Đền Hương Gia tọa lạc bên bờ bắc sông Cà Lồ (còn gọi là sông Ngũ Huyện Khê) – chi lưu xưa của sông Hồng đổ nước về ngã ba Xà, hợp vào Lục Đầu Giang; đây là vùng đất tiếp giáp giữa miền trung du và đồng bằng, nơi lưu truyền nhiều truyền thuyết dân gian gắn với dòng sông. Đền quay mặt hướng đông nam. Nhìn tổng thể, di tích được xây dựng theo lối bố cục truyền thống của đền thờ Thánh Tam Giang vùng ven sông Bắc Bộ, các hạng mục nối tiếp nhau theo một trục thần đạo từ ngoài vào trong: nghi môn – bình phong – sân đền – tòa tiền tế – phương đình – trung tế – hậu cung; hai bên sân có nhà hành lang (tả hữu vu), trong khuôn viên còn có nhà bia lưu giữ bia đá cổ. Toàn bộ được bao bọc bởi tường xây, xen những cây cổ thụ tỏa bóng, tạo cho ngôi đền dáng vẻ cổ kính, trầm mặc bên dòng sông.
Đền Hương Gia còn là di tích lưu niệm nhiều sự kiện cách mạng của địa phương: thời kỳ Pháp tạm chiếm (1947–1954), đền là cơ sở bảo vệ, nuôi giấu cán bộ, du kích hoạt động trong lòng địch, bám đất bám dân giữ vững cơ sở kháng chiến; thời kỳ chống Mỹ cứu nước, đền là nơi sơ tán của bộ phận chỉ huy sở không quân sân bay Nội Bài, nơi các chiến sĩ không quân Việt Nam cùng chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên từng đóng quân, trong đó có các anh hùng không quân Trần Hanh, Anh Bảy, Anh Cốc, Anh Chiêu. Đặc biệt, đúng mồng 1 Tết nguyên đán Đinh Mùi (09/02/1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm hỏi, chúc Tết chuyên gia Liên Xô và cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ tại đình.
. Với những giá trị kiến trúc, nghệ thuật và lịch sử đặc sắc, đền Hương Gia được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1990.
Đền Hương Gia thờ hai vị Trương Hống, Trương Hát – được nhân dân tôn là Đức Thánh Tam Giang. Đền còn lưu giữ bản thần tích do Nguyễn Bích phụng soạn vào giữa thế kỷ XVIII, kể về Đức Thánh Mẫu họ Phùng, hiệu Từ Nhan, quê ở xã Vân Mẫu, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. Tương truyền bà nằm mộng thấy thần Giao Long quấn quanh mình khi tắm ở sông Lục Đầu, từ đó mang thai và sinh một bọc bốn trai một gái, đặt tên là Hống, Hát, Lừng, Lẫy và Đạm Nương. Hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước của Triệu Quang Phục chống giặc Lương giữa thế kỷ VI, bốn anh em chiêu mộ nghĩa binh, lập công lớn, được phong tướng. Sau khi Lý Phật Tử cướp ngôi Triệu Việt Vương, hai ông khước từ ra làm quan, giữ trọn khí tiết trung thần, tuẫn tiết trên sông Vũ Bình và Nam Bình; cảm phục công ơn để lại ruộng đất cho dân làng, nhân dân lập đền phụng thờ.
Mở đầu di tích là tòa nghi môn bề thế xây kiểu cổng tam quan có mái, gồm một cổng giữa lớn và hai cổng bên nhỏ hơn, tất cả đều tạo vòm cuốn. Mỗi lối cổng được lợp một bộ mái đao cong riêng, bờ nóc đắp nổi lưỡng long chầu, các đầu đao uốn hình rồng, dưới diềm mái là dải chữ Hán đại tự và những vế câu đối chạy dọc thân trụ ca ngợi công đức Đức Thánh Tam Giang. Cổng chính lắp bộ cửa sơn màu nâu đỏ, hai cổng bên có cửa nhỏ để ra vào thường ngày. Thân cổng quét màu xám xanh, điểm các mảng phù điêu và ô trang trí; nối tiếp hai bên là hệ tường bao chạy dài, mặt tường đắp các ô lồng đèn viền đỏ tạo nhịp điệu duyên dáng. Trước cổng là khoảng sân lát rộng, bên cạnh có cây cổ thụ tán lớn tỏa bóng. Nằm ở đầu trục thần đạo, nghi môn vừa phân định ranh giới giữa không gian đời thường với chốn linh thiêng, vừa là điểm nhấn kiến trúc uy nghiêm, định hướng cho toàn bộ bố cục của di tích.
Qua nghi môn, trên trục thần đạo là một bức bình phong xây kiểu có mái – phần thân đắp nổi chữ Hán sơn son thếp vàng, bên trên lợp một bộ mái ngói nhỏ với đầu đao cong, đặt trên hai trụ đỡ. Theo hồ sơ khảo sát, ở khu vực cổng, bình phong còn có các cột trụ biểu kiểu đèn lồng cùng hình tượng voi và sư tử hí cầu chầu hai bên, những thành phần trang trí quen thuộc ở đình, đền làng Bắc Bộ, vừa có chức năng che chắn tầm nhìn trực diện vào nơi thờ tự theo quan niệm phong thủy dân gian, vừa tượng trưng cho sức mạnh hộ vệ chốn linh thiêng. Bao quanh bình phong là khoảng sân đền rộng rãi lát gạch đỏ ghép mạch đều. Đây là nơi tụ họp, bày lễ, tế lễ và rước kiệu của cộng đồng trong các dịp lễ hội. Từ sân, các bậc thềm đá dẫn lên tòa tiền tế; hai bên sân là dãy nhà hành lang, phía sau bình phong mở dần vào các lớp không gian thờ tự, tạo chiều sâu và sự tôn nghiêm cho tổng thể.
Tòa tiền tế nằm ở lớp ngoài cùng của khu thờ tự, là nơi cử hành các nghi thức tế lễ, dâng hương của cộng đồng. Tòa gồm năm gian, bốn hàng cột, hai đầu hồi xây tường bít đốc, bộ vì kết cấu kiểu “thượng kèo hạ bẩy” (bốn vì), kèo xó trên cột tròn; các cột kê trên tảng đá tròn, khoảng cách cột cái – cột quân 1,2 m, cột cái – cột cái 1,8 m, gian giữa rộng 2,5 m, gian con 2,2 m. Nhìn từ sân, tòa tiền tế hiện lên với bộ mái ngói ta rêu phong cổ kính, bờ nóc đắp nổi đàn rồng chầu công phu, các đầu đao vươn cong; hàng hiên để mở với những cột gỗ lim chân kê tảng đá, ba gian giữa lắp cửa gỗ, hai đầu hồi đắp ô lồng đèn viền đỏ, trước hiên treo đèn lồng đỏ.
Không gian nội thất tiền tế là nơi trưng bày nhiều mảng chạm khắc và đồ thờ tự có giá trị. Trên cao treo bức biển gỗ lớn sơn son thếp vàng đề “Chính thượng từ” cùng bức y môn chạm lưỡng long chầu thái cực, phượng cầm dải lụa và hổ phù, hai bên chạm rồng cuốn thủy; hệ cửa võng, cốn gỗ đều được sơn son thếp vàng lộng lẫy. Hai bên tiền tế đặt hai tượng ngựa thờ sơn đỏ và trắng cao 2,2 m, yên ngựa chạm phượng, rồng chầu mặt nguyệt, rùa phun nước, con ly cưỡi sóng nước và mặt hổ phù, ngựa đặt trên giá có bốn bánh xe – tác phẩm nghệ thuật thế kỷ XIX. Cùng với đó là bốn giá bát bửu (hai mươi thanh khí), bộ kiệu bài vị chạm rồng, phượng, ly và mười đôi câu đối cổ, tạo cho tòa tiền tế vẻ trang nghiêm, rực rỡ.
Nằm giữa tiền tế và trung tế trên trục thần đạo là phương đình – một nếp kiến trúc nhỏ bốn mái, dựng trên bốn cột gỗ vuông (tiết diện khoảng 15 x 15 cm) kê tảng đá, mặt bằng rộng chừng 2,6 m x 2,4 m. Bộ mái trang trí nóc kìm, bốn góc đắp rồng và ly, hai mặt chạm hổ phù; mái dưới bốn góc đắp rồng, bốn góc còn lại ghép hình rùa, ly, diềm mái chạm lá sòi. Với kết cấu bốn cột để trống bốn phía, phương đình tạo sự thông thoáng, là nơi đặt kiệu bát cống, hương án trong các kỳ tế lễ, rước sách ngoài trời, đồng thời là không gian đệm nối liền tiền tế với khu vực thờ tự bên trong. Nhìn từ phía trong đền, khu vực phương đình – trung tế còn được trang hoàng bằng bức y môn thêu rồng nhiều màu, rủ tua rực rỡ, khung cho tầm nhìn hướng vào cung cấm. Các đề tài rồng, ly, hổ phù, rùa cùng mô-típ lá sòi trên phương đình đều là những linh vật và hoa văn quen thuộc của mỹ thuật truyền thống thế kỷ XVIII–XIX, thống nhất với phong cách chung của ngôi đền.
Nhà trung tế là công trình nối liền tiền tế với hậu cung, giữ vai trò không gian hành lễ chính của đền – nơi diễn ra các nghi thức tế lễ trang trọng trong những ngày lễ hội, giỗ Thánh. Tòa gồm năm gian hai vì, bốn hàng cột: bốn vì kèo giữa hạ kẻ, hai vì bên làm kèo góc cột xó; cột cái đường kính chừng 0,5 m kê trên tảng đá, khoảng cách cột cái – cột quân 1,2 m, cột cái – cột cái 2,2 m, gian giữa rộng 2,2 m. Không gian nội thất trung tế gây ấn tượng bởi hệ vách gỗ, cửa võng, bức cốn chạm khắc dày đặc, sơn son thếp vàng lộng lẫy: gian giữa treo hoành phi “Vạn cổ tối linh” (linh thiêng muôn thuở); cửa võng chạm lưỡng long chầu nguyệt, phía trên là tứ quý, phía dưới là hổ phù, long mã; các bức cốn, xà chạm rồng, nghê, long mã sinh động; hai bên treo nhiều đôi câu đối cổ, tiêu biểu như “Danh tướng tức thần linh…” và “Quân doanh vi miếu mạo, Hương Gia, Gia Hạ cộng Trường giang”.
Tại trung tế còn bảo lưu nhiều hiện vật quý: quả chuông đồng đúc năm Tự Đức nguyên niên (1848) cao 65 cm – theo bài minh khắc trên chuông, chuông do các bậc kỳ lão, lý dịch và thiện nam tín nữ trong ấp Hương Gia góp đồng đúc để dùng trong việc cúng tế, lưu truyền lâu dài; cùng án thư chạm rồng, hoa cúc, hổ phù, long mã, phượng cầm hoa; một quán tẩy (vật dụng tẩy rửa trước khi hành lễ) chạm rùa, cá, long mã; các bộ đồ thờ bằng gỗ, đồng và sứ. Quả chuông cổ không chỉ là pháp khí mà còn là hiện vật gốc có giá trị xác định niên đại, các mốc trùng tu, tôn tạo của di tích qua thời gian.
Hậu cung (nhà chuôi vồ) là nơi thâm nghiêm nhất của đền, xây theo hướng ăn sâu vào trong, kết cấu bốn hàng cột kiểu chồng giường, cột cái – cột con cách nhau 1,5 m, cột cái – cột cái 2,2 m, kê trên tảng đá. Đây là nơi đặt cỗ ngai thờ cùng bộ mũ, hia và hòm sắc. Trên cao treo bức hoành phi “Nam thiên chính khí” (chính khí trời Nam), cùng các bức “Vạn cổ tối linh”, “Càn thủy khôn sinh” (trời mở đất sinh); phía dưới là cửa võng chạm lưỡng long chầu nguyệt sơn son thếp vàng, khám thờ đặt ngai và tượng thờ, án gian chạm phượng, hoa; hai bên bài trí đôi hạc thờ, đôi lộc bình cùng hệ thống câu đối. Đáng chú ý, trong không gian thờ tự còn có những bức chạm mang đề tài độc đáo phản ánh sinh hoạt như cảnh “thổi sáo”, “bắn súng”, cùng các bức cốn chạm rồng cuốn thủy, rùa, long mã.
Hậu cung đền Hương Gia hiện còn lưu giữ mười lăm đạo sắc phong của các triều đại phong kiến, đạo sớm nhất mang niên hiệu Vĩnh Hựu (1735–1740), muộn nhất đến niên hiệu Khải Định; cùng bài vị, hòm đựng sắc, kiệu bát cống, kiệu mui luyện, sập thờ hoa văn chữ triện và nhiều đồ thờ tự khác. Với hệ thống hoành phi, câu đối, sắc phong và các di vật cổ còn được bảo lưu, hậu cung nói riêng và đền Hương Gia nói chung là nguồn tư liệu quý về tín ngưỡng thờ Đức Thánh Tam Giang của cư dân ven sông Cà Lồ.
Trong quần thể di tích còn có nhà thờ Quốc Mẫu – nơi phụng thờ Đức Thánh Mẫu, thân mẫu của năm anh em họ Trương được tôn là Đức Thánh Tam Giang. Theo bản thần tích lưu tại đền, Đức Thánh Mẫu họ Phùng, hiệu Từ Nhan, quê ở xã Vân Mẫu, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh; tương truyền bà nằm mộng thấy thần Giao Long quấn quanh mình khi tắm ở sông Lục Đầu, từ đó mang thai và sinh một bọc bốn trai một gái – về sau đều trở thành những vị tướng tài, hóa thánh, được nhân dân lập đền phụng thờ. Việc dành riêng một nếp nhà thờ Quốc Mẫu bên cạnh nơi thờ các con thể hiện sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tri ân công đức sinh thành, đồng thời phản ánh nét đặc sắc trong tín ngưỡng thờ Mẫu – thờ mẹ của cư dân đồng bằng Bắc Bộ, hòa quyện với tín ngưỡng thờ các bậc anh hùng, danh tướng có công với dân với nước.
Nhà thờ Quốc Mẫu được dựng thành một nếp nhà riêng, bộ khung gỗ vì kèo lợp mái ngói, không gian ấm cúng mà trang nghiêm. Gian thờ chính đặt cỗ ngai thờ sơn son thếp vàng, lưng ngai và hai trụ tay ngai chạm đầu rồng, phượng; trên hương án bày đỉnh đồng (lư hương) hình nghê chầu gắn chữ Thọ, đôi chân nến, đôi lộc bình sứ men lam, mâm bồng, chén thờ và bình hoa. Hai bên ngai bài trí đôi hạc thờ đứng chầu – biểu tượng của sự thanh cao, trường thọ; phía trên treo bức hoành phi sơn son thếp vàng, phía trước là bàn lễ (hương án ngoài) để dâng hương. Toàn bộ đồ thờ tự đều được sơn son thếp vàng, chạm khắc tinh tế theo phong cách truyền thống, tạo cho nhà thờ Quốc Mẫu vẻ tôn nghiêm, tương xứng với vị trí thiêng liêng của Đức Thánh Mẫu – cội nguồn của các vị thần được thờ tại đền Hương Gia.hông tin thú vị hoặc ghi chú đặc biệt cho du khách khi ghé thăm.