đình An Hạ
Giới thiệu
Đình An Hạ tọa lạc tại thôn An Hạ, xã An Khánh, thành phố Hà Nội (Địa chỉ cũ thuộc xã An Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây). Đình An Hạ vốn thờ chung vị thần thời Thục An Dương Vương là bà Bảo (người họ Đỗ, tên là Đỗ Thị Bảo).
Đình An Hạ được xây dựng ở phía Tây Nam của làng, ngay cạnh chùa làng. Quán An Hạ được xây dựng ở giữa làng, ngay cạnh đường chính trong thôn. Từ thủ đô Hà Nội, thị xã Hà Đông cũ theo quốc lộ 72 - Hà Đông - Quốc Oai, đi khoảng 9 km, gần tới đê Thanh Quang, ngay bên đường rẽ tay phải khoảng 500-600 m là tới đình An Hạ. Từ đình ra quán theo đường làng cũng chỉ khoảng vài trăm mét.
Theo cuốn thần phả nguyên văn bằng chữ Hán hiện lưu tại di tích cùng các đạo sắc phong, thì đình An Hạ thờ vị thần có liên quan đến thời Thục An Dương Vương. Nội dung sự tích như sau: “Thời vua Thục An Dương Vương, có một nhà thuộc dòng họ Đỗ tên là Thiêm. Ông có hai người vợ, vợ cả người họ Kim, vợ hai người họ Chu. Họ sống trong một gia đình rất hòa thuận, phong lưu, đời đời tu nhân tích đức. Vào ngày 10 tháng Giêng năm Giáp Tý, bà vợ cả họ Kim nằm mộng thấy một con rắn trắng quấn quanh đám mây hồng, sau lại nở thành 3 bông sen trắng và bà giơ tay đón lấy. Hơn một năm sau, vào ngày 12 tháng 3 năm Ất Sửu, bà chuyển dạ. Hôm sau, bà sinh ra một bọc có ba người con gái. Ông bà đặt tên ba cô là Ả, là Hai và cô thứ ba là Bảo”.
Thần phả viết tiếp: “Đất nước bị lâm nguy, nhà Tần phương Bắc định mang quân xâm lược nước ta. Vua Thục - An Dương Vương bèn phong chức cho các cựu thần và kịp mời người có tài thao lược để bàn việc đánh giặc cứu nước. Nhà vua cho thành lập năm đạo quân. Bà Bảo chiêu mộ được 300 binh sĩ hùng mạnh, dẫn đầu ra mắt nhà vua xin đi dẹp giặc. Bà được phong là công chúa “Huyền Vũ phong tư” - chuyên chỉ huy bộ binh. Bà hành quân qua vùng Lĩnh Nam giao chiến với tướng giặc là Nhâm Hiệu. Hai bên giao chiến quyết liệt. Quân giặc thua to tháo chạy. Vua Thục phán rất vui mừng mở yến nhạc khao quân mừng đại thắng. Nhà vua phong thưởng quân sĩ, phong chức tước cho bà.
Mấy năm sau, một hôm vào ngày 10 tháng 7, tự nhiên trời đất tối sầm lại, mưa to gió lớn, sấm chớp nổi lên, sông nước mênh mông, các loài thủy tộc như ba ba, thuồng luồng, tôm cá đều cuốn theo dòng nước xoáy. Bà Bảo cùng một số anh em quân sĩ không bệnh tật mà tự nhiên biến mất.
Ba năm sau, vào ngày rằm tháng giêng, vua Thục phán vội triều bàn định công lao của tướng sĩ. Nhà vua đã ban định vùng Ngự Câu, An Hạ, Đào Nguyên thờ chung các danh tướng. Về sau Thượng Thôn đệ nhất công thần huý là Ngũ. Trung Thôn - tức thôn Ngự Câu thờ đệ nhị công thần, húy là Thẩm. Hạ Thôn tức thôn An Hạ thờ đệ tam công thần, được vua Thục phán - An Dương Vương phong làm công chúa thứ sáu húy là Bảo. Ngày sinh của công chúa Huý Bảo là ngày 13 tháng 3. Ngày hóa là ngày 10 tháng 7.
Theo lịch sử Việt Nam: “Trước cuộc kháng chiến chống Tần, liên minh bộ lạc Tây Âu của Thục phán đã có nhiều mối quan hệ chặt chẽ với nước Văn Lang của Hùng Vương. Khi tiến vào nước ta, quân Tần xâm phạm trước hết đến địa bàn cư trú của người Tây Âu. Thục phán với vai trò thủ lĩnh liên minh bộ lạc Tây Âu, dĩ nhiên phải đứng ra tổ chức và chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Tần. Quân Tần càng tiến sâu về phía Nam, càng gặp phải sức chống trả quyết liệt của người Tây Âu và người Lạc Việt. Các thủ lĩnh người Việt, do yêu cầu của cuộc chiến đấu, đã suy tôn Thục phán lên làm người chỉ huy cao nhất”.
“Cuộc chiến đấu kéo dài 5–6 năm đã thắt chặt mối quan hệ đoàn kết gắn bó vốn có của người Tây Âu và người Lạc Việt. Thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến càng củng cố và nâng cao uy tín của Thục phán không những trong người Tây Âu mà còn trong người Lạc Việt”.
Bản thần phả đình làng An Hạ ghi lại một sự kiện thành hoàng là người phụ nữ họ Đỗ, húy là Bảo, đã chiêu tập được 300 quân đến bái yết Thục phán và Thục phán đã thu nạp, phong bà làm công chúa chỉ huy bộ binh chống Tần là ký ức hợp với tư duy lịch sử vào giai đoạn thứ ba trước Công nguyên.” - (Theo lịch sử Việt Nam tập I - nxb KHXH.H1993.T188).
Đình An Hạ là di tích kiến trúc - Tôn giáo. Theo một số tư liệu chữ Hán được ghi chép vào năm Bảo Đại thập tam niên - Mậu Dần ([Không đọc được]) hiện lưu tại đình thì xưa kia dân làng trong xã có chung đình Đụn (giếng Hối, Ngự Câu). Khi cư dân phát triển thành ba khu vực hành chính thôn thì xây thêm 2 ngôi đình nữa, có lẽ vào cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn.
Đình An Hạ còn gọi là Hạ Thôn, được xây dựng theo hướng Càn khôn - nghĩa là theo hướng Đông Bắc, Tây Nam. Đình được xây theo kiểu chữ Đinh (T), bao gồm tòa bái đường và hậu cung.
Ngoài hạng mục kiến trúc chính nói trên, đình An Hạ còn có hai dãy tả hữu mạc, hệ thống cột trụ, tường bao, cổng pháo.
Nhìn tổng thể, đình An Hạ là một công trình kiến trúc quy mô to lớn với năm gian đại bái, ba gian trung cung và ba gian hậu cung, tất cả đều được xây dựng bằng gỗ lim. Đây là một ngôi đình còn khá nguyên vẹn cả bờ nóc, đầu đao, hệ thống cửa bức bàn, chấn song con tiện cho đến nội thất bao gồm hoành phi câu đối, long ngai bài vị và các đồ thờ. Trải qua biết bao năm tháng, khí hậu và chiến tranh, sự hiện diện nay của ngôi đình An Hạ là sự hiếm thấy.
Vào đình, trước cửa đình có hệ thống cột trụ, tường bao, cổng pháo được xây dựng công phu. Qua một sân lát gạch rộng là tới tòa đại bái. Đại bái đình An Hạ được xây dựng trên một nền cao tam cấp, được xây vỉa vuông vức. Nhìn bên ngoài, trên bờ nóc đình đắp nổi “Lưỡng long chầu nguyệt”, kìm, sô và các đầu đao đều còn nguyên. Đặc biệt, hai đầu đốc còn giữ nguyên hai vùng “Rốn nhện” đắp nổi hình tượng chim phượng. Trong tâm thức, có lẽ người xưa cho rằng thành hoàng làng vốn là nữ thần, cho nên mới đắp hình tượng chim phượng - biểu tượng của sự quý phái và sức mạnh vô lượng. Trên mái đình lợp ngói ri cổ. Hệ thống cửa bức bàn bằng gỗ lim còn giữ được nguyên vẹn cả năm gian, dưới đế bức bàn cũng còn giữ đủ hàng chấn song con tiện.
Đại bái đình dài 21,30 m, rộng 10,03 m. Nền đại bái ở giữa sâu xuống gọi là lòng thuyền, còn hai bên thì cao hơn gian giữa - tương tự kiểu bàn đình. Hệ thống cột cái, cột quân đều khá lớn. Đường kính trung bình của cột cái là 0,40 m, cột quân là 0,34 m, đều bằng gỗ lim. Cấu trúc kiến trúc tòa bái đường theo hình thức 4 hàng chân gỗ với vì nóc kiểu chồng rường. Đây là một hạng mục công trình kiến trúc thời Nguyễn, dấu tích thời Lê còn thấy ở kẻ góc, một vài cột quân (kích thước nhỏ vốn là cột cái của công trình cũ). Về nội thất đình, có một số di vật thời Lê như các bức đại tự, hương án; ngoài ra, phần kiến trúc hoàn chỉnh và bền chắc; đáng chú ý là phần điêu khắc. Trong đình còn giữ được bốn bức cốn lớn chạm nổi cả hai mặt.
Gian giữa đại bái tập trung vào sự điêu khắc cao độ. Bức cốn bên phải điêu khắc tích “Ngư long hí thủy”. Trung tâm bức cốn là một con rồng lớn được người xưa chạm nổi đang thả mình trong mây. Dưới miệng rồng cá chép đang lao lên. Cạnh rồng lớn, người xưa chạm nổi bầy con rồng con, long mã, chim phượng phụ họa cảnh cá chép hóa rồng. Bức cốn cũng được điểm xuyết hoa lá và chùm quả lựu - biểu tượng của sự hạnh phúc. Đối diện bức cốn bên trái, người xưa cũng điêu khắc tích “Ngư long hí thủy”. Bức cốn này người xưa chạm nổi một đàn cá chép lao lên với con rồng lớn. Phụ họa cho chủ đề này, người xưa cũng chạm nổi chim phượng, nghê, long mã là những hình tượng nghệ thuật được tôn thờ ở thời kỳ cuối Lê đầu Nguyễn. Sau các bức cốn, để thể hiện sự công phu, người xưa đã chạm nổi các tích “Tùng hóa long”, “Mai hóa long”. Đáng lưu ý, nếu đề tài tứ linh và tứ quý được người đương thời coi là chính thống thì các biểu hiện văn hóa dân gian cũng có mặt. Đó là các hình tượng hoa sen, lá sen, con cua đồng bò trên lá sen.
Nội thất tòa đại bái còn được trang điểm với hệ thống hoành phi, câu đối sơn mài chạm nổi ca ngợi công lao của vị nữ thần: Tại thượng ốc thiên ân điển long tự trật và Cử An Hạ lạc thổ dân cư ngưỡng chiêm. Và những câu đại tự: “Thánh cung vạn tuế”, “Thượng đẳng tối linh”.
Chính giữa đại bái là bức cửa võng lớn sơn son thếp vàng được chạm nổi ba lớp. Trên cùng chạm nổi “Lưỡng long chầu nguyệt”, lớp giữa chạm nổi rồng và hoa lá, khắc nổi bốn chữ “Thánh cung vạn tuế” và lớp thứ ba chạm nổi rồng mây và hoa lá với các họa tiết tinh xảo, nguyên vẹn vàng son. Nhân đây cũng nói tới các đầu dư, kẻ bẩy, rường cột... cũng đều được người xưa để tâm điêu khắc với các họa tiết tứ linh hoặc tứ quý, hoa lá cách điệu... cho nên nhìn nội thất tòa bái đường vừa cổ kính, vừa trang nghiêm.
Qua đại bái là đến tòa hậu cung. Hậu cung dài 12,10 m, rộng 7,10 m. Hậu cung có hai phần: Tiền tế dài 3,30 m, rộng 5,10 m, ở đây bài trí hai hương án lớn, bên trên có nhiều di vật cổ. Nhân đây cũng cần nói thêm rằng hai hạng mục công trình này được kiến trúc liên hoàn bởi hệ thống kẻ góc. Liền kề với trung cung (có nơi gọi là tiền tế) là hậu cung, được phân chia bởi hệ thống cửa bức bàn với hai lối đi nhỏ hai bên. Vào nơi thâm nghiêm đó, người xưa đã tạo dựng hệ thống cửa, đầu tư điêu khắc khá công phu. Cũng với tích “lưỡng long chầu nguyệt”, nhưng về niên đại, sự kiến trúc và điêu khắc này sớm hơn; có trước đại bái. Qua tiền tế là đến hậu cung, ở hậu cung, người xưa đã xây dựng theo kiểu bền chắc, bao trơn đóng bén. Nội thất hậu cung được xây dựng trên một sàn lớn bằng gỗ tứ thiết. Trên sàn gỗ đó bài trí khám thờ long ngai bài vị thành hoàng làng - công chúa họ Đỗ, húy Bảo - người có công giúp Thục p
Đình An Hạ còn giữ được nhiều di vật quý và phong phú về chất liệu và chủng loại, gồm một cuốn thần phả vào năm Mậu Dần, 17 đạo sắc phong, trong đó có đạo cổ nhất là Vĩnh Khánh nhị niên (1680), 2 cửa võng (1 thời Lê và 1 thời Nguyễn), 8 đôi câu đối, 2 hương án, 5 đài gỗ đại, 4 cây nến, 1 giá văn, 1 khay to, 1 hoành phi, 2 giá bát bửu + biển có 4 chữ “Nghiêm túc tế chính”, 3 mâm bồng, 2 cây nến.
Năm 1995, Đình An Hạ đã được xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa và Kiến trúc Nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 2233-QĐ/BT ngày 26/6/1995 của Bộ Văn hóa - Thông tin.



