Chùa Tiên Hội còn có tên chữ là “Phúc Linh tự” (chùa Phúc Linh) với nghĩa: Chùa mang lại nhiều phúc lớn và linh thiêng. Theo những ghi chép được khắc trên khánh đồng có niên đại Cảnh Hưng thứ 35 (1774) và dòng lạc khoản ghi trên câu đầu toà tiền đường thì chùa Tiên Hội có niên đại vào khoảng thời Hậu Lê, đã qua nhiều lần tu sửa vào các năm 1910, 1921, 1941.
Ngôi chùa tọa lạc trên một khu đất rộng, quay hướng tây, được xây tường cùng hàng rào tre xanh bao bọc, ẩn mình dưới những tán cây lưu niên rợp mát. Chùa được xây lối kiến trúc kiểu chữ “đinh”, gồm tiền đường và thượng điện. Nhà Tổ - nhà Mẫu được được bố trí phía sau chùa chính. Nhà Tổ gồm 5 gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta. Gian giữa là nơi đặt các pho tượng mẫu, gian bên phải đặt tượng Tổ. Phía trước ban thờ treo các bức đại tự và đôi câu đối, hồi phải ban thờ Tổ treo chiếc khánh đồng lớn, khánh được đúc năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774). Nhà Mẫu gồm 3 gian xây kiểu tường hồi bít đốc, tay ngai, kết cấu bộ vì đơn giản, trang trí hoa văn chủ yếu là tứ quý. Bên trong xây bệ thờ đặt tượng Mẫu.
Tiền đường gồm 5 gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, phía trước trổ 3 cửa. Kết cấu bộ khung được làm theo dạng kèo kìm, 4 vì giữa làm dạng chồng xà, 2 vì giữa làm kiểu kẻ luồn gối các đầu bảy. Thượng điện gồm 4 gian dọc, xây theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh. Hệ thống tượng thờ của chùa Tiên Hội rất phong phú và da dạng với 51 pho mang phong cách nghệ thuật thời Lê - Nguyễn, tiêu biểu như các pho Tam thế Phật, Quan Thế âm Đại thế nchis, Nam Tào, bắc Đẩu, Phật Di lặc... Chùa còn bảo lưu 2 tấm bia đá có niên hiệu Thiệu Trị 1 (1841) và Duy Tân thứ 4 (1910), 1 khánh đồng niên hiệu Cảnh Hưng thứ 25 (1764), khánh đồng niên hiệu Cảnh Hưng thứ 35 (1774); 2 bia đá niên hiệu Thiệu Trị thứ 1 (1841) và Duy Tân thứ 4 (1910), cùng nhiều đồ thờ có giá trị khác. Đình - chùa Tiên Hội được UBND thành phố Hà Nội xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố tại Quyết định số 1649-1650/QĐUBND/2003 ngày 25/3/2003.