Câu chuyện điểm đến
01Giá trị lịch sử văn hóa & Niên đại
Lịch sử khởi dựng: Dựa trên các vết tích vật chất thu thập được như hệ thống đá tảng xanh kê chân cột chạm nổi hoa sen, gạch hòm sớ và gạch hoa chanh, di tích được xác định có quy mô rất lớn và có niên đại thâm niên ít nhất từ thời Lê - Mạc (thế kỷ XV - XVI). Trải qua các thế kỷ tiếp theo, công trình liên tục được nhân dân Phí Trạch tu bổ, tôn tạo.
Ý nghĩa tín ngưỡng: Chùa là nơi thờ Phật theo phái Đại Thừa nhằm đáp ứng nhu cầu tôn giáo, sinh hoạt văn hóa tâm linh lành mạnh cho cư dân địa phương và các vùng phụ cận. Giáo lý hướng con người đến tư tưởng từ bi, khuyến thiện, trừng ác và giáo dục lòng nhân nghĩa.
02Quy mô kết cấu và Khảo tả kiến trúc
Chùa tọa lạc trên khuôn viên cao ráo, rộng rãi ở trung tâm làng, ẩn mình dưới bóng các cây cổ thụ và hệ thống vườn tháp. Mặt bằng các hạng mục chính bao gồm:
Cổng chùa (Tam quan): Thiết kế giản đơn, phía trên đề bốn chữ đại tự "Thái Dương Tự môn". Qua cổng là đường đi lát gạch vuông dẫn vào khoảng sân trước được bài trí hòn non bộ và cây cảnh trang nhã.
Tòa Tiền đường (Bái đường): Xây dựng nền cao qua 3 bậc tam cấp theo lối đầu hồi bít đốc tay ngai, mặt trước có 2 cột trụ vuông đắp đèn lồng. Hai mái lợp ngói ri cổ, hai bên tường hồi trổ ô cửa sổ đắp nổi chữ "Thọ". Hệ khung gỗ lim chắc chắn chịu lực trên các hàng chân cột xẻ vuông, kết cấu vì kèo làm kiểu "Giá chiêng con Nhị". Các bức cốn chạm nổi, sơn khắc đề tài "Tứ quý hóa long" (mai, trúc, cúc, thông hóa rồng) trên nền phủ màu đen huyền xảo diệu.
Tòa Thượng điện: Nối liền với tòa Tiền đường theo cấu trúc dạng chữ Đinh ($\mathbf{J}$) khép kín. Kết cấu gồm 3 gian vững chãi, hệ thống bệ thờ xây 5 bậc dật cấp thoải dần từ trên xuống giúp các lớp tượng pháp được bài trí trang nghiêm, tôn kính, không bị che khuất tầm nhìn từ dưới lên.
Các công trình phụ trợ: Mặt bằng khu đất nội tự còn quy hoạch đồng bộ dãy Nhà Mẫu (kiến trúc bít đốc ngang) và dãy Nhà Khách chạy dọc song song tạo sự bề thế.
03Hệ thống cổ vật, tự khí và Tượng pháp
Hệ thống di vật tại di tích phong phú, được lưu giữ bảo quản cẩn thận, nổi bật gồm có:
Hệ thống tượng tròn (20 pho bằng gỗ thời Nguyễn):
Tòa Tiền đường: Bài trí cặp tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện (canh giữ bên phải) và Trừng Ác (bên trái) đắp đất cao lớn gần 3m. Kế cạnh đặt tượng Đức Chúa (Đức Ông - ngài Cấp Cô Độc quan văn tay cầm bút lông và cuốn sách, triều phục sơn son thếp vàng liền khối) và tượng Thánh Hiền đối xứng.
Tòa Thượng điện: Tầng cao nhất là 3 pho Tam Thế Phật bằng gỗ ngồi tọa thiền trên đài sen mãn khai chạm nổi 5 lớp cánh hoa đơn dầy. Tầng hai là pho tượng A Di Đà sơn son thếp vàng lớn nhất chùa (cao 1,15m, ngực không khắc chữ Vạn) kề cận tượng Quan Âm và Thế Chí Bồ tát đội mũ kim phật. Tầng ba là pho Quan Âm Nam Hải độc đáo ngồi tọa thiền kết ấn tam muội trên đài sen, phía dưới bệ có hình tượng con quỷ dữ màu xám đang nâng đài sen vượt sóng phò trợ, hai bên có tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ đứng hầu. Tầng bốn là Tòa Cửu Long điêu khắc rồng phun nước tắm cho Thích Ca sơ sinh cùng 29 pho tượng tiên đồng, tiên nữ nhỏ bao quanh chào đón đức Phật.
Di vật chất liệu giấy và kim loại: 01 quả chuông đồng cổ đúc năm Duy Tân thứ 3 (1909), quai chuông hình đôi rồng mập khỏe đấu lưng gánh sức nặng, thân chuông đúc nổi gờ triện gấm và 4 núm đánh khắc ghi bài Minh ca ngợi công đức.
Hiện vật bằng đá và sành sứ: 01 tấm bia đá biên niên sử di tích, 02 pho tượng voi đá cổ, 02 chiếc bát hương chạm bằng đá; kết hợp 03 chiếc bát hương sứ vẽ lam, 02 cây nến gỗ, 02 ống cắm hoa chạm khắc.
Dấu ấn kiến trúc cổ còn lại: Các chân cột cái bằng đá tảng xanh thời Lê chạm 3 lớp cánh sen tinh xảo, các viên gạch hòm sớ xây tường kích thước lớn in nổi hình chim phượng và 04 viên gạch cổ hình hoa chanh vuông (kích thước 26cm).
04Chỉ giới hành chính khoanh vùng bảo vệ di tích
Căn cứ theo bản đồ giải thửa vẽ năm 1985 (Tờ số 01, tỷ lệ 1/1000) và biên bản thống nhất liên ngành ngày 12/05/2000, ranh giới địa chính của di tích được phân định khép kín cho Khu vực bảo vệ I (Vùng bất khả xâm phạm) như sau:
Diện tích đất cốt lõi: Tổng diện tích đạt 3.707 $m^2$, nằm trên hai thửa đất ký hiệu số 239 và 241.
Ranh giới tiếp giáp:
Phía Đông: Tiếp giáp trực tiếp với trục Đường xóm.
Phía Tây: Tiếp giáp với thửa ruộng giải thửa số 358.
Phía Nam: Tiếp giáp trực tiếp với khu vực đất ruộng canh tác.
Phía Bắc: Tiếp giáp với hai thửa đất số 358 và thửa số 236.
Mọi hành vi đào bới, tháo dỡ cấu kiện kiến trúc gốc, lấn chiếm hoặc tự ý di chuyển cổ vật, tượng pháp ra khỏi hành lang hai thửa đất trên đều bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc theo luật định



