HanoiGo

Di tích lịch sử
Chùa Vân Hoạch (Di Lặc tự)
★ 5,0 · 100 đánh giá
•
Đã đóng
Mở lại 8:00 mai
···
Miễn phí
Miễn phí

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Vân Hoạch còn gọi là chùa Di Lặc, tọa lạc tại thôn Xuân Canh, xã Xuân Canh, nay là xã Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Đông Anh Là một vùng đất cổ nằm ở phía bắc Thủ đô, có bề dày phát triển và truyền thống văn hóa đặc sắc. Theo dấu lịch sử, từ thời kỳ dựng nước, Đông Anh đã sớm trở thành địa bàn sinh hoạt của cộng đồng cư dân Lạc Việt. Dưới thời An Dương Vương, Đông Anh hiện nay trở thành trung tâm của nước Âu Lạc với kinh thành Cổ Loa. Thời Hán chiếm Nam Việt, Đông Anh thuộc quận Giao Chỉ. 

Lịch sử và nhân vật

 Hiện chưa xác định được thời điểm khởi dựng chính xác của chùa. Tuy nhiên, căn cứ vào văn bia có niên đại Dương Hòa năm thứ 7 (1641), có thể khẳng định ngôi chùa được xây dựng từ thế kỷ XVII và đã nhiều lần được tu bổ, tôn tạo. Năm 1946, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, máy bay địch ném bom, bắn phá vào pháo đài Xuân Canh, khiến chùa bị hư hại nặng nề. Trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, ngôi chùa ngày nay mang diện mạo mới với quy mô rộng lớn, kiến trúc bề thế và bổ sung thêm nhiều hạng mục công trình.

Kiến trúc cảnh quan 

Ngôi chùa tọa lạc trên thế đất cao và thoáng rộng giữa làng, bao quanh là khu dân cư sinh sống. Chùa quay hướng Đông. Hiện nay, quần thể kiến trúc chùa gồm nhiều hạng mục thờ tự quan trọng như: Tam Quan, Tam Bảo, Nhà Mẫu, Nhà Tổ, Tịnh Xá và Vườn Tháp.
Tam Quan 
Cổng Tam Quan có kiến trúc bề thế, cân đối và mang đậm phong cách Phật giáo truyền thống kết hợp nét hiện đại. 
Công trình được xây dựng với ba lối vào chính, chia thành ba gian đối xứng, mỗi gian gồm ba tầng mái chồng diêm uy nghi, các đầu đao uốn cong mềm mại, tạo nên dáng vẻ thanh thoát. Mái được lợp ngói mũi hài nhiều lớp, đầu đao cong vút hình lưỡi rồng, gắn kèm các tượng linh thú và hoa văn tinh xảo. 
Hệ thống trụ cột được khắc nổi câu đối bằng chữ Hán, đỉnh trụ gắn lân chầu, khung cửa được đắp nổi hoa văn rồng mây, hoa lá cách điệu, các ô vòm cửa chạm khắc tinh vi hình hổ phù, tạo nên sự rực rỡ và trang nghiêm. Toàn bộ cổng được xây bằng gạch, bê tông sơn màu vàng nâu, kết hợp cùng hệ thống cửa gỗ. 
Tại mỗi lối đi đều bố trí cầu thang dẫn lên các tầng trên, đồng thời được liên kết với nhau qua những lối thông, tạo sự kết nối hài hòa trong tổng thể kiến trúc.
Tam Bảo 
Công trình được xây dựng với lối kiến trúc hiện đại, theo lối toà nhà hai tầng đổ mái bằng, tiết diện hình vuông. Xung quanh là hàng hiên chạy quanh bốn phía và có cầu thang dẫn lên các tầng. 
Trên nóc tầng hai được xây dựng một toà  nhà theo kiến trúc truyền thống, có kết cấu theo dạng chữ Công (工 ) gồm hai tầng mái chồng diêm, mỗi tầng bốn mái, tường hồi bít đốc. 
Tiền Đường có kiến trúc gồm ba gian hai chái, mái lợp ngói ta truyền thống, các đầu đao uốn cong mềm mại tạo hình đầu rồng, hai bờ nóc gắn con kìm, chính giữa đỉnh mái đặt bánh xe pháp luân trên đài sen. Hệ thống cửa gỗ kiểu thượng song hạ bản càng làm tăng vẻ uy nghi, cổ kính.
Kết cấu được chia thành bốn bộ vì kèo, kết cấu đồng dạng theo kiểu vì giá chiêng, mái phần thượng thủ – hạ ngồi. Gian giữa có cốn mê chạm nổi hoa văn vân triện xen lẫn họa tiết hoa lá mềm mại. Hai bức cốn ở gian hồi khắc họa hình rồng trong thế uốn lượn sống động. Toàn bộ kết cấu kiến trúc gỗ này được hoàn thiện vào cuối thế kỷ XX.
Hệ thống tượng thờ trong chùa hiện có 22 pho tượng lớn nhỏ bằng gỗ. Nổi bật nhất là pho Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn có niên đại từ thế kỷ XVII – XVIII. Tượng gần bằng người thật, thể hiện trong tư thế ngồi trên đài sen, tỷ lệ hài hòa, cân đối. Đài sen có niên đại muộn hơn (thế kỷ XVIII -XIX), gồm nhiều lớp cánh kép xếp chồng, cánh sen múp phồng, lòng cánh chạm hoa cúc và văn xoắn tinh xảo.
Khuôn mặt Quan Âm nhân hậu, đầy đặn, toát lên vẻ hiền từ. Đầu đội vương miện nhiều tầng nhỏ, trên đỉnh để lộ búi tóc. Tượng có tổng cộng 36 cánh tay, trong đó có hai đôi tay chính: đôi thứ nhất chắp trước ngực theo thế ấn Liên hoa, đôi thứ hai đặt trên đùi trong thế ấn Thiền định. Ba mươi hai cánh tay còn lại bố trí cao thấp khác nhau, bàn tay đều kết ấn quyết, chưa cầm pháp khí. Thân tượng thanh mảnh, áo để hở tay với nhiều nếp gấp uyển chuyển. Đặc biệt, phần đầu vạt áo được chạm bong, buông lửng thành múi nhọn mềm mại, gợi dấu ấn phong cách điêu khắc thời Mạc (thế kỷ XVI), cho thấy sự kế thừa tinh hoa nghệ thuật qua nhiều giai đoạn.
Tượng hậu tạc trên đá gồm 12 pho, kích thước nhỏ hơn người thực, đều ở trong tư thế ngồi khoanh chân, khuôn mặt mang nhiều nét dân gian. Các pho tượng này tạc trên 5 tấm bia đá, trên mỗi tấm bia đá đều tạo khung nhấn sâu để trang trí và để tạo độ nổi của mỗi pho tượng. Trong tổng số 12 pho tượng, chỉ có 4 pho tượng hậu (ở trên 2 tấm bia) là trên trán bia tạc hình tượng Phật Quan Âm ngồi trên đài sen. Riêng tấm bia tạc hình 3 pho tượng hậu, pho tượng ở giữa thể hiện tay theo kiểu kết ấn tam muội, hai pho hai bên áo mặc hở ngực, cổ đeo dây anh lạc, tay phải kết ấn cam lô, tay trái để ngang bụng mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII – XIX.
Nối giữa Tiền Đường và Hậu Cung phía sau là gian Ống muống. Hậu Cung được thiết kế rộng rãi, gồm hai tầng mái, là không gian thờ chính trong Tòa Tam Bảo.
Đặc biệt các tòa kiến trúc trong chùa đều được liên kết với nhau qua các cầu thang nối giữa các tòa nhà trong khuôn viên. 
Tịnh Xá
Hai bên Tam Bảo là hai dãy Tịnh Xá xây dựng theo lối kiến trúc nhà tầng. Mỗi dãy gồm hai tầng và mỗi tầng được phân chia thành nhiều gian phòng với công năng khác nhau, là không gian dành cho việc nghỉ ngơi, tiếp đón khách, đồng thời bố trí nhà khách và khu bếp phục vụ sinh hoạt.Các dãy nhà đều được nối liền với Tam Bảo bằng hệ thống cầu thang bắc ngang thông với nhau. 

Di vật 

Chùa còn lưu giữ 1 chuông đồng được đúc vào năm Cảnh Thịnh 6 (1798), 4 tấm bia nói về việc trùng tu, sửa chữa và bầu hậu ở chùa. 
1. 
Bia Di Lặc tự bi công đức có niên đại sớm nhất  vào ngày 14 tháng 2 năm Dương Hòa 7 (1641). 
2. 
Tấm bia thứ hai có niên đại Chính Hòa 23 (1692). 
3. 
bia trụ 4 mặt Hậu phật bi ký, tấm bia đó có niên đại Khải Định 9 (1924) nói về việc bầu hậu của chùa. 
Ngoài ra chùa còn lưu giữ 2 bát hương đồng thế kỷ XIX, 1 khánh thờ gỗ thế kỷ XIX, 1 hoành phi gỗ đời vua Thành Thái (nhà Nguyễn), một câu đối đắp vữa, ngoài ra còn có các di vật như lộc bình, cây đèn, cây nến, mâm bồng…

Xếp hạng 

Chùa được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia ngày 10/8/2004.
Mẹo từ An: Nên đến sớm để có trải nghiệm thoáng đãng
Biết trước khi đi
Vé & miễn giảm
Miễn phí
Khả năng tiếp cận
Thuận tiện di chuyển bằng taxi hoặc xe buýt.
Cổng chính
Chùa Vân Hoạch Di Lặc Tự
Du khách nói gì
5,0
★★★★★
100 đánh giá Google
HanoiGo
Cổng du lịch chính thức của Hà Nội — điểm đến, ẩm thực, sự kiện và lưu trú trong một nơi.
Khám phá
Điểm đến
Ẩm thực
Sự kiện
Lưu trú
Hỗ trợ
Trò chuyện với An
Hotline: 0904910585
Cơ quan
UBND thành phố Hà Nội
Điều khoản sử dụng
© 2026 HanoiGo · UBND thành phố Hà Nội