Quần thể đền Trát Cầu, thuộc thôn Trát cầu, xã Tiền Phong, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Đền Trát Cầu thờ ngài “Câu Mang đại vương”. Theo tương truyền đây là vị thần miền sông nước, gắn với đời sống văn hóa của cư dân nông nghiệp. Căn cứ vào ngọc phả và 12 đạo sắc phong, cùng với hệ thống hoành phi câu đối lưu giữ tại đền. Dựa theo truyện cổ về thần Câu Mang viết trong “Việt điện u linh” xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIV, thời Trần.
“Theo truyện Báo cực: Nguyên quân tức là thần cõi nước Nam. Khi xưa vua Lý Thánh Tôn đi đánh Chiêm Thành (1069), đến cửa Hoàn bỗng bị mưa to gió lớn, sóng nổi dữ dội, thuyền vua bị tròng trành, nguy hiểm. Nhà vua ngồi bàng hoàng, chợt thấy một người con gái ước chừng 20 tuổi, mặt tươi như hoa đào, mày thanh như lá liễu, mình mặc áo trắng quần xanh, đến nói với nhà vua rằng: "Tôi là "tinh" cõi nước Nam, thác sinh vào cây ởchốn mây nước đã lâu, chờ thời đợi dịp, nay được gặp bệ hạ, thật là thoả nguyện bình sinh. Bệ hạ đi chuyến này, xin cố cho chóng được toàn thắng, tôi tuy là thần bồ liễu, cũng xin được theo giúp sức. Đến ngày khải hoàn, tôi lại xin đợi ở đây để bái yết", nói rồi liền biến mất luôn. Vua tỉnh ra nói chuyện với quần thần, có vị tăng quan là Huệ Lâm tâu rằng: "Thần nói thác sinh vào cây, ở chốn mây nước, nay xin cho đi tìm ra cây có linh nghiệm". Vua bèn cho sứ giả lên tìm khắp trên bờ, dưới bãi, được một khúc gỗ rất giống hình người, màu sắc khuôn khổ trông như người trong mộng đã thấy. Vua liền đặt hiệu là Hậu Thổ phu nhân, sai đặt lên bàn, để trong thuyền ngự. Bấy giờ gió lặng, sóng êm, thuyền đi rất nhẹ nhàng. Đến Chiêm Thành đánh trận như có thần giúp, quân ta thắng to. Đến hôm khải hoàn, thuyền nhà vua về tới bến cũ đậu lại, vua sai lập đền thờ tại đấy, liền thấy mưa gió lại nổi to. Huệ Lâm tâu rằng: "Xin nhà vua cho rước, về thờ ở kinh đô", vua bằng lòng, mưa gió liền tan. Về tới kinh đô, vua sai chọn đất lập đền thờ ở làng An Lãng, đền rất thiêng, ai có ý nhạo báng liền bị tai vạ. Đời vua Lý Anh Tông, trời đại hạn, quần thần xin lập đàn ở Nam Giao tế trời tôn Nguyên quân làm chỉ bộ có Câu Mang thần quân chuyên việc làm mưa". Vua mừng, bàn định: Lễ Hậu Tắc phối với trời, Hậu Thổ phối với đất, lập đàn ở Nam Giao cầu đảo, quả nhiên được trận mưa to.
Vua hạ lệnh rằng: “Dưới Hậu Thổ phu nhân có Câu Mang thần quân coi về mùa xuân. Từ nay phàm làm lễ mùa xuân, phải đem con trâu bằng đất để ởdưới đền thờ".
Năm Trùng Hưng thứ nhất, sắc phong "Hậu Thổ thần địa kỳ Nguyên quân". Đến năm thứ 4, gia phong hai chữ "Nguyên trung". Năm Hưng Long thứ 21, gia phong 4 chữ "Ứng thiên Hóa dục". Trong ngọc phả ghi niên hiệu Quang Hưng (1578 - 1598), năm đó gặp đại hạn nắng to, ba tháng liền không mưa, vua Lê đêm nằm lo nghĩ, ăn chay trai giới, xa nơi cung điện để lễ thiên - địa cầu đảo... Nhà vua lập đàn ở Đông Giao để cầu mưa, quả được linh ứng. Năm ấy mùa màng bội thu. Nhà vua liền ban sắc phong hiệu "Hoằng hóa Thượng sĩ Câu Mang Thành hoàng Thiên vương" sắc chỉ cho hơn 70 nơi thờ trong đó có làng Trát Cầu”.
Như vậy, thần Câu Mang được phụng thờ tại Đền Trát cầu là tích thần thoại nằm trong những tập truyện cổ nhất của nước ta xuất hiện vào đời Trần (thế kỷ XIV) đã được biên tập trong “Việt Điện u linh” nhằm biểu dương vị thần này có ý nghĩa thiêng liêng về tâm linh đối với người dân Việt với nghề trồng lúa nước.
Đền Trát Cầu toạ lạc trên khu đất giữa làng, phía trước là cách đồng Cửa Đền giáp làng Ngọc Động, hai phía tả hữu và hậu chẩm là khu dân cư. Như vậy ngôi đền có vị thế vững chãi và thoáng đãng. Khuôn viên khu di tích khá rộng mặt tiền có hồ bán nguyệt. Xưa kia hồ như mặt trăng khuyết nửa, bờ cong như hình lưỡi liềm, nay mới cải tạo thành hình thang kè đá xung quanh và có tường lửng ngăn cách giữa hồ và vườn cây. Tiếp đó là bức bình phong tạo dáng cuốn thư án ngữ phía trước cửa đền, với ý nghĩa ngăn chặn những điều xấu xông trực diện vào nơi thờ tự. Hai bên cuốn thư là cột trụ đèn lồng cao, trên đỉnh đặt đôi nghê chầu. Giữa là bức cuốn thư mặt phía ngoài đắp chúa sơn lâm (hổ), mặt phía trong là phù điêu đắp nổi Long hí thuỷ có cá chép nhảy theo dòng nước (Điển tích Long hí thuỷ, cá chép vượt vũ môn). Bên cạnh bức bình phong, có cây muỗm cổ thụ, thân hai người ôm không xuể, ước tính trên 300 năm tuổi và bồn hoa đắp non bộ.
Quần thể đền Trát Cầu có nhiều công trình kiến trúc gồm: Hai dãy nhà tả vu - hữu vu toạ lạc ở hai cánh gà ngoài sân đền, đại bái, hậu cung, ngoài ra có gian thờ còn gọi là đền Ngoại và cổng ra vào đi lối sau.
Nhà tả vu và hữu vu: Ở 2 bên hồi của đền, đối diện nhìn nhau đều có kích thước và kiến trúc giống nhau. Đó là ngôi nhà ba gian nhỏ, có chiều ngang 460cm, chiều dài 700cm chia làm 3 gian, xây tường gạch xung quanh, đầu hồi bít đốc tay ngai, có trụ biểu đèn lồng, trên đỉnh trụ có 4 chim phượng tạo dáng hoa sen, hộp đèn lồng đắp tứ linh, đấu nóc chữ nhật, hai mái đốc lợp ngói ri. Nhà có 4 bộ vì làm theo kiểu kèo cầu quá giang. Những hạng mục quá giang, câu đầu, trụ chốn, kèo cầu, xà dọc, hoành đều làm bằng gỗ, bào trơn đóng bén, kết cấu bằng mộng theo kiến trúc truyền thống.
Toà đại bái: Là công trình kiến trúc chính của khu di tích, ngoảnh theo hướng Đông Nam được đón nắng sớm và gió trong lành của trời đất. Nền đại bái không cao, chỉ có một bậc thềm. Mặt bằng công trình hình chữ nhật, chiều rộng 900cm, chiều dài 1700cm, nền lát gạch. Trên mặt bằng này là công trình kiến trúc cổ được xây dựng từ xa xưa. Theo lưu truyền thì ngôi đền có lịch sử xây dựng từ thời Sùng Khang thứ nhất (1566), đến năm 1577 tu bổ lúc đó đền còn ở khu đất sát gò Đống Riêu. Đến năm Cảnh Hưng thứ 45 (1784), ngôi đền chuyển về địa điểm sát xóm Chùa hiện nay. Ngôi đại bái được tu bổ vào đầu thời Nguyễn niên hiệu Gia Long thứ 12 (1813). Dáng vóc ngôi đại bái hình thuyền bốn mái đao cong, trong đó mái trước mái sau và hai mái vỉ ruồi phía hồi. Mái lợp ngói mũi mỏng như vẩy rồng, bờm dựng uốn khúc, mặt nguyệt tròn phát ra nhiều tia sáng. Kìm đầu nóc đắp khối tượng Kamara miệng ngậm bờ nóc. Đầu đao hợp từ tàu lá mái cong vút như đầu con thuyền được đắp hình long hoá, giống như đầu thuyền rồng. Trong lòng nhà đại bái có hai hàng cột tròn mỗi hàng 6 cột. Cột tròn chu vi 90cm, dưới kê đá tảng, trên đầu xẻ họng tra câu đầu. Ngoài ra còn có hàng cột xung quanh 4 phía tổng số là 20 cột xây vuông (kt 30cm x 30cm).
Ngôi nhà 5 gian 2 dĩ, tương ứng với 6 bộ vì trục chính và 2 bộ vì kẻ góc. Sáu bộ vì chính làm theo hình thức “chồng rường con nhị”. Con chồng nhất ngắn chồng lên con rường nhị dài hơn, hai đầu có đấu dép mỏng. Bộ vì thượng đặt trên lưng câu đầu. Thân câu đầu hình thon đòng đòng. Hai đầu của câu đầu khớp mang cá vào họng đầu cột cái. Phía dưới là hệ thống bộ vì hạ cũng làm theo hình thức chồng rường con nhị, đặt trên lưng xà nách. Hai bộ vì kẻ góc cũng làm theo hình thức chồng rường con nhị, đồng thời đầu trụ trốn có kẻ góc xiên thẳng xuống góc đao. Hệ thống vì rường đặt trên lưng xà dọc. Những con rường, kẻ góc làm bằng gỗ tròn bào trơn soi gờ chỉ. Trên toàn bộ kiến trúc gỗ đều làm mộng ngoàm mang cá, bào trơn đóng bén và soi ống tơ gờchỉ cùng lá dắt đơn giản, về nghệ thuật điêu khắc chỉ tập trung ở những đồ thờ tự.
Toà hậu cung: Nhìn trên mặt bằng tổng thể thì toà đại bái và hậu cung tạo thành hình chuôi vồ (hay còn gọi là chữ đinh 丁). Thực ra hai toà này cấu trúc đơn nguyên. Ngôi đại bái dàn ngang trải dài chữ nhật, còn hậu cung chạy dọc về phía sau như cán của cái vồ. Nhà hậu cung có chiều ngang 450 cm, chiều dọc là 1100 cm, được phân chia 3 phần rõ rệt gọi là 3 tầng cửa cấm của hậu cung. Tương ứng 3 tầng cửa là 4 bộ vì trục, làm theo kiểu chồng rường con nhị, giống như kiến trúc bộ vì ở ngoài đại bái. Hệ thống cột gỗ có 4 hàng, mỗi hàng 4 cột tròn chu vi 80 cm. Mỗi hàng cột có thưng ván và mở cửa ra vào, tạo thành bức ngăn cách từng phần cung cấm từ ngoài vào. Hệ thống ván thưng đố lụa, cửa bức bàn. Phần cuối của hậu cung đặt ban thờ khám và long ngai bài vị thờ thành hoàng.
Đền ngoại: Là ngôi đền nhỏ phía sau hậu cung, nơi thờ Nữ thần. Với diện tích một gian khiêm nhường khoảng 24 m2 hình chữ nhật, với bộ vì kèo cầu quá giang, lợp ngói ri. Trong nhà có ban thờ gồm hương án, khám, ngai, bài vị, cùng hệ thống hoành phi - câu đối.
Cổng đền: Đi từ phía sau nằm sát đường trục của làng Trát Cầu đi về Ngọc Động. Đây là công trình kiến trúc được tôn tạo trong thời gian gần đây. Cổng tam quan có ba cửa: Cửa chính và hai cửa bên, phía trên mái làm kiểu hai tầng (âm – dương) - tám mái đao cong (bát quái). Tầng trên nhẹ tượng trưng cho dương, tầng dưới rộng và nặng tượng trưng cho âm. Hệ thống mái hài hoà, phân cách bởi phần cổ ngỗng, chấn song con tiện ởchính giữa là tấm hoành phi ghi 3 chữ "Hưng Linh tự". Trên bờ nóc là mặt nguyệt có nhiều tia lửa, kìm nóc và các góc đao đắp hình rồng theo lối truyền thống.
Theo như hồ sơ lý lịch xếp hạng di tích, hiện nay đền Trát Cầu còn bảo tồn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị, cụ thể như:
- Cuốn Ngọc phả viết về thần “Câu Mang đại vương” và 12 đạo sắc của thời Lê và thời Nguyễn;
- 01 kiệu mui luyện; đòn cái dài 360 cm, đòn ngang dài 230 cm, điêu khắc đầu rồng với bờm tóc tia mác lửa mui luyện có 3 tầng cửa võng, cột dọc trang trí nhiều lớp hoa văn rồng phượng... con rồng đuôi bút lông, mũi tròn tai dơi đặc biệt bờm tóc mác thẳng như ngọn lửa, đây là đặc trưng hoa văn nghệ thuật thời Lê Trung Hưng. Có thể nói cỗ kiệu này là hiện vật cổ quý hiếm của thế kỷ XVII.
- Đôi hạc thời Lê thế kỷ XVII, cao 250 cm, thân thon trên mình phủ đầy tia mác lửa, mỏ dài, cổ có 3 bờm như ngọn lửa, thân cao mảnh đứng trên lưng rùa vàng.
- 26 đôi câu đối các loại nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn và những năm gần đây.
- 03 choé đời Thanh men trắng hoa lam, 1 bát hương men trắng hoa lam rồng thời hậu Lê.
- Sập thời Lê chiều dài 175cm, chiều ngang 132cm và chiều cao 38cm. Chiếc sập cổ có trang trí cả 4 mặt là hai nghê chầu mặt nguyệt với 3 tia mác thẳng. Khối tượng nghê mắt hiền, tai dơi ở tư thế chầu dưới dạng tâm linh. Chiếc sập này là cổ vật quý hiếm ở thế kỷ XVII còn bảo tồn ở đền Trát Cầu.
- 03 hương án nghê thuật điêu khắc thời Nguyễn, những hương án này phần nhiều là hổ phù, phượng, rồng; long hí thuỷ, ngựa...
- 05 bộ cửa võng nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn thể hiện đề tài (tứ linh, tứ quý…).
- 01 cuốn thư hình chữ nhật đục chạm rồng phượng, nền son thếp vàng nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.
- 07 hoành phi nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.
- 02 đẳng, nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.
- 02 lọng bằng vải, và gấm thêu kim tuyến.
- 02 bộ bát tiên nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.
- 2 biển nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.
- 01 đôi cây nến gỗ điêu khắc nghệ thuật thời Nguyễn.
- Giá chiêng thời Lê có chiều cao 127cm, thanh ngang 130. Hai cột giá chiêng làm bằng gỗ quý đục chạm độc long uốn leo quanh là tác phẩm nghệ thuật quý của thế kỷ XVII.
- 01 khám thờ, bài vị nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.
- 01 rồng đá tạc trên phiến đá "sa thạch". Hình rồng yên ngựa đuôi bút lông, tai dơi mặt nhỏ phiến đá có chiều dài 107cm, chiều cao 71 cm và dày 13cm. Tác phẩm rồng khắc trên đá mang phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ XVII.
- 01 giá văn nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.
- 01 cây quán tẩy nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.
- 1 bộ đỉnh đồng Ngũ Xã, 3 cơi đồng và bát hương đồng, chiêng đồng.
Với những giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hoá, nghệ thuật. Di tích đền Trát cầu (Hưng Linh tự), được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh/ Thành phố tại Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 08/01/2002 của UBND tỉnh Hà Tây (nay là UBND thành phố Hà Nội).