Thông tin thú vị hoặc ghi chú đặc biệt cho du khách khi ghé thăm.
Đền Thanh Nhàn xây dựng theo hướng Nam – Tây nam, trên một quả đồi lớn, hướng ra sông Cà Lồ. Từ xưa vẫn chỉ có một tên gọi là đền Thanh Nhàn, địa phương có nhiều lần thay đổi tên gọi và địa vực hành chính. Ngôi đền đã có từ lâu theo sắc phong và bia ký ghi chép ở đền cuối TK 16 đã có, thần tích của ngôi đền cũng kể lại ngôi đền có từ lâu đời nhưng đến năm 1947 thực dân Pháp và tay sai đã phá hoại khu đền về phần kiến trúc, đền được xếp hạng cấp Quốc gia tại Quyết định số 168-VH/QG ngày 02/3/1990.
Đền Thanh Nhàn còn có tên gọi là đền Tam Tổng vì ngôi đền thờ Phù Đổng Thiên Vương nhưng có 3 tổng đều phục vụ lễ hội và cùng thờ. Hiện nay là một số thôn thuộc 3 xã Nội Bài, xã Kim Anh và xã Quang Minh. Do điều kiện địa vực hành chính có đền và theo cổ lệ thôn Thanh Nhàn, thôn Thạch Lỗi và thôn Trung Na vẫn giữ và vai trò sở tại cùng lễ và gìn giữ trực tiếp đền.
Đền Thanh Nhàn thờ tưởng niệm Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng, nơi lưu lại sự kiện lúc đánh giặc thánh Gióng đã về qua đây nghỉ ngơi và lấy thêm quân trong dân làng.
Hàng năm vào ngày 6 tháng giêng đền thờ tổ chức ngày hội tưởng nhớ ngày Phù đổng thiên vương đã qua đây mở tiệc khao quân và nghỉ lại trên đường đi đánh giặc. Dân làng còn lưu truyền truyện Phù Đổng Thiên Vương đổi tên cho làng, chuyện kể rằng: lúc trước đó làng có tên là Thanh Khốn khi đi qua nghỉ ở làng thấy cảnh đẹp an bài dân khang vật thịnh quang cảnh tươi vui nhàn nhã đã đổi tên cho làng sang gọi là Thanh Nhàn và từ đó dẫn làng giữ đến tận bây giờ.
Trong lịch sử cách mạng của địa phương, ngôi đền cũng là một vật chứng chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của địa phương.
Đền Thanh Nhàn có 4 cung được sắp xếp bố cục theo kiểu chữ tam, có hậu cung chuôi vồ ở phía sau. Tất cả 4 cung đều trên nền đất thế dọc và theo thế cao lên của quả đồi, bao gồm: cung tiền tế, cung đệ tam, cung đệ nhị, và cung đệ nhất (tức hậu cung).
Trong đền hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như: Tượng Phù Đổng Thiên Vương bằng đồng được đặt chính giữa của cung đệ nhất tức hậu cung của đền; Đôi ngựa thần mã hồng bạch đồng được đúc bằng đồng và quan giám mã gỗ; 01 quyển thần tích: viết năm hoàng triều Hồng phúc nguyên niên (1574); 07 bản sắc phong cổ nhất làm năm Chính hoà thứ 4 (1683) còn có các bản khác của năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1710), Vĩnh Khánh 2 (1730), Cảnh Hưng 1(1740), Chiêu Thống 1 (1787), Minh mệnh 2 (1821), Thiệu trị 4 (1844). Các sắc của các vua đều phong Phù đổng thiên vương làm thượng đẳng thần có kèm nhiều mỹ tự; 01 quyển mục dục, hương ước và các tục lễ ở địa phương; 02 bộ kiệu bát cống sơn son thiếp vàng NT-TK 19, 01 kiệu bành trạm trổ đẹp; 02 đôi rồng đá hậu Lê, 01 đôi mây hoá rồng, 01 đôi rồng nhân yên ngựa. theo tấm bia dựng năm Đức Long (1634) có nói đến đôi rồng này nó được dựng năm 1629; và nhiều đồ thờ tự có giá trị khác.