Câu chuyện điểm đến
011.Cấp xếp hạng di tích
Đền Lốt xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 6232/QĐ-UBND ngày 06/12/2023 của UBND thành phố Hà Nội
022. Sự kiện, nhân vật lịch sử, đặc điểm của di tích
032.1. Về nhân vật được thờ tại Đền Lốt
Các cụ cao niên và nhân dân trong làng cho biết, Đền Lốt thờ Tam vị Đại vương thời Hùng Vương và Nhà Bà là công chúa Liên Hoa, công chúa Hậu Hoa thời nhà Đinh (nhân vật liên quan đến thành Quèn trên địa bàn huyện Quốc Oai).
Về Tam vị Đại vương:
Bản kê khai của chức dịch làng cho Viễn Đông Bác Cổ năm 1938 có ghi:
Tên hiệu của các ngài là Triều, Thần và Gia. Đức sinh ra ngài là Hùng Chiếu Công, cháu vua Hùng Vương, làm quan huyện An Sơn. Ngài cắm cung ở thôn Đại Phu, làng Liệp Tuyết, lấy vợ là Nguyễn Kim Nương, người thôn Vĩnh Phúc. Mười năm có thai, sinh một bọc được 3 người con vào ngày 12 tháng 5 năm Nhâm Thìn, sinh ra một bọc, nở ra 3 người con trai, đều hình dung khác lạ. Lúc đương sinh, khí lành tỏa ra thơm phức. Ông Hùng Chiếu Công nhớ chuyện trong giấc mộng liền đặt tên cho con là: Triều Lang, Thần Lang và Gia Lang. Lúc các con 3 tuổi, ông được vời về triều, diện kiến nhà vua. Vua biết chuyện đó là Thủy Thần xuất thế, liền cho sống trong cung. Ba anh em bẩm tính thông minh nên chỉ học vài năm đã thấu triệt văn chương, tỏ tường nho học, võ bị tinh thông. Năm Hùng Chiếu Công 74 tuổi thì mất, hai năm sau người vợ cũng mất.
Khi giặc Ân xâm lược, 3 anh em được giao đi chiêu mộ người tài đi đánh giặc. Đến làng Phù Đổng thì gặp Thiết Xung (Thánh Gióng), bèn chiêu mộ đi đánh giặc Ân, sau đó giành được thắng lợi. Thánh Gióng bay lên trời, còn 3 ông được vua khen thưởng nhưng không nhận, chỉ xin về cung Đại Phu ở trang Liệp Hạ, huyện Yên Sơn là nơi trước kia sinh sống để ở. Từ đó, 3 ông ở trại Đại Phu và Vĩnh Phúc, dạy dân trồng cấy.
Có lần, ba ngài dạo chơi đến Mao Khê ở núi Tản Viên, bỗng trời đất nổi gió mưa ầm ầm, nước suối chảy mạnh, giao long thuồng luồng nổi lên, ba ông đi xuống suối và hóa tại đó. Đó là ngày mồng 10 tháng 7. Nhân dân tâu báo lên vua, nhà vua liền gia phong cho ba vị cho 3 ngài.
Sự tích của các ngài có sắc phong và có sắc
Vào ngày sinh thần dùng lễ trâu bò, xôi rượu, ca hát trong 3 ngày
Vào ngày hóa thần, dùng lễ lợn đen, xôi, rượu
Về công chúa Liên Hoa:
Bà là con của Đinh Bộ Lĩnh và vợ là Đặng thị. Mẹ bà mộng thấy một bà lão đưa đến bên ao sen tắm gội, rồi mang thai và sinh ra bà. Khi sinh ra bà đã có dung mạo như tiên nữ, được cha đặt tên là Liên Hoa. Năm 12 tuổi bà Đặng thị mất, công chúa sống cùng cha, rảnh rỗi thì xem binh pháp, ham thích tập cung kiếm, không gì không giỏi, xứng là bậc kỳ tài. Khi đi đánh 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh cũng cho bà đi cùng. Đánh trận Đỗ Cảnh Thạc ở thành Quèn thì bị vây hãm, bà lập đàn cầu đảo thần linh giúp đỡ, sau đó quân của cha bà giành thắng lợi, 12 sứ quân được dẹp yên. Sau đó, công chúa Liên Hoa xin vua cha cho đến ở đất Trâm Nhị - vùng đất bà đã cầu đảo giúp cha đánh dẹp sứ quân. Nhân dân Trâm Nhị yêu quý mà tôn kính gọi bà là Đức Vua Bà. Khi vua cha tạ thế, Lê Hoàn tiếm quyền làm loạn, bà chẳng thể làm gì, chỉ biết cùng nhân dân tưởng nhớ, sau đó thì đi chu du khắp nơi. Khi đến núi Kim Nhan, trang Kệ Trường, huyện Thanh Chương, phủ Đức Quang, Hoan Châu, bà cùng các đệ tử lên núi ngắm cảnh. Đang lúc đó, bỗng trên trời tối đen, gió thổi ầm ầm, sấm chớp như vẽ vạch lên nền trời, tứ linh giáng xuống, bách loài chầu về… Công chúa tự hóa, đó là ngày mồng 4 tháng 5. Nhân dân Trâm Nhị nhớ công đức của bà mà lập đền thờ, viết thần hiệu là Đức Vua Bà Liên Nương Công chúa để phụng thờ.
Ngày sinh thần 12 tháng 11 lễ dùng trên cỗ chay, dưới dùng cỗ gồm lợn, gà, xôi, rượu.
Ngày hóa thần mồng 4 tháng 5, lễ dùng trên cỗ chay, dưới dùng cỗ gồm lợn, gà, xôi, rượu.
Phàm các lệ có tiệc tế lễ thì cùng tế ngài Hồng Vũ Đại vương, tùy nghi làm lễ. Còn tế lễ ngày sinh, ngày hóa đức ngài thì có chính lệ ở xã Cù Tu.
2.2. Nhận định về nhân vật được thờ tại Đền Lốt
Có thể thấy rõ, các vị thần được thờ tại di tích Đền Lốt là những vị thần có nhiều công lao đánh đuổi giặc ngoại xâm, phù trợ cho đời sống của nhân dân. Trải qua các triều đại, công trạng lớn lao của các thần đều được các bậc đế vương suy tôn là Phúc thần, gia phong mỹ tự. Các vị thần tại Quán Lốt xứng đáng được phụng thờ muôn đời.
042. 3. Các sự kiện khác
“Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã Tuyết Nghĩa” (Nxb …) ghi nhận: Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Tuyết Nghĩa là nơi ở và làm việc của một bộ phận thuộc Sở Liêm Phóng (Hà Nội), sau này là địa bàn dừng chân tập kết, luyện quân lập công của du kích Quận 4 Hà Nội, của bộ binh 385 tỉnh, là nơi trong những năm “bám đất nắm dân”, bộ đội, dân quân du kích, cán bộ, đảng viên các xã trong huyện và huyện bạn thường từ khu căn cứ qua đây bôn tập vào vùng bị tạm chiếm, phối hợp đánh bốt, diệt trừ tề gian, trong đó có chiến công “Hàm Rồng quật khởi” (3/1951) và góp phần vào chiến công “Thông Đạt oai hùng” (3/1954).
Ngày 4/3/1951 tại Đền Lốt, du kích và Nhân dân đã phối hợp cùng bộ đội chủ lực do Liên khu ủy điều về đóng quân tại địa phương bắc cầu phao qua sông Tích tại bến đò Bét. Trận đánh được bố trí phục kích tại hốc Hàm Rồng, sở chỉ huy tại Đền Lốt. Trận đánh chống trận càn của thực dân Pháp đã vang dội, tiêu diệt được 7 tên lính và bắt sống 26 lính ngụy, bắt sống 1 tên quan ba Pháp, được vinh danh là trận Hàm Rồng quật khởi (trang 162 Lịch sử Đảng bộ huyện Quốc Oai tập 2 (1945 - 1954) và nhiều tư liệu lực lượng vũ trang và lịch sử quân đội. Nhân dân trong thôn đã góp lương thực nuôi du kích và bộ đội về, khi chiến thắng bộ đội rút quân qua bến đò cổng Si vào xã Phú Cát, nhân dân vận chuyển gạo, lợn, thịt theo bộ đội (điển hình cụ Đặng Văn Đĩnh - thường gọi là cụ Muộn đã thịt lợn của nhà khoảng 30 kg, bọc áo tơ lá khoác theo bộ đội vào Phú Cát, Cụ Dương Như Ngà được phân công tổ chức ở lại chôn cất lính pháp chế và xóa dấu vết.
Trong kháng chiến chống Mỹ, di tích được làm nơi học tập của các cháu học sinh, nơi hội họp của dân làng và đoàn thanh niên thôn. Làng còn đào một số hầm xuyên qua các gò đồi, bờ tre, hầm du kích chỉ huy trận tại Đền Lốt, nơi du kích đặt mìn được ròng dây về nhà cụ Lầu (giếng ao Sen) theo rặng tre để tre mắt quân pháp đi càn.
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ nhân dân làng Liên Trì đã đóng góp sức người sức của cho cuộc giải phóng dân tộc, tiễn đưa hàng ngàn thanh niên lên đường nhập ngũ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ. Kết thúc chiến tranh, toàn xã có các Mẹ Việt Nam anh hùng, liệt sĩ chống Pháp và liệt sĩ chống Mỹ, nhiều thương bệnh binh.
053.Sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng liên quan đến di tích
063.1. Lễ hội làng Liên Trì
07* Trước đây
Xưa kia lễ hội chỉ tổ chức lễ vật các gia đình, dòng họ sắp cỗ bàn hoa quả tiếncử lên Đền Lốt, tổ chức mua hát, sau này tổ chức rược kiệu (theo tư liệu cổ và văn tế được truyền lại và phiên dịch của viên Hán nôm).
Các lệ tiết ở quán như lệ cũ thì:
Thờ tam vị thủy thần:
Vào ngày sinh thần dùng lễ trâu bò, xôi rượu, ca hát trong 3 ngày
Vào ngày hóa thần, dùng lễ lợn đen, xôi, rượu
Thờ Liên Hoa công chúa:
Ngày sinh thần 12 tháng 11 lễ dùng trên cỗ chay, dưới dùng cỗ gồm lợn, gà, xôi, rượu.
Ngày hóa thần mồng 4 tháng 5, lễ dùng trên cỗ chay, dưới dùng cỗ gồm lợn, gà, xôi, rượu.
Phàm các lệ có tiệc tế lễ thì cùng tế ngài Hồng Vũ Đại vương, tùy nghi làm lễ. Còn tế lễ ngày sinh, ngày hóa đức ngài thì có chính lệ ở xã Cù Tu.
08* Ngày nay
Hàng năm, nhân dân làng Liên Trì tổ chức lễ tế Thánh từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 5 ở đình.
Việc chuẩn bị lễ hội được Nhân dân họp bàn thống nhất, công đức kinh phí, thành lập các bộ phận, các khối đoàn thể, đội múa rồng, đội trống hội, 18 người hội cao tuổi, đội rước hoa, lọng, bát bửu, khiêng kiệu, khiêng lọng đình, cờ, đội kèn trống và khối các cụ và nhân dân.
Thời gian tổ chức lễ hội vào từ ngày 10/5 đến 12/5 âm lịch hoặc có năm từ ngày 25 đến 27/10 âm lịch theo tính chất của hội hàng năm để thống nhất tổ chức).
Tổ chức hội thôn có tờ trình xin ý kiến chính quyền địa phương, phòng Văn hóa và thông tin huyện Quốc Oai.
Khi tổ chức hội, làng họp nhân dân trong thôn thống nhất công tác chuẩn bị, thời gian, lịch rược kiệu, thành lập ban tổ chức, phân công các bộ phận.
Gần đây tổ chức vào ngày 26/10 âm lịch năm 2020: Trưởng thôn là trưởng ban, Thượng tọa Thích Trường Xuân - Phó ban, chi hội trưởng người cao tuổi phụ trách tổ chức, chương trình nghi thức, vật chất phương tiện và phân công khối do trưởng bộ phận phụ trách như hội phật giáo, CCB, khối đoàn thể do mặt trận tổ quốc, Múa Rồng lân, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao và các trò chơi khác do hội phụ nữ, nông dân, thanh niên, và CLB Văn hóa TDTT của thôn đảm nhiệm.
Các dòng họ, gia đình có lễ hiện vật dân ra quán cúng lễ do thủ từ cùng Ban khánh tiết Đền Lốt, đội tế, đội dâng hương làm lễ cao tế hôm trước để hôm sau tổ chức lễ hội.
Khi lễ hội rước kiệu Thành Hoàng làng đi vòng quanh thôn nhân dân hai bên được sắm hương hoa quả, đèn nến rượu bày đặt trước công gia đình để nghinh đón Thành Hoàng Làng đi qua
Khu vực trong di tích do Ban khánh tiết Đền Lốt gồm 15 ông bà và Thủ từ và 16 ông Ban tế, 12 bà trong ban dâng hương đảm nhiệm tiếp đón lễ nhân dân và khách thập phương đến lễ.
Lễ mục dục: chủ yếu tắm rửa long ngai, kiệu, bài vị từ hôm trức (cách khoảng 3 ngày khi tổ chức hội) tẩy trà, lau dọn các vật thờ trong và ngoài cung. Nước tắm rửa lấy nước sông Tích, nước trà, lá bưởi các hương liệu kết hợp đem pha tẩy lễ rẩy trong cung và ngoài, do Thủ từ cùng Thượng tọa Thích Trường Xuân làm lễ và một số ông bà phụ giúp các công việc phục vụ.
Khăn dùng trong lễ là màu xanh và vàng (khăn mới) do ban khánh tiết chuẩn bị hoặc nhân dân cung tiến.
Lễ vật dâng cúng: gồm xôi trắng, oản trắng, thủ lợn đen, gà, hoa quả, hương gồm 5 lễ đặt trong cung 2 lễ, ban ngoài 1 lễ, 2 lễ hai bên Tả, hữu.
Không tổ chức thi lễ vật, do tự nhân dân thành tâm cung tiến và dâng lễ.
Các lễ chú trọng là xôi nếp hương trắng thơm, thịt lợn đen, oản xôi, chuối, hoa quả do Ban khánh tiết và các cụ phật giáo chuẩn bị vừa lễ cả xôi và in cả thành oản bày các mâm làm lễ (thịt lợn chọn mua lợn đen), gà trống đẹp, hoa quả đẹp, hoa đủ các màu (vàng, đỏ hồng, trắng là trọng tâm trong cung) còn ngoài trang trí hoa ly, hoa lan và cây hoa, cây cảnh trong khuôn viên.
Về văn tế: do Thượng tọa Thích Trường Xuân viết trao cho chủ tế đọc, viết văn, viết sớ tại di tích. Ban tế có người chuyển chúc cho chủ tế, đọc xong chủ tế chuyển chúc cho phụ tế theo hướng từ tả sang hữu và hóa chúc theo Đông Xướng hô hướng tả, hữu theo hướng nhìn của Thành trần.
Ban tế có 20 ông tự tiếp tế 17 ông, 1 ông đánh trống tế, 2 ông quản tổng dâng hương hoa, rót rượu cho ban tế làm lễ. Trang phục tế gồm mũ, áo quần xanh, đi hia, chủ tế áo quần màu đỏ. Trong suối lễ hội tế và Dâng hương 03 buổi (buổi cáo tế, buổi tế hội và buổi lễ tạ hết hội). Buổi tế chính lễ hội khi rước kiệu về Quán, 2 buổi cáo tế và cáo tạ và buổi chiều hô trước và chiều hôm sau mỗi buổi tế khoảng 2 giờ, sau đó các cụ bà dâng hương và làm lễ cúng cháo khoảng 1 giờ. Trong lúc tế có Đông Xưởng, Tây xưởng, có nhạc tế bằng ghi âm và gồm 1 trống, 1 chiêng do người đánh trống chiêng theo đông xưởng hô theo các động tác nhịp điệu giao đoạn của ban tế.
Phần rước kiệu ngày hội: trước ngày hội kiệu, ngai, long đình, bài vị, bát bửu được lau rửa, cúng tế vào buổi chiều hôm trước.
- Phần kiệu rước: 1 kiệu rước tam vị Đại vương ( gọi kiệu cống là kiệu cống) đã được sửa lại đẹp và 1 kiệu song loan rước 2 vị công chúa, kiệu rước có long đình che phía trên, kiệu được sửa lại vào năm 2020. 02 kiệu do nhân dân công đức bằng tiền.
Kiệu được bao sái sạch sẽ, trang trí hoa riềm xung quanh do Thượng tọa làm lễ bao sái và trang trí.
Khi rước kiệu đặt bài vị, long ngai, lễ vật hoa quả, hương trầm.
Địa điểm rước kiệu: Từ đầu làng trước sân chùa đi vòng quanh thôn và về di tích Đền Lốt (vì quán ở đầu làng cùng chùa cách 100m).
Đội rước kiệu cống (kiệu thánh) gồm thanh niên khỏe mạnh chưa vợ, có lai lịch nhân thân tốt, được tập luyện trước khi vào hội khoảng 1 tháng, đội kiệu gồm 18 người (có dự bị) rước trực tiếp 12 người.
Đội rước kiệu song loan công chúa gồm 18 nữ xinh gái chưa chồng, trực tiếp rước gồm 12 người.
Trước khi rước kiệu lễ, kiệu thánh rước trước lên quán và đón kiệu song loan rồi cùng rước, các khôi lân rồng, khối cờ phướn, trống đứng 2 bên để 2 kiệu đi giữa.
Rước kiệu có kết chạ gao hiếu, giao hữu với thôn Đồng Sơn vì 2 thôn Đồng Sơn và thôn Liên Trì sáp nhập thành Thôn Liên Sơn. Vì 2 thôn trước đây cùng trại, khác thôn nhưng địa lý hành chính sát kề nhau, thôn Đồng Sơn có 120 hộ, thôn Liên Trì có 360 hộ cùng dải đất đê tả sông Tích gọi là Hàm Rồng, chung bến đò cổng si trước kia cổng si là công làng Liên Trì ở trước cửa di tích Đền Lốt nơi đây diễn ra trấn chiến thắng Hàm Rồng chống pháp tháng 4 năm 1951.
Nghi lễ kết chạ giao hữu nhân dân 2 thôn thường sang dâng lễ vật cầu khấn khi có công việc gia đình, tham gia cùng rước kiệu, múa lân rồng cùng thôn Liên Trì.
Các trò chơi dân gian được tổ chức trong lễ hội gồm đánh đu, đi cầu khỉ, làm cây nêu, bịt mắt bắt dê, kéo co, cờ người, cờ tướng, bóng chuyền hơi, tổ chức các giải bóng đá tại sân chùa Liên Trì và tổ chức hát ví Hàm rồng tại ao chùa.
093.2. Các lễ nghi khác trong năm
Ngoài ra tại đình còn tiến hành các nghi lễ khác như:
- như 27/10 âm lịch hội cơm mới, ngày hóa của tam vị đại vương vào 10/7 âm, ngày 12/5 âm lịch là ngày sinh tam vị Đại vương nên hội cũng mở vào tháng 5 (Tùy theo thời tiến mùa vụ) đám hội chính vào ngày 12/5 nhân dân, mọi nhà mở tiệc ăn đám dâng cũng Thành Hoàng Làng.
Rằm tháng riêng tế lễ cúng dâng sớ, dâng sao giải hạn cho các gia đình, các tập thể, các hội đồng niên, đồng ngũ, hội tổi 49,50 trình làng, tổ chức lễ chúc thọ cầu thọ cho các cụ cao tuổi.. Hàng tháng mồng 1, ngày rằm nhân dân đều đi lễ Quán, lễ chùa, tết thanh minh, đoan ngọ, rằm tháng 7, rằm tháng 8 lễ cơm xôi mới trình lễ. Tế nguyên đán, từ chiều 30 tết nhân dân các hộ gia đình ra lễ tất niên, Ban khánh tiết trực cũng thủ tù đón nhận lễ cho nhân dân từ tối 30 đến 5 giờ sáng mồng một tết và trực làm lễ giao thừa cho các hộ nhân dân (100% hộ gia đình, đoàn thể đều có lễ vật bánh kẹo, xôi, thịt, hoa quả ra làm lễ 12 giờ đêm giao thừ có chọn tuổi, chọn người ra đánh trống khai xuân tại di tích Đền Lốt, sáng mồng một nhân dân ra lễ có phát lộc cho nhân dân như hoa quả, bánh kẹo, cau trầu cho gia đình về thắp hương tại bàn thờ gia tiên.
- Các phong tục khác: như lễ cầu thọ, chúc thọ, lễ động thổ xây nhà, lễ thi đỗ đạt, lễ công tác làm ăn xa….
103.3. Nhận định về hoạt động sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tại di tích
Các sinh hoạt tín ngưỡng tại di tích Quán Lốt được tổ chức theo các nghi lễ thờ cúng chung của người Việt. Di tích đã được Hội người cao tuổi cùng dân thôn Liên Trì tổ chức, quản lý, điều hành mọi hoạt động, nghi lễ phục vụ cho việc thờ cúng các vị thần Tam vị Đại Vương, Đinh Thị Liên Hoa và Hậu Hoa công chúa. Các nghi thức có cập nhật những cái mới để phù hợp với hiện nay song vẫn gìn giữ được cơ bản những nghi thức, yếu tố truyền thống. Mỗi khi tổ chức lễ hội, nhân dân, gái làng, con em xã quê từ mọi miền tổ quốc đề về quê dự, nét sống văn hóa, nông thôn mới của địa phương đã có nhiều thay đổi, khang trang đẹp đẽ, đời sống nhân dân tốt đẹp hơn, nhà cao tầng chiếm 95%, số hộ có ô tô chiếm 20%, có nhiều công ty, xưởng mộc, trang trại được mở rộng.
114. Giá trị của di tích
124.1. Giá trị lịch sử
Tuyết Nghĩa là một trong những xã có số lượng di tích khá nhiều của huyện Quốc Oai. Các thôn, xóm đều có các công trình tín ngưỡng, tôn giáo tiêu biểu, nhiều di tích đã được nhà nước công nhận là những di tích lịch sử có giá trị. Nằm trong vùng đất có chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hoá đó, Đền Lốt đã ẩn chứa trong mình những giá trị văn hoá, lịch sử, nghệ thuật tiêu biểu.
Ngôi quán từ ngày khởi dựng đến nay đã thực sự trở thành một trong những trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân làng Liên Trì. Sự hiện tồn của ngôi quán là minh chứng cho thấy sự hưng thịnh và tầm ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng và những người có công với đất nước, nhân dân của nhân dân nơi đây.
134.2. Giá trị nghệ thuật - thẩm mỹ
Ngôi đền trải qua chiến tranh chỉ còn giữ được một số đồ thờ cũ, song các hiện vật mới cũng đảm bảo tính thẩm mỹ, giá trị nghệ thuật trong di tích Lễ hội làng Liên Trì gắn với việc thờ người có công với dân làng, đất nước với các nghi thức tế lễ…giữ gìn và bảo lưu được mối đoàn kết của nhân dân địa phương có từ xa xưa. Đây là điều đáng quý, góp phần giáo dục các thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước, đoàn kết là sức mạnh.
Các kiểu thức liên kết bộ vì mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn và những lần tu sửa gần đây mang phong cách truyền thống được thể hiện bằng các liên kết chắc khỏe, tạo nên bộ khung chịu lực cho công trình làm nên giá trị kiến trúc cho di tích.
144.3. Giá trị văn hóa - khoa học
Xã Tuyết Nghĩa có 2 làng nghề cót nan xuất khẩu, đường làng ngõ xóm đã được bê tông hóa đạt 96%. Điện, đường, trường, trạm đã được xây dựng khang trang sạch đẹp, 7/7 làng và 5/5 cơ quan, đơn vị đạt danh hiệu “Làng văn hóa”, “Cơ quan, đơn vị văn hóa”. Số hộ đạt GĐVH hàng năm đều đạt trên 90,0%. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được phát triển. Với bề dày lịch sử lâu đời, là nơi giao lưu về kinh tế, văn hóa các vùng miền, Quốc Oai sở hữu nhiều giá trị văn hóa phi vật thể truyền thống đặc sắc. Trên địa bàn xã đặc biệt có điệu “hát ví Hàm Rồng”. Các cụ cao niên cho biết vì xưa kia Xã Kiều Phú có dải đất hình con rồng bên bến sông Tích. Vào dịp rằm tháng Tám, nước dâng cao, thôn nữ rủ nhau tụ tập ở bến Hàm Rồng, đợi các chàng trai trong vùng cùng hát ví, hát đối đáp nên gọi là "Hát ví Hàm Rồng". Nếu như quan họ Bắc Ninh xưng hô với nhau là "liền anh, liền chị" thì hát ví lại xưng hô là “anh cả, anh hai”, “cô cả, cô hai”...
Lễ hội làng Liên Trì, xã Tuyết Nghĩa là một trong những lễ hội gìn giữ được nhiều những giá trị tốt đẹp. Ngoài ngày lễ hội chính, trong năm còn nhiều các lễ tiết khác. Các nghi thức, trò chơi dân gian được diễn ra đã thu hút được đông đảo người dân tham gia. Thông qua các hình thức tế lễ trong những ngày lễ hội, sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng tại di tích chính là dịp gắn kết cộng đồng làng xã, lưu giữ và kế thừa truyền thống bản sắc văn hoá làng, góp phần lưu giữ và truyền lại những giá trị văn hoá cho lớp thế hệ trẻ.



