Chùa Chuông có tên chữ là “Thắng Quang Tự” tức là “ chùa Thắng Quang”. Song từ ngàn đời nay cho đến ngày nay, người dân vẫn thường gọi nôm na là chùa Chuông. Chùa Thắng Quang được xây cất tại trung tâm làng Chuông, nằm ở hướng Tây Bắc sát mép tả đê sông Đáy, liền kề phía sau Đình Chuông, trên bến dưới thuyền rất thuận tiện giao lưu qua lại.
Quần thể Đình Chuông, chùa Chuông và chợ Chuông là cụm di tích văn hóa liền kề liên hoàn được bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng “ Di tích lịch sử cấp quốc gia” ngày 16-3-1985. Có thể nói chùa Chuông là ngôi chùa khá đặc biệt cả về quy mô kiến trúc và bài vị thờ Phật, thờ Thánh và thờ Mẫu.
Đây là công trình tôn giáo của cộng đồng làng xã, được xây dựng từ lâu đời với các dấu ấn kiến trúc còn lại của thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn. Với lối kiến trúc cổ kiểu chữ công với hệ thống tượng phật trên 100 pho. Điều đáng lưu ý là chùa Chuông bài trí hệ thống tượng thờ theo kiểu "Tiền thần hậu phật". Phía trước Phật đài, nhà chùa đặt vị trí trang trọng thờ tướng Đỗ Huệ và công chúa Phương Dung. Truyền rằng, Đỗ Huệ người làng Chuông đã dẫn 50 trai tráng của làng trong đó có các con trai và người trong họ gia nhập đoàn quân của Phùng Hưng tham gia đánh thành Tống Bình, Phùng Hưng phong Đỗ Huệ làm tướng chỉ huy. Còn công chúa Phương Dung là vợ của Phùng Hưng, bà đã "xuất gia tòng đạo Phật" (xuất gia theo đạo Phật) chọn đất Phương Trung xây dựng chùa chiền, mở mang cõi phật. Sau ngày bà mất dân làng gọi bà là Đức Thánh Bà và thờ ở chùa.
Các hạng mục kiến trúc chính của chùa hiện nay gồm: Tam quan, Tam bảo, nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà khách và các công trình phụ trợ, sân, vườn.
Tam quan của chùa được xây bằng gạch gồm hai tầng, tầng trên 4 mái với các đầu đao cong, tầng dưới là ba lối đi tạo kiểu vòm cuốn. Từ đây bước qua khoảng sân rộng lát gạch, qua 5 bậc thềm là tới tòa Tam bảo chùa gồm: Tiền đường, Thượng điện, Hậu đường.
Tiền đường là một nếp nhà 7 gian, tường hồi bít đốc, hai mái chảy lợp ngói ri truyền thống. Các bộ vì đỡ mái được làm thống nhất theo kiểu “thượng chồng rường con nhị, hạ kẻ chuyền”.
Thượng điện là 3 gian nhà dọc, nối từ gian giữa Tiền đường vào Hậu đường, được làm theo kiểu chồng diêm, tạo khoảng hở giữa hai tầng mái làm cho nhà cao hơn hẳn hai hạng mục còn lại. Các lớp mái ngói lô xô, ẩn hiện giữa tán lá xanh của cây cổ thụ tạo nên một không gian yên bình, thư thái, giúp Phật tử tĩnh tâm để đến gần hơn với Phật đạo.
Tòa Hậu đường cũng gồm 3 gian nhà ngang với kết cấu bộ vì đỡ mái tương tự tòa Tiền đường.
Chùa còn có hai dãy hành lang chạy dọc hai bên nối từ hồi Tiền đường sang Hậu đường, mỗi dãy gồm 5 gian, bên dưới đặt các tượng Tổ.
Về nghệ thuật trang trí kiến trúc tại chùa không nhiều, tập trung chủ yếu vào hệ thống tượng thờ trên Phật điện với hơn 100 pho được tạo tác chủ yếu từ gỗ, sơn son thếp vàng, có giá trị nghệ thuật khá cao, gồm các pho tượng: Tượng Hộ pháp, Đức Ông, Thánh Hiền, Bát bộ Kim Cương (ở Tiền đường); Tượng Tam Thế, Di Đà Tam Tôn, Quan Âm, Ngọc Hoàng, Thích Ca Sơ Sinh… (ở Thượng điện). Ngoài ra, chùa Phương Trung còn bảo lưu được khá nhiều di vật quý như: Khánh đồng đúc vào triều Thành Thái 17 (1905). Một đôi hạc đồng cao đúc vào năm 1921, quả chuông đồng có niên đại Thành Thái 17 (1905)…