Tại đền Thượng Đình hiện nay thờ Bạch Thiên Tinh Hộ Quốc Phương Dung Công Chúa và căn cứ theo thần phả còn lưu giữ được tại địa phương, chúng tôi xin được trích lục như sau:
Người đời vẫn truyền rằng thần là vị Thiên thần hiển linh. Tích xưa, ở đời Đường Ý Tôn, vào năm thứ sáu niên hiệu Hàm Thông, vua lệnh cho Cao Biền làm An Nam Đô Hộ. Cao Biền rất giỏi thiên văn địa lý, đã đắp La Thành ở phía Tây sông Lô Giang để ở. Mỗi khi có con sông nhỏ nào theo dòng Lô Giang thì Cao Biền đều tìm cách hướng cho nó chảy quanh La Thành mà không cho chảy ra sông lớn. Cao Biền thường đi thuyền dạo chơi trên các dòng sông nhỏ để xem xét hình thế. Vào một buổi chiều khi đến địa giới huyện Thượng Phúc, xa trông thấy bên bờ Nam sông Chiểu Giang có một đám khí hạ xuống, hình như dải lụa trắng, mắt Cao Biền chợt sáng lên, một lúc sau thì đám khí trắng chợt biến mất, Biền cho đây là sự kỳ quái bèn lệnh cho dừng nghỉ tại đây.
Đêm đến, mộng thấy thần nữ đến và nói rằng: Thần vốn là người trên trời, thần phụng lệnh thượng để cai quản các việc cấy cày và giữ yên vùng Da Kiều này, nay Minh công đến đây, ta cảm động mà hiện lên gặp ngài. Khi tỉnh dậy, vua biết vùng này có thiên thần linh hiển ắt có thể ngầm giúp nhân dân bảo vệ đất nước, bèn lập đền miếu để thờ cúng và sai Ngọc Ôi làm thần phụng tự, hiệu là Bạch Thiên Tinh Công Chúa. Nối đời về sau, mỗi khi cầu đảo đều linh nghiệm. Vào khoảng năm Trùng Hưng thời nhà Trần, thần trợ giúp lập công mà được gia phong hai chữ Hộ Quốc. Đến năm thứ 21 niên hiệu Hưng Long, gia phong hai chữ Phương Dung. Lấy đó làm thần hiệu:
Bạch Thiên Tinh Hộ Quốc Phương Dung Công Chúa. Về sau ban tặng cho làm thần của một vùng, được nhân dân chăm lo cúng tế. Đến nay, vâng mệnh tặng phong cho thần là Trinh Ý Minh Khiết Phương Anh Phu Nhân.
Căn cứ theo luật di sản văn hóa, qua khảo sát nghiên cứu với những giá trị nổi bật thì đền Thượng Đình thuộc loại hình di tích lịch sử văn hóa.
Cách không xa với ngôi đình làng là ngôi đền nằm ẩn hiện sau những lùm cây cổ thụ lâu niên. Các bô lão trong làng kể rằng cũng không thể biết được cây Đa và cây Muỗm đã có từ bao giờ. Cây Đa thường được dân gian gắn liền với thần "thần cây Đa" và cây Muỗm cũng là cây thiêng hay được trồng trong các di tích. Khi đoàn làm việc chúng tôi tiếp cận với di tích đều có cảm nhận một đây là không gian u tịch nơi lắng đọng một nền văn hóá cổ xưa gần như là tín ngưỡng hoang sơ của dân tộc ta. Ngôi đền thờ Đức Thánh mẫu, một vị thiên thần có công lớn đối với dân với nước và trên tất cả đó chính là sự khẳng định vai trò hết sức to lớn của người phụ nữ Việt Nam chúng ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước của cả dân tộc. Ngược dòng lịch sử và cho đến ngày nay, nước ta vẫn là một đất nước thuần nông nghiệp. Bởi vậy, trong lối sống, nếp suy nghĩ và tư duy vẫn có nhiều yếu tố liên quan và đồng nhất với yếu tố nước đồng nhất với yếu tố âm và cũng chính là người phụ nữ.
Thêm vào đó còn nhiều yếu tố khác được gắn với tính nữ, mang tính sinh sôi, sáng tạo... Ngôi đền hiện tại có quy mô không đồ sộ, kết cấu theo kiểu chữ đinh với đại bái phía trước và hậu cung phía sau nối liền thành hình chuôi vồ.
Tương truyền ngôi đền cổ xưa chính được đặt tại vị trí bên cạnh đền nhưng do quá linh thiêng, mọi người trong địa phương đã phải chuyển sang vị trí mới là hiện tại. Phía ngoài di tích còn hiện hữu nghi môn cổ bằng đá nhưng do đã chuyển dịch đường giao thông nên đã có màu thời gian phủ kín và vẫn còn lại vết tích ghi sâu tội ác của thực dân Pháp về làng cướp bóc, tàn phá di tích.
Trở lại với toà đại bái được cổ nhân làm sát với dòng sông cổ Tô Lịch, bờ nóc đại bái đắp nổi lưỡng long chầu nguyệt, bờ giải giật cấp. Từ hai đầu hồi nối liền qua một bức tường lửng là trụ biểu với tiết diện vuông, đỉnh trụ đắp tứ phượng chầu cách điệu hoa giành. Phượng ở đây chính là linh vật, biểu trưng cho quyền năng của vũ trụ và thánh nhân. Xuống dưới là ô lồng đèn với 4 mặt có các đường gờ chỉ nổi và bên trong mỗi ô khắc nổi chữ thọ. Thân trụ có ghi các đôi câu đối bằng chữ Hán với nội dung nguyên văn:
"Thập Phương công đức ngưỡng anh linh
Nhất ấp trùng tu chiêm vọng bái".
"Ngưỡng mộ anh linh, mười phương công đức;
Vì việc chiêm bái, một ấp trùng tu".
Tòà Đại bái được chia thành 5 gian, phần hiên gian giữa có để một hương án thờ, phía trên áp sát với mái là một hoành phi được nhân dân kẻ vẽ thẳng vào tường có nội dung "Thiên Thượng Giáng Thần". Toàn bộ các bộ vì với kết cấu chịu toàn bộ sức nặng của mái di tích được làm kiểu vì kèo quá giang, một kiểu kiến trúc thiên về tạo sự thông thoáng cho di tích. Tại gian giữa phía trên có treo một hoành phi gỗ sơn son thếp vàng với 3 chữ Hán là "Thượng đẳng từ", phía dưới treo một cửa võng chạm thủng với các chùm nho, hoa dây. Về hai gian đầu hồi có họạ các tích cổ trên tường với tứ quý, long cuốn thuy và hai bài minh.
Về nội dung bài minh bên phải:
Yểu điệu thuỳ bà mộc thượng cung
Hưởng vương hoán kiến hiện linh thông
TN dân th địa thừa khâm phụng
Khải tấu hoàng triều sắc tặng phong
Hương hoa vạn niên tích sở đồng
Tang thương nhất thả sắc thị không
Chí tai đại cứu quần sinh mệnh
Tự lạc tường vân thủy phục chung.
Tại hậu cung hay còn gọi là cung cấm có bài trí một khám thờ chạm kép rất tinh sảo với bên trong là đức Thánh Mẫu và các vị hầu cận của nhà thánh. Khám thờ trong di tích được đặt ở một vị trí trang trọng nhất, càng tăng thêm ý nghĩa thâm nghiêm. Hệ thống cột, vách chủ yếu dùng đội diềm khám và mái. Mặt trước khám được trổ cửa, phía trên là các diềm khám được chạm khắc theo nhiều thể loại khác nhau như diềm thứ nhất phía trên là lưỡng long chầu nguyệt, hai diềm bên là hình phượng hàm thư rồi các diềm trong đều được trang trí cúc dây, cúc đại đóá, trúc... các mặt bên và sau của khám được bưng ván kín. Nhìn chung trang trí trên khám thờ được làm khá tinh sảo, và với nghệ thuật chạm khắc của khám thờ này đã tôn thêm nét thâm nghiêm, bởi nơi đây chính là thế giới linh thiêng trong linh thiêng.
Tại hai bên của khám thờ có 2 bàn thờ nhỏ nơi thờ các vị quan đương niên và các bức tường trong hậu cung có họạ các hình vân mây, các linh vật.
Nhìn chung di tích với quy mô khiêm tốn nhưng chứa đựng bên trong là cả vô vàn truyền thuyết về một tín ngưỡng - thờ Mẫu bởi đã có rất nhiều công trình, các đề tài khoa học nghiên cứu, các bài viết của nhiều học giả nhưng tựu chung vẫn là nhiều ẩn số mà chúng ta chưa thể giải mã được.
Chúng tôi chỉ xin đưa một dẫn chứng nhỏ về hệ thống tranh vẽ, hội hoạ trong các đền thờ thánh Mẫu, đặc biệt là đền Thượng Đình với các nết hội hoạ tài ba của nhà họạ sĩ đã mang đậm nét dân gian đến cho từng bức hoạ, các họạ tiết, mầu sắc...Bởi vậy, đây chính là một ẩn số mà các nhà nghiên cứu cần phải nghiên cứu và giải mã.