Di tích thuộc miền Oai Nỗ xã Uy Nỗ, xưa kia có tên nôm gọi là làng Tó. có tên chữ là Khánh Sơn tự, cũng như nhiều ngôi chùa cổ khác ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, dựng lên nhằm mục đích làm nơi tôn thờ đạo Phật của cộng đồng cư dân làng xã. Đồng thời đây còn là nơi gửi gắm lòng tin của mọi người, là chỗ dựa tinh thần, cầu mong sự che chở của đức Phật.
Trải qua bao biến thiên của thời gian, sự tác động của chiến tranh, thiên nhiên và con người đã làm mất đi những tư liệu, văn bản ghi chép về sự ra đời, phát triển của ngôi chùa cổ này. Trong bản Ngọc phả ghi chép về Triệu Việt Vương có đoạn nhắc đến khi vua “thua chạy đến trang Uy Nỗ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bắc thấy ở đây có ngôi chùa Khánh Sơn () liền đem quân đóng tại đó”. Điều đó cho thấy, đã tồn tại từ rất lâu đời. Do chiến tranh, thiên nhiên và con người tác động những tư liệu, văn bản ghi chép về sự ra đời, phát triển của ngôi chùa cổ này đã bị thất lạc. Hiện nay một số dấu ấn vật chất và các chi tiết trong kiến trúc may mắn còn tồn tại ở đây tuy không cho phép dựng lại một cách hệ thống ngôi chùa, nhưng chúng cũng cho thấy lịch sử tồn tại của từ đầu thế kỷ XIX trở lại đây. Đặc biệt là lần trùng tu lớn vào năm 1993, quy mô chùa giữ nguyên vẹn như ngày nay.
tọa lạc trên một khu đất cao ráo, rộng thoáng, trong khu vực cư trú đông đúc của chợ Tó. Ngoài phần kiến trúc chính, di tích còn có khuôn viên cây xanh bao quanh tạo cảnh quan và sự thanh bình, tĩnh mịch nơi cửa thiền. Xung quanh chùa là hệ thống tường bao kín, tách biệt với khung cảnh bên ngoài.
Cổng xây dựng kiểu tam quan gác chuông, 2 tầng, tầng trên treo chuông, tầng dưới trổ 3 cửa một cửa chính và hai cửa phụ là lối ra vào chùa. Nhà tiền đường của chùa gồm 5 gian xây gạch kiểu tường hồi bít đốc. Chính giữa bờ nóc xây cao hình chữ nhật, trên đó có ghi tên di tích bằng ba chữ Hán lớn “Khánh Sơn tự”. Bộ khung nhà tiền đường có kết cấu kiểu vì kèo “giá chiêng, bẩy hiên”. Các con hoành, xà, kẻ được bào trơn, bào soi đơn giản. Hiện nay, trên khối kiến trúc vật chất của chùa mang dấu ấn của lần trùng tu lớn năm 1993 chỉ còn lưu lại ba chiếc đầu dư đỡ quá giang được chạm nổi đầu rồng, miệng ngậm ngọc với những đao mác thẳng tắp chạy về phía sau mang dấu ấn của sự chuyển tiếp từ thời Lê sang Nguyễn với phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII - XIX. Thượng điện gồm 3 gian chạy dọc nối liền với gian giữa nhà tiền đường. Nhà có kết cấu kiểu vì kèo quá giang, bào trơn đóng bén. Nhà Tổ, nhà Mẫu mới được tu bổ tôn tạo, nằm bên trái tam bảo với lối kiến trúc truyền thống phục vụ nhu cầu tâm linh của nhân dân.
Giá trị nghệ thuật của di tích thể hiện tập trung qua hệ thống tượng tròn. Các pho tượng ở đây kích thước không lớn, niên đại tạo tác trải dài từ thế kỷ XIX - XX, được tạo tác công phu, tỉ mỉ, đường nét cân đối, hài hòa, trau chuốt, mỗi pho thể hiện được tính cách riêng của từng nhân vật được thờ, làm cho con người khi đứng trước mỗi pho tượng đều cảm nhận được khí thiêng từ những ánh mắt, nụ cười của chư Phật. Các tượng Thánh Mẫu ở mang nét đẹp dân dã, đậm tính nhân văn, với những giá trị điển hình của nghệ thuật điêu khắc tượng Mẫu dân gian truyền thống thế kỷ XIX. Nghệ thuật chạm khắc gỗ trong chùa được tập trung ở một số chi tiết các đầu dư và các bức cửa võng, khám thờ... Trong các họa tiết trang trí, đề tài được chú ý diễn tả nhiều hơn cả là hình tượng con rồng với những trang trí đầy sáng tạo và độc đáo.
Là một ngôi chùa của cộng đồng cư dân thôn Oai Nỗ, mang giá trị lớn về mặt địa lý lịch sử. Chùa là cột mốc ghi sự lại tồn tại của một ngôi làng cổ và sự phát triển đô thị Hà Nội. Với tổng thể tôn giáo thờ Phật, là nơi lưu giữ và chứng kiến tấm lòng mộ Phật của nhân dân địa phương, là trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng cư dân làng xã. Với những giá trị về lịch sử và nghệ thuật (Khánh Sơn tự) đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Thành phố tại Quyết định số 4272/QĐUB/1999 và Quyết định số 589/QĐ-UB ngày 26/01/2006.