Câu chuyện điểm đến
01Lịch sử hình thành và Thờ phụng
Lịch sử địa phương: Thôn Vĩnh Thượng, xã Sơn Công tọa lạc bên bờ sông Đáy cổ, mảnh đất có truyền thống khoa bảng lâu đời với ba vị tiến sĩ thời Lê (tiến sĩ Ngô Thái Đoan, Ngô Văn Oánh và Đỗ Đức Thắng). Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, thôn có 20 liệt sĩ và 01 Mẹ Việt Nam Anh hùng.
Niên đại xây dựng: Căn cứ kết cấu kiến trúc, hệ thống tượng Phật và di văn Hán Nôm, di tích được nhận định khởi dựng vào thời Nguyễn. Chùa trải qua các đợt trùng tu lớn vào các năm 1993, 2009 (xây mới Tam quan) và tôn tạo tường bao, nhà Tổ, nhà Mẫu trong những năm gần đây.
Tín ngưỡng thờ phụng: Chùa thờ Phật và chư vị Bồ tát theo phái Đại Thừa (Tam Thế Phật, Di Đà, Quan Âm...), kết hợp phối thờ Tam tòa Thánh Mẫu, Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo), các vị Tổ sư và các vị Hậu Phật nhằm đề cao tính khuyến thiện, trừng ác, giáo dục nhân ái.
02Khảo tả công trình Kiến trúc - Nghệ thuật
Dựa trên tài liệu bản vẽ ghi hiện trạng (bản vẽ_3.pdf), di tích nhìn về hướng Tây Nam (hướng về miền đất Phật), kết cấu dạng chữ Đinh ($T$) nguy nga kết hợp các hạng mục phụ trợ liên hoàn:
Tam quan: Xây dựng theo kiểu cung đình bằng vôi gạch bề thế. Gồm 6 cột trụ biểu đế thắt cổ bồng, đỉnh đắp tứ phượng chầu chụm đuôi cách điệu. Khoảng giữa các cột trổ 3 cửa cuốn vòm, phía trên xây các tòa lầu 2 tầng 8 mái đao cong lợp ngói ri, phần cổ diêm tòa lầu giữa đắp nổi chữ Hán "Cảnh Linh Tự".
Tòa Tiền đường: Ngôi nhà ngang gồm 3 gian 2 chái, hệ thống mái làm theo kết cấu 4 mái chảy với các góc đao cong vút trang trí rồng, phượng cách điệu. Hai đầu bờ nóc đắp đôi rồng lá ngậm bờ nóc, chính giữa bờ nóc đắp hai rồng chầu hổ phù đội biểu tượng Phật giáo, mái trước giật cấp làm hệ mái kép đắp nổi 3 chữ tên chùa. Khung vì kèo gỗ chịu lực vững chãi.
Tòa Thượng điện: Nối vuông góc từ gian giữa Tiền đường chạy dọc ra phía sau. Bộ khung gồm 4 hàng cột bê tông lớn chịu lực nâng đỡ hệ mái làm theo kết cấu nhà vuông 2 tầng 8 mái lợp ngói mũi (tượng trưng cho vũ trụ luận Thái cực - Lưỡng nghi - Tứ tượng - Bát quái biến hóa). Đỉnh mái thượng điện đắp nổi hổ phù đội mặt trời lửa oai nghiêm.
Nhà Tổ và Nhà Mẫu: Nằm phía sau và bên phải tòa Thượng điện. Nhà Tổ gồm 3 gian bít đốc hồi lợp ngói, vì kèo quá giang gối tường giản dị. Nhà Mẫu gồm 3 gian ngang chia thành tiền tế và hậu cung, vì kèo kiểu "vì kèo quá giang trốn cột, kẻ bẩy hiên" vững chắc.
03Hệ thống Di vật, Cổ vật và Tự khí
Hệ thống đồ thờ tự tại chùa đa dạng về chất liệu (gỗ, đồng, sành sứ), phân bổ ngăn nắp (khoảng trên 40 pho tượng):
Cổ vật kim loại tiêu biểu: 01 quả chuông đồng cổ đúc năm Thành Thái thứ 19 (1907). Thân chuông hình trụ màu vàng, quai chuông tạo tác 2 đầu rồng cách điệu đấu lưng vào nhau hình cánh cung, thân đúc nổi 4 núm tròn và bổ ô khắc ghi di văn chữ Hán về việc bầu hậu, trùng tu chùa (minh chứng tư liệu tại tập ảnh_3.pdf).
Hệ thống tượng Phật tại Tam bảo (22 pho):
Lớp 1 (Cao nhất): Bộ tượng Tam Thế Phật gồm 3 pho tạc ngồi thiền định trên đài sen, pho giữa mang phong cách cuối XIX, u nhục kháo nổi rõ.
Lớp 2: Tượng A Di Đà (ngực lộ chữ Vạn) cùng tượng Nhị vị Bồ tát đứng và tượng Quan Âm Chuẩn Đề sáu đôi bàn tay kết ấn.
Lớp 3: Tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Ngọc Hoàng Đại Đế ngồi trên ngai đội mũ bình thiên cầm lệnh bài, kề cận tượng Nam Tào, Bắc Đẩu cánh chuồn.
Lớp 4 (Dưới cùng): Tòa Cửu Long bằng gỗ chạm chín con rồng uốn khúc vòm cầu bao quanh tượng Thích Ca sơ sinh tay chỉ trời chỉ đất.
Tượng tại Tiền đường: Tượng Đức Ông mặt đỏ mũ cánh chuồn, tượng Thánh Tăng đội mũ thất phật mặc áo cà sa thếp vàng, tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện và Trừng Ác cưỡi trên mình sư tử oai phong.
Hiện vật tại Nhà Tổ & Nhà Mẫu: Tượng Tổ sư Đạt Ma áo cà sa khoác 2 lớp ngồi thiền. Nhà Mẫu đặt tượng Tam tòa Thánh Mẫu áo nhiều nếp (xanh, đỏ, trắc), tượng Mẫu Sơn Trang, tượng Đức Thánh Trần mặc áo choàng đỏ đi hia, tượng hầu Tiên Đồng - Ngọc Nữ.
Hoành phi, Câu đối & Cửa võng: Hoành phi gỗ đề chữ Hán "Sơn Anh Hải Tú", "Y Chính Trang Nghiêm", câu đối phẳng gấm triện gấm nền vàng chữ đen, kết hợp hệ thống 02 bức cửa võng sơn son thếp vàng chạm nổi đề tài Long ly quy phượng, Tứ quý tinh xảo.
04Công tác khoanh vùng và Bảo vệ di tích
Căn cứ theo bản đồ giải thửa (bản đồ hiện trạng...pdf) và biên bản thống nhất liên ngành năm 2018 (Biên bản khoanh vùng...pdf), di tích được quản lý bằng hành lang pháp lý nghiêm ngặt:
Chỉ giới khoanh vùng: Do chùa nằm biệt lập ổn định ngoài bãi cánh đồng làng, các yếu tố gốc được bảo tồn nguyên vẹn nên Hội nghị thống nhất chỉ khoanh vùng Khu vực bảo vệ I, không khoanh vùng Khu vực bảo vệ II.
Diện tích khu vực bảo vệ I: Diện tích 8.150,1 $m^2$ giới hạn bởi 17 điểm mốc khép kín (tỷ lệ 1/500).
Phía Bắc: Giáp đường bê tông liên thôn và đất thổ canh xã Sơn Công.
Phía Nam: Giáp đất thổ canh và mương thoát nước bê tông.
Phía Đông: Giáp ao làng, bãi canh tác và đê sông Đáy.
Phía Tây: Giáp trục đường bê tông chính và đất canh tác.
Quy định nghiêm cấm: Nghiêm cấm mọi hoạt động xây dựng, khai thác trái phép hay đào bới làm thay đổi nguyên trạng cảnh quan kiến trúc, di vật bên trong chỉ giới di tích. Cơ quan chức năng lưu ý địa phương cần sớm có phương án xử lý, di dời tượng Bạch y đặt ở sân chùa (do không phù hợp phong tục thờ phụng Bắc tông) và gỡ bỏ các tấm xi măng khắc tên người công đức bằng chữ quốc ngữ gắn sai quy cách trên tường hồi chùa chính.



