Chùa Phúc Hương hiện nay thuộc thôn Dục Nội, xã Việt Hùng. Đầu thế kỷ XIX, Dục Nội gọi là xã, thuộc tổng Cổ Loa, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Bắc Ninh (sau đổi là tỉnh Bắc Ninh). Thế kỷ XX, xã Dục Nội, thuộc huyện Đông Khê, tỉnh Phù Lỗ, sau đổi là huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. Sau 1945, xã gọi tên là Âu Lạc, rồi đổi tên gọi Việt Hùng thuộc tỉnh Phúc Yên (sau gọi là Vĩnh Phúc năm 1950). Năm 1961, Dục Nội có địa danh như ngày nay. Việt Hùng có 4 thôn: Dục Nội, Gia Lộc, Lỗ Giao và Lương Quán, giáp với các xã: Dục Tú (phía đông), Liên Hà và Thụy Lâm (phía bắc), Cổ Loa (phía nam) và Uy Nỗ, thị trấn Đông Anh (phía tây).
Dục Nội từ xa xưa đã có những tên gọi như Dộc Nội, Cổ Vân Trang. Trong làng còn tồn tại các địa danh như Đình Bạc, Núi Làng, Bãi Thó... kề cận với chân thành đất Cổ Loa ở phía bắc. Có thể những địa danh này xuất hiện là do sự dịch chuyển vị trí khỏi chân Thành của một quần cư để lấy đất đắp thành. Nằm liền kề với tòa thành đất, Dục Nội xưa cũng hứng chịu những tác động, đổi thay của chính trị và chiến tranh từ trung tâm Cổ Loa. Thời An Dương Vương, vùng đất Dục Nội và Gia Lộc là “tiền vệ” trong cuộc kháng chiến chống Triệu Đà xâm lược. Xét về thế đất và độ cao thấp địa lý tạo nên dải đất của thôn Dục Nội, có một dải đất chạy dài bao quanh một đoạn phía bắc cửa thành, có khu trũng là Bãi Thó đối xứng dãy gò Dục Nội, có một dải đất định làng, tất cả hình thành một dải “thành” tiền vệ ở ngoài 3 vòng thành Cổ Loa hiện nay. Dục Nội có 2 ngôi đình: đình Trung và đình Đoài thờ 3 vị thành hoàng, trong đó Thiên Cương đại vương - vị thiên thần xuất hiện từ thời Hùng Vương dựng nước giúp dân, giúp nước đánh đuổi giặc A Lỗ Châu, giặc Ân. Dục Nội có 2 ngôi chùa: chùa Dộc Đông, chùa Dộc Trung. chùa Phúc Hương được xây dựng từ sớm. Chùa được xây dựng trên một khu đất cao riêng biệt với xung quanh. Phía trước chùa giáp với đường làng, 3 phía còn lại giáp với khu vực dân cư. Chùa xây hướng đông, xung quanh kiến trúc có sân và vườn cây ăn quả. Qui hoạch mặt bằng bao gồm: cổng, sân vườn, chùa chính, nhà thờ tổ và mẫu, nhà khách. Cổng nhỏ, làm theo lối kiến trúc dân dụng có mái che lợp ngói. Theo lối vào nhỏ lát gạch chỉ, bên phải là vườn cây ăn quả, bên trái là khu vườn tháp mộ sư của chùa. Phía trước chùa chính, qua sân rộng láng xi măng là khu vườn tháp. Vườn tháp rộng, trên có 4 tháp mộ của các nhà sư trụ trì chùa đã viên tịch. Ngăn cách sân chùa với khu vườn là tường hoa bao 2 phía. Chùa chính có bố cục mặt tiền chữ “nhất”, hậu chữ “đinh” gồm tiền tế, tiền đường và thượng điện.Tiền tế Gồm một nếp nhà ngang 5 gian, xây gạch kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta, loại ngói dày, mũi hơi hất lên. Hai tường hồi xây vượt ra 70cm và kết thúc bằng 2 trụ biểu. Trụ có mặt cắt ngang hình vuông, phần trên đắp kiểu lồng đèn, thân trụ có ghi 2 đôi câu đối bằng chữ Hán. Chính giữa bờ có bức đại tự đắp 4 chữ Hán.
Mặt trước nhà tiền tế, ở 3 gian giữa hở hệ thống cửa bức bàn, 2 gian bên xây tường kín trổ 2 cửa sổ lắp gạch hoa. Mặt sau, ở 3 gian để trống thông với khoảng sân hẹp và tiền đường, 2 gian bên xây tường bao kín. Bộ khung đỡ mái gồm 6 bộ vì bằng gỗ làm theo kiểu giá chiêng kẻ chuyền. Hai vì giữa có 4 hàng chân, 2 vì còn lại có 2 hàng chân, vì hồi cột đặt trên trụ. Trên đỉnh vì là một xà nóc - thượng lương. Xà này tỳ lực bởi 2 thanh xà (gác chéo nhau theo chiều dốc mặt mái, ăn mộng qua cột cái xuống cột quân) và 2 thanh rường, 2 đầu rường gối lên 2 đầu vuông thót đáy. Toàn bộ hệ thống trên được đỡ bởi 1 câu đầu to, khỏe. Câu đầu tỳ lực, ăn mộng qua 2 đầu cột cái. Từ cột cái, 2 kẻ dưới ăn mộng qua đầu cột cái và cột quân để đỡ phần mái dưới. Phía trước, qua cột quân là hệ thống kẻ, phía sau là hệ thống bẩy hiên. Nền nhà tôn cao 30cm so với mặt sân, lát gạch men hoa. Tiền đường: Nằm phía sau tiền tế, cách 1 khoảng sân hẹp. Tiền đường là nơi thiện nam tín nữ tụ họp. Tiền đường là một nếp nhà 3 gian, xây gạch kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta, loại ngói mỏng. Hai bên tường hồi xây vượt ra 50cm trên đắp trụ biểu. Trụ có mặt cắt ngang hình vuông, thân trụ ghi câu đối chữ Hán, đỉnh là hình trái giành do 4 chim phượng chụm đôi vào nhau tạo thành. Trên bờ nóc đắp bức đại tự trổ thủng chữ ghi tên chùa. Mặt trước chùa là hệ thống cửa gỗ, phía sau, ở gian giữa thông với thượng điện, tạo cho 2 nếp nhà này (tiền đường, thượng điện) có kết cấu hình chuôi vồ. Bộ khung đỡ mái có 4 bộ vì, 2 vì giữa dựa trên kết cấu 4 hàng chân cột gỗ. Hai vì bên gác lên 2 trụ gạch. Vì làm theo kiểu “giá chiêng”, có cấu tạo như ở hai nhà tiền tế, nhưng ở đây khoảng cách giữa các thanh rường và đấu kê được bưng kín bằng những ván gỗ dày. Tại 2 bộ vì gian hồi, mái trước có 2 vì nách kiểu cốn mê (ảnh số 4, 5, 6). Nhà có hàng hiên rộng với hệ thống 4 cột hiên. Thượng điện Có kết cấu xây dựng như tiền đường gồm 2 gian 1 dĩ dọc với 2 bộ vì kèo kẻ suốt gác lên 2 cột gỗ. Mỗi vì có 2 kẻ dài gác chéo nhau theo chiều dốc mặt mái, ăn mộng với nhau ở đỉnh vì, đỡ thượng lương rồi chạy dài xuống cột cái. Bên trong, khoảng rộng giữa hai hàng cột xây bệ gạch cao dần từ ngoài vào làm tam bảo, 2 bên sát tường bao để trống làm đường chạy đàn - một nghi lễ đặc trưng của đạo Phật.
Nhà khách nằm bên trái tiền đường. Nhà gồm 5 gian xây gạch kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói. Nhà có bộ khung đỡ mái gồm 6 bộ vì gác trực tiếp lên tường bao. Vì được làm theo vì kèo kẻ suốt có kết cấu như ở thượng điện. 3 gian giữa dùng làm nơi tiếp khách, 2 gian hồi được ngăn làm nơi ở cho nhà sư trụ trì. Trang trí trên kiến trúc chùa Phúc Hương không có gì đặc biệt. Tại 2 bức cốn của vì gian hồi tiền đường có chạm nổi các họa tiết văn thực vật, rồng cách điệu Trên các bộ vì nhà tiền đường, các con rường, ván che được chạm các đề tài văn mây, sóng nước. Chùa còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị như: 02 quả chuông đồng. Chuông lớn “Phúc Hương tự chung” có niên hiệu Minh Mệnh 11 năm Canh Dần (1830) với kích thước cao cả quai 97cm, đường kính miệng 54cm. Chuông treo ở gian hồi nhà tiền đường. Một quả chuông không có chữ. 4 bia đá thời Nguyễn với những niên đại: Gia Long 11 (1812); Tự Đức 30 (1877); Bảo Đại Canh Thìn (1940) và 1 bia không ghi rõ niên đại những hoa văn diềm và trán bia thuộc phong cách thời Nguyễn, 4 tấm bia này được dựng áp hồi trái nhà tiền tế, 10 bát hương sứ men trắng hoa xanh, 2 pho tượng hậu có nghệ thuật tạo tác thế kỷ XIX. Ngoài ra còn một số đồ dùng trong nghi lễ thờ cúng hàng ngày như: cây đèn, lọ hoa, mâm bồng (nhỏ). Bài văn khắc trên chuông “Phúc Hương tự chung” treo tại gian hồi trái nhà tiền đường, đúc năm Minh Mệnh 11 (1830) cho biết: “Lúc bấy giờ, chùa Phúc Hương, xã Dục Nội có quả chuông đẹp, khi mở cửa chùa, tiếng hòa du dương, có quan hệ đến cảnh thiền rất lớn. Đến năm kia, bỗng gặp cảnh không thuận, vì thế mà tiếng chuông đã tắt từ lâu”. Như vậy, thời gian trước đó (1830), Phúc Hương tự đã là “một cảnh thiền rất lớn” trong vùng. Hiện nay, trong chùa có pho tượng hậu của một vị thái giám họ Ngô Thế. Theo gia phả dòng họ, ông làm quan dưới triều Lê Cảnh Hưng, vì có công đức đóng góp tiền của giúp dân sửa chữa chùa nên dân làng đã cho tạc tượng và thờ ông làm hậu phật tại chùa sau khi ông mất. Dựa vào nguồn tư liệu trên, ta có thể xác định niên điểm khởi dựng cho ngôi chùa là vào thời gian trước Lê Cảnh Hưng (thế kỷ XVII - XVIII) và qui mô lúc ấy là to lớn, đồ sộ.
Các lần tu sửa: Tính từ thời điểm khởi dựng, chùa được sửa vào thời Lê Trung Hưng. Vào thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX (khoảng 1812) chùa bị hư hại và được tu sửa dưới thời Minh Mệnh – niên hiệu Tự Đức 30 (1877), Bảo Đại Canh Thìn (1940) là những năm sửa chữa chùa ghi lại qua việc thập phương góp tiền công đức được khắc bia đá hiện đặt tại chùa. Tuy nhiên, các đợt tu sửa ấy không qui mô hình thức và hạng mục tu sửa hay xây mới. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, vào những năm 1946 - 1947, trong phong trào tiêu thổ chung trên toàn huyện, chùa bị rỡ bỏ phần lớn kiến trúc. Năm 1979, chùa được khôi phục lại trên đất vườn chùa xưa (vị trí chùa cũ đã làm sân kho HTX) với qui mô nhỏ, vật liệu đơn sơ và di vật nghèo nàn hơn. Gần đây, được sự quan tâm của chính quyền và sự đóng góp công của nhân dân, chùa được tôn tạo ngày một khang trang hơn. Hàng năm, chùa tổ chức các ngày lễ phật giáo theo nghi lễ truyền thống vào các kỳ: lễ Phật Đản (15/4), lễ Phật thành đạo (15/12) và lễ Vu Lan (15/7) âm lịch - lễ cùng cô hồn và phổ độ chúng sinh). Ngoài ra, chùa tổ chức giỗ tổ hàng năm vào ngày 26/3 âm lịch, tổ chức lễ theo các tuần tiết, xuân thu nhị kỳ.