Đình Cấn Giang
Giới thiệu
Cấp xếp hạng di tích: Đình Cấn Giang xếp hạng cấp Thành phố tại Quyết định số 844/QĐ-UBND ngày 25/02/2026 của UBND thành phố Hà Nội
1. Đối tượng thờ tại đình
Theo các nguồn tài liệu còn lưu giữ tại đình Cấn Giang như: sắc phong, thần tích, hương ước… cho biết đình Cấn Giang thờ thủy thần “Long Vương Hà Bá tôn thần”. Điều này hợp với địa bàn cư trú của người dân thôn Cây Chay, vốn Tín ngưỡng thờ thần Hà Bá là một trong số những tín ngưỡng của người dân sinh sống ven các con sông.
Về nguồn gốc của tín ngưỡng thờ thần Hà Bá, trong một số nghiên cứu cho rằng tín ngưỡng này vốn là sản phẩm của cư dân cư trú ở lưu vực sông Hoàng Hà Trung Quốc. Thần Hà Bá vốn là thân cá, về sau biến thành hình người. Theo Bác vật chí quyển 7 viết: Ngày xưa khi vua Vũ quan sát Hoàng Hà, thấy một người thân cá nói rằng: Ta là tinh Hoàng Hà, tức là Hà Bá. Vốn xưa là Phùng Di, người Đông Hương ở Hoa Âm, đắc đạo hóa thành Hà Bá. Hà Bá là chủ các con sông, xưng vương, có người phò tá, tổ chức thành một triều đình dưới nước. Người dân sáng tạo ra mẫu tượng Hà Bá, quỳ lạy cầu đảo, khi hạn hán thường đốt núi để cầu mưa. Tương truyền thần núi lấy con gái Hà Bá, nên Hà Bá thấy lửa bèn kêu mưa xuống để cứu. Theo đó trong văn hóa Hán, Hà Bá cũng như các vị thủy thần khác được sáng tạo đều là thần chủ quản về thủy ở các sông ngòi.
Trong cuốn sách Tâm linh Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh cho biết: trong lịch sử người dân Trung Quốc có tập tục cầu mưa là thường cầu đến Long Vương. Đến khi tư tưởng Long Vương của Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, Long Vương đã xuất hiện không chỉ mang tước hiệu vương mà còn được xuất hiện với diện mạo giống con người và: mưa tuy được đề cập đến nhưng tâm linh Thủy chủ yếu là Thủy quan, Thủy thần tức Hà Bá của Trung Quốc rồi hội nhập với Long Vương của Phật giáo. Hà Bá cũng như các Thủy thần đều là Thủy quan tức coi về Thủy các sông ngòi mà chủ yếu là Hoàng Hà.
Như vậy, khi Phật giáo du nhập vào văn hóa Trung Quốc, hình tượng Long Vương Hà Bá đã thể hiện một sự hợp dung với hình tượng Tứ Hải Long Vương, Hà Bá vốn được người dân sáng tạo ra trước đây, để thực hiện chức năng cai quản dưới nước. Trong quá khứ, chính quyền phong kiến Trung Quốc đặt ách đô hộ và thực hiện chính sách đồng hóa văn hóa ở Việt Nam. Tuy nhiên do có sự tương đồng về quan niệm cũng như cầu mong sự che chở, bảo hộ của thế lực siêu nhiên để chinh phục môi trường sông nước, biển cả của người dân hai nước, tín ngưỡng thờ thủy thần nói chung và tín ngưỡng thờ thần Hà Bá nói riêng đã nhanh chóng được người dân Việt tiếp thu và trở thành một vị thần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của mình.
Tác giả Tiêu Hà Minh trong Đi tìm điển tích thành ngữ đã viết: Một hôm, có quỷ từ trên trời xuống thấy Thổ Công cai quản một vùng rộng lớn, còn Hà Bá chỉ cai quản một vùng nước nhỏ chạy xung quanh, nó mới nảy ra ý đồ định chiếm ngự một phần sông, một phần đất ở đây. Ngay lập tức nó đến gặp Thổ Công, xin ngài cho phép xây thành và được đồng ý. Nhưng trước khi xây dựng nó không làm lễ tạ khiến Hà Bá nổi cơn lôi đình. Hà Bá liền cho nước chảy vào đất theo mạch nước ngầm. Hễ thành của quỷ cứ xây đến đâu là nước lại xói mòn nên thành lại bị đổ đến đó. Thổ Công thấy nước xâm phạm đến đại phẩm của mình cai quản thì tức giận, sai dân sự đến cứ thấy nước ở đâu là lấy đất chắn ngang không cho nước chảy lan ra. Lúc này ở dưới thủy phủ, Hà Bá thấy nguồn nước của mình bị tắc nên lấy làm bực bội, liền dâng nước lên cao, đánh vỗ vào đất khiến cho đất phải lở ra trôi cả xuống nước. Hai vị thần đánh nhau làm cho đất lở, cây cối ngổn ngang, nước sông bị đục ngầu và dân tình kiệt quệ. Cuối cùng, cả hai mới nhận ra là con quỷ làm bậy bạ và quyết định gặp nhau thỏa thuận. Hà Bá nói: “Ta Thần Sông, cai quản sông, kẻ nào xâm phạm sông của ta thì ta khắc trị”. Thổ Công cũng nói: “Ta Thần Đất, kẻ nào xâm phạm đất của ta thì không xong với ta. Ta với người không dính líu gì với nhau, không đánh nhau nữa, mà sinh lở đất, cây cối lụi tàn, lũ lụt ngập nhà”. Rồi cả hai vị thần cùng nói “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”… Từ câu chuyện này, câu thành ngữ “đất có Thổ Công, sông có Hà Bá” được truyền miệng trong dân gian, hàm chứa quan niệm về thế giới tâm linh trong văn hóa cộng đồng của người Việt từ xưa đến nay, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc về truyền thống thờ cúng nhớ ơn chư vị thần linh. Theo thời gian, không biết từ khi nào, dân gian không mấy thiện cảm với vị thần Hà Bá và xem là ác thần. Có lẽ là bắt đầu từ việc có những người bị chết đuối nên trong tâm thức dân gian cho rằng họ bị Hà Bà bắt đi. Dù vậy, dân vẫn lập miếu để thờ nhằm bày tỏ lòng thành của mình đến vị thần này với hy vọng thần thấu tỏ được điều ấy mà không “giáng họa”. Là một quốc gia có nhiều kênh rạch, sông ngòi, đường bờ biển kéo dài từ Bắc chí Nam, nên sự hiện diện của thần Hà Bá trong đời sống tâm linh người Việt không có gì là lạ. Có lẽ biết là có thần cai quản sông nước cho nên ở một số vùng, mỗi khi có đám tang qua cầu, gia chủ thường bỏ tiền lẻ hoặc tiền vàng mã xuống với ý trả tiền qua sông cho người mất cũng giống như người trần mắt thịt phải trả liền lộ phí khi qua cầu, qua sông cho người canh giữ các bến phà.
Theo sử liệu, những ghi chép trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ ghi rõ việc phê chuẩn lập miếu và lễ vật tế lễ thần Hà Bá thời vua Gia Long và Minh Mạng như sau:“Năm Gia Long thứ 14, theo lời chuẩn tâu cho doanh Quảng Đức làm miếu Hà Bá ở cửa biển Thuận Trực thuộc xã Hà Trung, hằng năm vào 2 tháng trọng xuân, trọng thu, sau khi tế ở miếu Hội đồng 1 ngày thì tế, lễ vật là 1 con heo, 1 mâm xôi, do 1 viên quan ở dinh Quảng Đức khâm mạng đến tế. Lại chuẩn cấp 2 người thực có tên trong sổ ở xã làm người hầu hạ. Năm Minh Mạng thứ 9, chuẩn lời nghị: Ở chỗ sông Lô, sông Thao 2 sông gặp nhau thuộc trấn Sơn Tây, chọn chỗ làm miếu Hà Bá, hằng năm cứ mùa xuân và mùa thu đến tế, lễ phẩm bằng 1 con trâu, 1 con lợn, 1 mâm xôi, 2 mâm quả phẩm, do quan ở trấn ấy đội mũ, mặc áo triều phục thường làm lễ. Phàm hằng năm sau tiết sương giáng, đều mừng được yên sóng, sẽ có chỉ riêng phát hương lụa trong kho để lễ tạ, lễ phẩm cũng như tế xuân và tế thu”. Và việc ban sắc phong thăng trật cho thần Hà Bá: Năm Minh Mạng đầu… Lại xuống chỉ chuẩn cho: Vị thần ở cửa biển Thuận An làm hạng trên, vị thần ở cửa bể Tư Hiền, vị thần Hà bá đều làm hạng giữa, sắc phong đều 1 đạo, miếu thần Hà Bá ở cửa Thuận Trực sắc phong 1 đạo
Như vậy, Hà Bá chính là một vị thần chuyên cai quản ở vùng sông nước xuất hiện trong tín ngưỡng dân gian. Thủy thần Hà Bá không được thờ rộng rãi mà chỉ được người thờ ở những ven sông để cầu cho mọi người không gặp nạn trên sông và cầu cho mọi người bắt được nhiều cá trong mùa mưa.
Tại Hà Nội có một số di tích thờ thần Hà Bá như: đình Trung Lập, đền Hà Bá, đình Liễu Nội… Tại đình Cấn Giang hiện còn lưu giữ một đạo sắc phong ban cho thần Hà Bá năm Khải Định thứ 9 (1924) như sau: “Sắc Sơn Tây tỉnh, Quốc Oai phủ, Cấn Xá xã, Thủy Cư thôn phụng sự Đại Hải Long Vương Hà Bá thủy thần tôn thần hộ quốc tí dân nẫm trứ”. Đây là minh chứng lịch sử ghi nhận việc thờ tự hợp pháp vị thần này trong quá khứ. Từ đó, giúp chúng ta hiểu hơn về tín ngưỡng thờ tự vị thần này và những thay đổi trong cách tiếp nhận tín ngưỡng này trong đời sống văn hóa của người dân hiện tại.



