổng giữa làm kiểu chồng diêm hai tầng mái, tầng trên làm kiểu mái chồng dạng 8 mái ngói giả ống, tầng dưới mái đổ bằng. Hai công phụ làm kiêu bốn mái, tầng trên làm dạng 4 mái giả ngói ống, tầng dưới đồ mái bằng. Các cánh cửa bằng gỗ làm kiểu "thượng song hạ bản". Chính giữa nóc mái đắp hình mặt trời lửa, ở giữa là vòng tròn âm dương, các góc đao tạo hình đầu rồng. Cổng được đỡ bởi 4 trụ. Trên đỉnh cột trụ cổng chính tạo hình tứ phượng châu. Trên đỉnh trụ của cồng phụ tạo tác hình nghê chầu. Nối từ cột trụ công phụ ra hai bên là bức tường lửng, tiếp đó là hai cột trụ biểu, bên trên đắp hình ô lồng đèn, đỉnh trụ đắp hình búp sen, đế trụ đắp hình trái giành. Tại các mặt trước và sau của cột trụ tạo khuông hình chữ nhật, đắp nổi các đôi câu đối chữ Hán. Nối từ cột trụ ngoài cùng ra hai bên là bức tường bao của chùa.
* Tiền đường:
Tiền đường là ngôi nhà ngang 3 gian 2 chái làm theo kiểu tưởng hỗi bứt đốc, mái lợp ngói ta, nền lát gạch Bát đỏ 30*30cm. Từ sân, qua ba bậc tam cắp được xây băng gạch chỉ, cao tầm 30cm là vào tiền đường. Phía trưêc tiền đường mở ba cửa ra vào tương ứng với 3 gian giữa của tiền đường, cửa lăm kiểu cửa bản lề. Phía trước hai gian bên xây tưởng gạch, ở giữa trở ô cửa hình chữ nhật được kết cầu với các viên gạch hình hoa chanh.
Bộ khung tiền đường được tạo bởi 6 bộ vì, được làm thống nhất theo kiểu
"thượng vì kèo hạ kẻ bẩy". Hai đầu vì kèo gối trực tiếp lên tưởng, tử cột tường nối với cột chính phía sau là hệ thống quá giang chạy ngang. Trên quá giang là hai trụ trôn đứng trên đấu kê hình vuông thót đáy đỡ câu đầu. Hệ thông vì kèo làm bằng gỗ, không trang trí, chỉ bào trơn đóng bén và thiên về độ bền chắc.
Tiền đường có các kích thước để duy trì quy mô kiến trúc gồm: chiều rộng 4.5m, dài 10m. Khoảng cách giữa các bước gian là 1.5m - 2.2m - 2.4m - 2.2m - 1.5m, Khoảng cách từ cột cái đến cột cái là 3.7m.
* Thượng điện: Nối từ gian giữa tiền đường về phía sau là thượng điện tạo thành hình chữ Đinh. Thượng điện là ngôi nhà dọc 3 gian, làm theo kiểu "vì kèo, hạ kể" trên 2 hàng chân cột. Các đầu kẻ gối trực tiếp lên tường. Hệ thống vì kèo tại thượng điện vẫn duy trì lối kiến trúc như tiền đường, đó là kết cấu khung bằng gỗ, bào trơn đóng bén, thiên về độ bền chắc.
* Nhà Tổ: Nhà Tổ là một gian nhà ngang làm theo kiểu đầu hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, nền lát gạch chỉ, bờ nóc đắp ngói bò. Phía trước làm ba cửa ra vào theo kiểu bản lề.
Chùa Hưng Phúc có lịch sử hình thành cách ngày nay đã lâu. Nơi đây chứa đựng nguồn tư liệu quý để nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của một vùng đất lâu đời thuộc huyện Quốc Oai. Cụm di tích là nơi chứa đựng những giá trị về nhiều mặt:
* Giá trị lịch sử: Chùa Hưng Phúc là một ngôi chùa của cư dân làng Văn Quang, xã Nghĩa Hương cũ (nay là xã Kiều Phú). Các tư liệu văn bia, chuông đồng, tượng Phật là những tư liệu lịch sử quý giá giúp tìm hiểu về lịch sử ngôi chùa xưa. Tìm hiểu về niên đại khởi dựng ngôi chùa cho thấy giá trị lịch sử lâu đời của di tích trên một vùng đất cổ. Chùa Hưng Phúc là nơi thờ Phật theo tôn giáo Phật giáo, thờ Mẫu và thờ Tổ theo tín ngưỡng dân gian. Những hình thức thờ cúng đó đều xuất phát từ nguyện vọng, mong muốn những điều tốt đẹp nhất của con người. Trong tất cả mọi giá trị hiện hữu giữa cuộc đời này thì giá trị hạnh phúc của con người là cao nhất. Tính thiết thực của đạo Phật nhằm đưa con người đến sự giải thoát khổ đau, xây dựng nếp sống hạnh phúc thật sự. Chính đức Phật đã từng nói lên hoài bão lớn nhất của Ngài là xây dựng nếp sống hạnh phúc an lạc cho mọi người ngay khi Ngài vừa thị hiện: "Ta ra đời vì sự hạnh phúc, vì sự an lạc cho chư Thiên và loài người". Tại đây, đức Phật đã xác định giá trị "Hạnh phúc" qua cuộc đời tự thân tu tập, tự thân chứng ngộ, hoằng hóa độ sinh của chính mình.
Thờ Mẫu, thờ Tổ là một tín ngưỡng dân gian thuần Việt, có lịch sử lâu đời, biến chuyển thích ứng với sự thay đổi của xã hội. Tín ngưỡng thờ Mẫu hướng đến cuộc sống thực tại của con người với ước vọng sức khỏe, tài lộc, may mắn, là một nhu cầu trong đời sống tâm linh của người Việt, mang lại cho họ sức mạnh, niềm tin và có sức thu hút mọi tầng lớp trong xã hội. Tâm là giá trị cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu. Mẫu dạy con người sống hướng thiện, có cái tâm trong sáng, biết đối nhân xử thế, thờ phụng ông bà tổ tiên và biết ơn những người có công với dân, với nước.
Giá trị về kiến trúc nghệ thuật: Chùa Hưng Phúc và từ chỉ thôn Văn Quang được xây dựng vào những năm trước đây, đến nay vẫn giữ được khối kiến trúc chính từ ngày phục dựng. Bộ khung di tích được kết cấu bởi những bộ vì kèo bằng gỗ truyền thống. Hệ thống vì kèo tại chùa Hưng Phúc thiên về độ vững chắc. Hệ thống vì kèo tại Từ chỉ thôn Văn Quang tuy đã bị xuống cấp nhưng vẫn giữ được những mảng chạm khắc mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
Tại đây còn lưu giữ hệ thống di vật phong phú như bia đá, chuông đồng, câu đối, hoành phi... Hệ thống tư liệu này đã góp phần tìm hiểu lịch sử hình thành của di tích trên một vùng đất cổ. Qua thăng trầm biến động của lịch sử và chiến tranh, các tư liệu thành văn đó vẫn được bảo lưu, trân trọng và giữ gìn.
Nằm gọn trong khu dân cư làng Văn Quang với hệ thống tường bao xung quanh, ngôi chùa với các hạng mục tiền đường, thượng điện, nhà Tổ, nhà Mẫu;
Từ chỉ là một nếp nhà hình chữ Nhất. Cụm di tích như một điểm nhấn văn hóa trên một vùng đất cổ.
Giá trị văn hóa - khoa học:
Từ xa xưa, hình ảnh "cây đa, giếng nước, sân đình" vốn không thể thiếu trong các làng Việt cổ Bắc Bộ. Văn Quang cũng vậy, những ngôi đình, chùa, miếu ở đây không chỉ mang giá trị lịch sử, nghệ thuật cao mà còn là những điểm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tập thể. Ở đây, vào những ngày lễ Tết, các cụ cao niên trong làng thường đến cúng tế, cầu cho quốc thái dân an. Bên cạnh đó, những ngôi chùa, mái đình cổ kính còn là nơi hướng thiện tâm hồn của những người con quê hương, giúp họ biết sống thiện, giúp đời.