Đền Tó được xây dựng tại trung tâm làng Tó, thôn Oai Nỗ, xã Uy Nỗ là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân trong vùng từ xa xưa. Đền được khởi công xây dựng từ rất sớm nhưng đã qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa nên hệ thống kiến trúc của ngôi đền không còn được bảo lưu bề thế như trước.
Đền Tó hiện nay thờ 2 vị thành hoàng của làng cũng là 2 vị vua nổi danh trong lịch sử dân tộc đó là vua An Dương Vương và vua Triệu Việt Vương.
Thục An Dương Vương là người kế tục sự nghiệp của các vua Hùng, có công thống nhất các bộ lạc Tây Âu và Lạc Việt, thành lập quốc gia Âu lạc (1208 - 179 tr.CN). Tổ chức cuộc kháng chiến chống Tần và Nam Việt. Ông đã cho xây thành Cổ Loa, luyện quân chống giặc, bảo vệ non sông bờ cõi nước Việt thế kỷ III tr.CN.
Triệu Việt Vương là con của tù trưởng Triệu Túc ở vùng Chu Diên. Ông là người hưởng ứng cuộc khởi nghĩa chống quân Lương năm 542 do Lý Bí lãnh đạo. Năm 545, Lý Bí trao binh quyền cho Triệu Quang Phục để tiếp tục cuộc kháng chiến chống Lương. Ông mất ngày 14/9 năm Canh Dần (570), ở ngôi vua được 23 năm. Nhân dân nhớ ơn công đức của ông đã lập đền thờ ở nhiều nơi.
Đền còn lưu giữ thần tích về 2 vị vua do Hàn Lâm Viện Đông Các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1592) và sao lại vào ngày mồng 1 tháng 5 năm Thành Thái thứ 17 (1905). Thần sắc của đền có ghi: Ngày sinh thần là 11/8 và ngày thần hóa là 7/3 âm lịch, riêng ngày hóa lễ dùng như ngày sinh nhưng cấm ca hát, tên húy phải kiêng chữ Phán đọc là Phớn, chữ Nhàn đọc là Nhân, sắc phục khi hành lễ cấm dùng màu vàng, màu hồng.
Làng Tó (Uy Nỗ) nơi đã ghi lại nhiều dấu tích lịch sử liên quan đến An Dương Vương, đến Cổ Loa (vùng đất Chạ Chủ). Điều này thể hiện qua truyền thuyết về chuyện An Dương Vương dừng chân hạ trại trước khi xây thành, qua tín ngưỡng thờ vua An Dương Vương với các đạo sắc phong được ban từ triều Hậu Lê, Lê Trung hưng đến triều Nguyễn, cùng những nét văn hóa tương đồng như: ăn bún xào cần ngày hội, tổ chức hội rước vua ngày 4 tháng giêng, đến những tên gọi làng, xã mang dấu ấn của triều đại vua Thục với: Uy Nỗ (uy của nỏ thần), Kính Nỗ (sự kính cẩn với nỏ thần), Cường Nỗ (sức mạnh của nỏ thần), Oai Nỗ (sự uy nghiêm, uy lực của nỏ thần), đặc biệt là những dấu tích đến nay vẫn còn như: gò Vua, vườn Chúa,... Tất cả là minh chứng rõ nét cho thấy mối quan hệ giữa làng Tó với Cổ Loa, với Thục phán An Dương Vương ngay từ buổi đầu vua rời Bạch Hạc - Việt Trì tìm vùng đất mới định đô dựng nghiệp.
Đền Tó hiện còn lưu giữ 1 tấm bia đá cúng hậu niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 8 (1800), tấm bia hiện đã bị vỡ mất một nửa và chữ đã mòn nhiều nên khó đọc. Theo các cụ cao tuổi trong làng thì đây là tấm bia hậu, ghi công đức một vị quan trong triều thời Hậu Lê đã cung tiến tiền của để mở mang đền, đình của làng. Như vậy, có thể khẳng định đền làng Tó được xây dựng từ thời Lê, trước thời điểm dựng tấm bia công đức này.
Đền làng Tó được xây dựng trên một khuôn viên rộng, thoáng đãng, theo hướng Đông Nam. Ngôi đền có vị thế đẹp, kết cấu kiến trúc gồm có tam quan, tiền tế, bái đường và hậu cung.
Nghi môn của đền được làm kiểu tứ trụ, hai cột trụ giữa cao, hai trụ nhỏ hai bên mở ra 3 cửa vào không gian đền.
Từ nghi môn qua một khoảng sân rộng là đến nhà tiền tế. Phần mái của tiền tế được xây theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái, phần cổ diêm trang trí con tiện tạo sự thông thoáng cho di tích, các góc mái được làm thống nhất hình rồng lá uốn cong lên đỉnh mái trông khá nhẹ nhàng. Diềm mái trang trí hoa chanh. Chính giữa bờ nóc đắp nổi lưỡng long chầu hổ phù đội mặt trời lửa, cả hai lớp mái đều lợp ngói mũi hài. Trên nóc mái nhà tiền tế, tam quan trang trí linh vật, hoa lá. Toàn bộ tiền tế hiện làm nơi tiếp khách và hội họp việc làng.
Đền chính có kết cấu chữ “đinh” gồm trung đường và hậu cung. Phía trước làm lối trần hiên chắn mái, kiến trúc đặc trưng đầu thế kỷ XX. Trung đường được xây theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, gồm 3 gian hai dĩ, trang trí kiến trúc chủ yếu trên các mảng chạm khắc gỗ mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX, các phần mới trùng tu vẫn giữ được những nét trang trí cổ truyền nhất là các hình đắp linh vật tứ linh, tứ quý trên cổng tam quan, nhà tiền tế...
Hậu cung gồm 3 gian chạy dọc nối liền với gian giữa tòa trung đường tạo thành kết cấu kiểu chữ “đinh”. Bộ vì đỡ mái được làm theo kiểu chồng rường, tất cả các con rường ở đây đều được bào trơn, kẻ soi, để trơn không trang trí.
Bộ sưu tập đồ thờ tự ở đền Tó còn khá phong phú. Ngoài cuốn thần tích, thần sắc, đền còn có bức hoành phi:
Thục đế uy linh, sào khấu Đà linh, an xã tắc
Triệu Vương hiển hách, diệt trừ hai giặc, chủ giang sơn.
Vua Thục uy linh đánh giặc Triệu Đà, yên xã tắc
Triệu Vương hiển hách, diệt trừ hai giặc, chủ giang sơn.
Hàng năm, tại làng Tó, lễ hội được tổ chức vào ngày 4 tháng Giêng (trước lễ hội Cổ Loa 2 ngày).
Để chuẩn bị cho lễ hội, ngày 21 tháng Chạp, các cụ cao niên làm lễ tắm rửa, bao sái tượng và ngai vị của Đức Thánh, nước được các cụ từ lấy ở giếng đình cho vào chóe. Ngày lễ hội, tiểu ban quản lý di tích đền đình Tó chuẩn bị gạo nếp, thủ lợn, bánh dầy, hương hoa, trà quả, các loại bánh sắp lễ để cúng Thánh. Bảy xóm thuộc làng Tó có sửa lễ riêng. Đến ngày lễ chính, chính quyền và nhân dân tổ chức khai mạc lễ hội với các nghi thức dâng hương, dâng hoa của hai giới các cụ phụ lão và nhân dân trong thôn. Sáng ngày mồng 4 tháng Giêng làm lễ nhập tịch, các xóm huy động toàn dân tập trung tại nhà văn hóa, sau đó rước lễ vật lên đền đình Tó để cúng Thành hoàng. Lễ của xóm, thôn nào thì thôn, xóm đó chuẩn bị và mang lên đền đình thắp hương cầu lộc, cầu tài.
Kiệu rước trong ngày lễ hội phải được bao sái sạch sẽ để tại đền Tó. Kiệu Long đình đặt bài vị, bánh dầy, cau, trầu, rượu, nước, hương hoa, trà quả… Kiệu bát cống đi sau, đặt trên kiệu gồm có: mâm xôi, thủ lợn, hoa quả, rượu, nước và có lọng che. Kiệu được rước từ đền sang đình, đoàn rước đi theo đường Cao Lỗ, hướng về chợ Tó, đi qua cửa Sước (Nghè) rồi đi qua Trường Trung học cơ sở Uy Nỗ đi vào sân đình.
Sau khi rước kiệu về đến sân đình Tó thì hạ kiệu: Kiệu long đình được đặt bên phải, kiệu bát cống đặt bên trái đình. Giữa sân đình đặt các mâm lễ, sau khi đã yên vị long ngai thì cứ theo thứ tự rước vào trong đình để chuẩn bị công việc tế lễ. Hiện nay lễ hội đền - đình làng Tó vẫn được duy trì hằng năm với hình thức tổ chức long trọng và trang nghiêm.
Với những giá trị về lịch sử và nghệ thuật đền Tó đã được UBND thành phố Hà Nội cấp bằng xếp hạng lịch sử kiến trúc nghệ thuật tại Quyết định số 604/QĐ-UB ngày 26/1/2006 và Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cấp bằng xếp hạng Di tích lích sử kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia tại Quyết định số 420/QĐ-BVHTTDL ngày 29/01/2019.