chùa Ngự Câu
Giới thiệu
Chùa Ngự Câu tọa lạc tại thôn Ngự Câu, xã An Khánh, thành phố Hà Nội. Dân làng Ngự Câu vốn quý trọng thuần phong mỹ tục. Hiện nay, nghề chính là nông nghiệp; ngoài ra còn có các nghề phụ như dệt the lụa, thuê, đan lưới, săn xuất tinh bột làm miến dong. Chùa Ngự Câu là tên gọi theo địa danh thôn. Chùa còn có tên tự là Chùa Vương Lễ và là trung tâm tín ngưỡng thờ Phật. Chùa Ngự Câu nằm sát cạnh đình Ngự Câu, cách thủ đô Hà Nội khoảng 20 km về phía Tây.
Theo truyền miệng thì chùa Ngự Câu đã có từ rất lâu, song nhìn vào hiện trạng kiến trúc nghệ thuật và các di vật thờ cúng trong chùa thì thấy quy mô của ngôi chùa hiện nay là kết quả của những lần tu sửa lớn vào thế kỷ 19.
Các văn bia ở chùa cũng đã bị hủy hoại. Ở sân chùa chỉ còn lại hai con rùa có khung bị thủng ở lưng. Lỗ thủng ấy là chỗ để đặt bia. Căn cứ vào nghệ thuật chạm đá, có thể thấy hai con rùa đá này đều thuộc thế kỷ 18. Các pho tượng trong tam bảo ở chùa cũng có niên đại thế kỷ 18: đó là ba pho tượng của bộ tượng “Di Đà Tam Tôn”, còn các pho tượng khác của chùa đều có niên đại thế kỷ 19. Trên thượng lương của tiền đường chùa chỉ đóng chữ Hán: “Hoàng triều bảo đại, nhâm ngọ niên” (1932). Hầu hết các thành phần kiến trúc đều được tu sửa nhiều.
Chùa Ngự Câu không chỉ được sử dụng làm nơi thờ Phật. Nơi gửi gắm tài nghệ của các nghệ nhân xưa qua trang trí trên kiến trúc. Qua tài năng đúc tượng, đào tượng, đắp tượng và sơn son thếp vàng, chùa không chỉ là nơi lưu giữ và chứng kiến tấm lòng mộ Phật của nhân dân Ngự Cầu. Chùa còn trở thành nơi sơ tán, nơi ở và làm việc của các cơ quan trong tỉnh Hà Tây (cũ) thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
Năm 1965, Ủy ban Kế hoạch Hà Tây do ông Nguyễn Đình Sở làm chủ nhiệm về sơ tán tại chùa. Cùng năm đó, Bộ tư lệnh (tỉnh đội) Hà Tây do ông Lê Hiền Hữu tư lệnh trưởng về ở và làm việc tại chùa. Căn hầm ngầm có quy mô khá lớn nằm trên vườn chùa là nơi thiếu tướng Hồ Kỳ, phó thủ tướng Đỗ Mười, đại diện các đơn vị Hải quân, Không quân, Lục quân và một số huyện đội về họp. Năm 1980, đơn vị đặc công đóng trong là - thủ trưởng về sơ tán đến 1987 thì chuyển đi nơi khác. Từ 1982, đơn vị Cục Quân y cũng về đóng quân tại chùa Ngự Câu. Năm 1980, đơn vị đặc công về đóng quân, đến 1987 chuyển đi nơi khác. Năm 1982, Cục Quân y về ở tại chùa, đến 1987 chuyển đi.
Trải qua nhiều năm tháng, chứng kiến nhiều cảnh đổi thay của quê hương đất nước, chỉ riêng ngôi chùa cũng đổi thay theo năm tháng. Ngày nay, nhìn kiến trúc, nghệ thuật của chùa, ta có thể hình dung lịch sử, diễn biến, phát triển thay đổi đầy biến động của một di tích kiến trúc nghệ thuật.
Chùa Ngự câu tọa lạc trên một khu đất cao ráo thoáng mát của làng, chùa quay hướng tây kết cấu trên kiến trúc hình chữ đinh: gồm tiền đường và hậu cung, bên phải phía sau tiền đường là nhà tổ, ngoài vườn chùa có một chiếc hầm ngầm khá lớn, hầm được xây rất kiên cố hầm với lối địa điểm tránh đổi là sơn bình trú quân sơ tán trong những năm chống Mỹ cứu nước.
Tiền đường là một nếp nhà ba gian hai chái mặt bằng sáu hàng chân, hàng cột hiện xây bằng vữa hình trụ túi diện. Bốn bộ vì kèo kết cấu kiểu “thượng giường - trung cốn - hạ kẻ”, mái phần “thượng tử - hạ tứ”, các cột gỗ tròn làm kiểu “thượng thu - hạ thách” đều dưới các cột được đặt trên chân tảng đá chim.
Một hàng chân gian giữa và một hàng chân gian bên cột gỗ được thay bằng cột xi măng nóc thượng lương có ghi dòng chữ “Hoàng triều bảo đại nhâm ngọ niên, đình mùi nguyệt cát sưu nhật; ngọ thời, thanh long - hoàng đạo trúc, thượng lương, đại cát; cất thượng lương năm 1940.
Hậu cung, đầu hồi phía trước ăn liền với gian giữa nhà tiền đường, hậu cung chùa Ngự câu là nếp nhà ba gian một chái. Mặt bằng bốn hàng chân, cột gỗ đặt trên chân tảng đá chim, các hàng cột gỗ cũng làm kiểu thượng thu hạ thách, mái phần “thượng tứ - hạ tứ”. Cột hiên được thay bằng tường gạch bo vì kết cấu kiểu “chồng giường - trụ giá chiêng”.
Các kích thước để giúp ta hình dung quy mô kiến trúc của chùa. Tiền đường: Đường kính cột cái 0,31 m; Đường kính chân tảng 0,37 m; Đường kính cột quân 0,27 m; Đường kính chân tảng 0,32 m; Cạnh cột hiên 0,28 m; Khoảng cách cột cái - cột cái 2,76m; Khoảng cách cột cái - cột quân 1,2 m; Khoảng cách cột quân - cột hiên 1,27 m; Gian giữa rộng 2,85 m; Gian bên rộng 2,75 m; Chái rộng 1,7 m.
Hậu cung: Đường kính cột cái 0.31 m; Đường kính chân tảng 0,30m; Khoảng cách cột cái - cột cái 2,85m; Khoảng cách cột cái - tường 1m; Gian ngoài rộng 2,7m
Gian giữa rộng 2,7 m; Gian trong rộng 2,3 m.
Tiền đường phía trước: hai bên kiến trúc có hai trụ biểu bằng gạch vữa, mặt cắt ngang hình vuông, trang trí ở đầu trụ tứ bốn con giống, đuôi hướng lên trên chạm vào nhau, thân trang trí hoa văn hình học, đầu đặt trên thân trụ, bốn con đầu hướng ra bốn góc trụ biểu bờ nóc xếp bằng ngói úp, mái lợp ngói liệt, trên bờ nóc gian giữa tiền đường, đắp nổi một tấm biển bằng vữa hình chữ nhật, quanh riềm trang trí hoa văn hình học, ở giữa đề ba chữ hán lớn “Vương lễ tự” (chùa Vương lễ).
Hai đầu bờ nóc trang trí vân xoắn, đao mác bờ dải đắp cao, giữa bờ dải cong lên hình vân xoắn, riềm mái bằng gỗ trang trí hình hoa văn thực vật bằng chạm khắc. Đầu kẻ khắc hình chữ triện. Thân kẻ trang trí hoa văn thực vật chữ triện.
Chính bộ cửa bức bàn trang trí ở chữ nhật trên có chấn song gỗ, bức cửa cao, nghề kẻ chạm vân đốt trúc, xà nách trang trí vân thực vật. Cốn nách trang trí rồng, chữ triện, rồng phượng (trúc hóa rồng), câu đầu cong trang trí vân chữ triện, con giường trang trí hình vân xoắn, vì nóc trang trí vân thực vật. Trên các giường đầu vì gian giữa tiền đường khắc dòng chữ Phật “Úm ma ni, bát mê hồng”.
Hai bức vì giữa chạm thủng hình chữ triện, cốn nách vì thứ hai bên trái, phía trước tiền đường trang trí mảng chạm đề tài “trúc hóa rồng” rồng có hai sừng dê, mắt lồi, mũi nở, miệng ngậm ngọc, đầu rồng mọc ra từ chấn trúc, hướng vào tường mái phía trên hình rồng, là hình một con chim phượng đầu trên cành trúc, thân thể hiện hình lá trúc. Cốn nách gian bên phải trang trí chạm nổi đề tài “rồng cuốn thủy”. Rồng phía dưới đắp hướng vào vì nóc, miệng rồng ngậm ngọc, có hai mắt lồi, rồng phía trên được thể hiện đầu hướng ra ngoài hiên, miệng phun nước, mũi nở, mắt lồi, nằm lớp tỏa hắt thẳng lên trên mái.
Tiền đường từ ngoài vào, gian bên trái đặt bộ tượng đức thánh hiền, gian bên phải là tượng đức ông.
Hậu cung gồm năm lớp tượng: lớp thứ nhất tượng đồng; lớp thứ hai ở giữa là Tượng Cửu Long và Tượng Thích Ca Sư Sinh. Hai bên là tượng Phạm Thiên Đế Thích. Lớp thứ ba tượng thế âm và thế chí, lớp thứ tư là tượng A Di Đà, lớp trên cùng không còn tượng Tam thế được thay bằng tượng đá lộc.
Chùa Ngự Câu được xếp hạng là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 208/VH/QĐ ngày 13/3/1990 của Bộ Văn hóa năm 1990.



